Dự cuộc tiếp còn có ông Tiêu Chí Hiền, Chủ tịch Temasek Holdings, kiêm Cố vấn cao cấp Văn phòng Thủ tướng Singapore, nguyên Phó thủ tướng Singapore.
Bộ trưởng cao cấp, Cố vấn cấp cao của Đảng Hành động nhân dân Singapore, nguyên Thủ tướng Lý Hiển Long vui mừng gặp lại Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; đánh giá cao nội dung phát biểu dẫn đề của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Đối thoại Shangri-La, thể hiện tầm nhìn, trách nhiệm cao đối với các vấn đề chung của khu vực, góp phần mở ra tư duy mới trong quản trị khủng hoảng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ trân trọng và ghi nhận những đóng góp hết sức quan trọng của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu và Bộ trưởng cao cấp, Cố vấn cấp cao, nguyên Thủ tướng Lý Hiển Long đối với quá trình xây dựng, phát triển và làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, hợp tác tốt đẹp giữa hai nước trong nhiều thập kỷ qua, góp phần đưa quan hệ Việt Nam – Singapore trở thành một trong những hình mẫu hợp tác năng động, hiệu quả hàng đầu trong ASEAN.
Hài lòng trước sự phát triển tích cực, thực chất và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực hợp tác giữa hai nước sau một năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Singapore, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và nguyên Thủ tướng Lý Hiển Long đã trao đổi về một số phương hướng làm sâu sắc quan hệ hai nước trong giai đoạn phát triển mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Singapore tiếp tục quan tâm, hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực đào tạo cán bộ, chia sẻ kinh nghiệm về cải cách hành chính, nâng cao năng lực và hoạt động hiệu quả của bộ máy nhà nước và hoàn thiện chính sách, cơ chế trong những lĩnh vực phát triển mới.
Ông Lý Hiển Long đánh giá cao việc thiết lập cơ chế Đối thoại chiến lược giữa Đảng Hành động nhân dân Singapore và Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định trên cương vị Cố vấn cấp cao của Đảng Hành động nhân dân Singapore, ông sẽ tiếp tục ủng hộ đẩy mạnh quan hệ hợp tác giữa hai Đảng và thúc đẩy việc triển khai các chương trình hợp tác quan trọng giữa hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và nguyên Thủ tướng Lý Hiển Long nhất trí cho rằng trong bối cảnh tình hình thế giới biến động phức tạp, hai nước cần tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa, vì sự phát triển của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực Đông Nam Á.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trao đổi với báo chí trước chuyến công tác của Thủ tướng Lê Minh Hưng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Hoàng Giang, Trưởng SOM ASEAN VN, khẳng định, đây là chuyến công tác có ý nghĩa rất đặc biệt, là chuyến công tác đầu tiên của Thủ tướng Chính phủ trên cương vị mới tới Nga, một đối tác có quan hệ hữu nghị truyền thống, gắn bó và là Đối tác chiến lược toàn diện của VN.
Tiếp nối những đóng góp chủ động, trách nhiệm của VN tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines và việc đăng cai thành công Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ 3 (AFF 2026) vừa qua, Thứ trưởng Đặng Hoàng Giang cho rằng sự tham dự của Thủ tướng Lê Minh Hưng tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Nga lần này tiếp tục thể hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XIV.
"Đây cũng là thông điệp rõ ràng về sự coi trọng của VN đối với quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - Nga, cũng như đối với quan hệ hữu nghị truyền thống, lòng tin chiến lược và sự hợp tác hiệu quả giữa VN và Nga trong suốt nhiều thập kỷ qua", ông Giang khẳng định.
Mục tiêu xuyên suốt của chuyến công tác là phát huy vai trò "cầu nối" của VN, thúc đẩy đồng thuận và đóng góp những định hướng thiết thực, tạo thêm động lực mới cho quan hệ ASEAN - Nga. Điều này càng có ý nghĩa khi VN thời gian qua đã đóng vai trò then chốt tạo dựng đồng thuận trong ASEAN về việc tổ chức hội nghị cấp cao lần này, đồng thời sẽ đảm nhiệm vai trò nước điều phối quan hệ ASEAN - Nga giai đoạn 2027 - 2030.
"Nói cách khác, đây không chỉ là việc tham dự một hội nghị cấp cao, mà còn là bước chuẩn bị quan trọng để VN đóng góp sâu hơn vào định hình hợp tác ASEAN - Nga trong những năm tới. Trên tinh thần đó, VN sẽ tập trung vào một số ưu tiên lớn", Thứ trưởng Đặng Hoàng Giang chia sẻ.
Trước hết, VN sẽ cùng các nước thúc đẩy cách tiếp cận thực chất, cân bằng và hướng tới kết quả cụ thể trong hợp tác ASEAN - Nga. Trọng tâm là khơi thông các lĩnh vực có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác đầy đủ. "VN cũng sẽ thúc đẩy những sáng kiến có tính khả thi cao, phù hợp với nhu cầu của ASEAN, thế mạnh của Nga và đáp ứng yêu cầu của tình hình hiện nay", ông Giang cho biết.
Bên cạnh đó, VN mong muốn góp phần mở rộng không gian hợp tác giữa ASEAN với khu vực Á - Âu. Là nước ASEAN đi đầu trong hợp tác với Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) với việc ký kết FTA VN - EAEU năm 2015, VN có kinh nghiệm thực tiễn để chia sẻ trong thúc đẩy thương mại, đầu tư, logistics, chuỗi cung ứng và kết nối doanh nghiệp. Đây là hướng hợp tác có ý nghĩa thiết thực, giúp quan hệ ASEAN - Nga không chỉ dừng ở trao đổi chính trị, mà còn tạo thêm lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp, địa phương và người dân hai bên.
VN cũng sẽ cùng các nước trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế, nhất là những vấn đề đang tác động trực tiếp tới hòa bình, ổn định, an ninh năng lượng, chuỗi cung ứng và phát triển. Với tinh thần đối thoại, xây dựng và tôn trọng luật pháp quốc tế, VN mong muốn góp phần tăng cường hiểu biết, thu hẹp khác biệt và củng cố lòng tin giữa ASEAN với Nga cũng như giữa các đối tác trong khu vực.
Nhân dịp tham dự hội nghị, Thủ tướng Lê Minh Hưng dự kiến có cuộc hội kiến với Tổng thống Nga Vladimir Putin và làm việc với người đứng đầu Cộng hòa Tatarstan. Cuộc hội kiến sẽ là dịp quan trọng để truyền tải thông điệp của Chính phủ nhiệm kỳ mới về việc tiếp tục coi trọng và thúc đẩy quan hệ VN - Nga; đồng thời trao đổi các định hướng lớn mang tính đột phá, trọng tâm hợp tác và các biện pháp tháo gỡ vướng mắc nhằm triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao đã đạt được.
Thứ trưởng Đặng Hoàng Giang cho rằng Hội nghị cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga diễn ra trong bối cảnh thế giới và khu vực đang chứng kiến những biến động lớn chưa từng có kể từ sau chiến tranh lạnh, thể hiện qua "3 cuộc khủng hoảng mang tính nền tảng: khủng hoảng về trật tự quốc tế, khủng hoảng về mô hình phát triển và khủng hoảng về lòng tin chiến lược" như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhận định trong phát biểu tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 vừa qua.
Hội nghị thể hiện cam kết chính trị ở cấp cao nhất của hai bên đối với mối quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - Nga, cho thấy sự coi trọng của Nga đối với vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc hợp tác ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cũng như sự coi trọng của ASEAN đối với vai trò và vị thế của Nga ở khu vực và trên thế giới.
Đồng thời, hội nghị là biểu tượng minh chứng cho việc đối thoại và hợp tác luôn là phương thức hữu hiệu nhất đóng góp vào kiến tạo môi trường hòa bình, an ninh và ổn định phục vụ cho phát triển.
Trên cơ sở đó, theo Thứ trưởng Đặng Hoàng Giang, Hội nghị cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga sẽ tập trung vào 3 trọng tâm lớn.
Thứ nhất, rà soát toàn diện quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - Nga thời gian qua, đánh giá những kết quả đạt được, nhận diện những hạn chế, rào cản hợp tác, đề xuất các định hướng mới, lĩnh vực trọng tâm, biện pháp đột phá để tăng cường hợp tác thực chất, cùng có lợi trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là an ninh năng lượng, cũng như khai thác các cơ hội tăng cường liên kết, hội nhập, tạo không gian phát triển mới giữa hai khu vực Á - Âu.
Thứ hai, các lãnh đạo ASEAN - Nga sẽ trao đổi sâu rộng về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm nhằm tăng cường hiểu biết, củng cố lòng tin chiến lược, cùng ứng phó các thách thức chung trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Thứ ba, hội nghị dự kiến sẽ thông qua các văn kiện bản lề định hướng hợp tác ASEAN - Nga trong giai đoạn tới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển của cả ASEAN và Nga trong tình hình mới.
"Tôi tin tưởng rằng với ý nghĩa đặc biệt, chương trình làm việc phong phú và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của VN, chuyến công tác tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga của Thủ tướng Lê Minh Hưng sẽ thành công tốt đẹp, tiếp tục khẳng định hình ảnh một VN chủ động, trách nhiệm, là cầu nối tin cậy trong ASEAN và là đối tác thủy chung, chân thành của Nga", Thứ trưởng Đặng Hoàng Giang khẳng định.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Giải pháp cốt lõi nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số

Sự phát triển bùng nổ của công nghệ số, internet và mạng xã hội đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có môi trường hình thành, lan tỏa và tác động của dư luận xã hội.
Nếu như trước đây, dư luận xã hội chủ yếu được hình thành thông qua các kênh giao tiếp trực tiếp, báo chí truyền thống hoặc các tổ chức chính trị - xã hội, thì ngày nay, không gian mạng đã trở thành môi trường quan trọng sản sinh, tương tác, lan truyền và khuếch đại dư luận.
Trong bối cảnh đó, công tác dư luận xã hội đứng trước cả thời cơ và thách thức mới. Đổi mới công tác dư luận xã hội không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi số quốc gia, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng vững chắc "thế trận lòng dân", góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Điểm nổi bật nhất của dư luận xã hội hiện nay là tốc độ hình thành và lan truyền thông tin diễn ra với quy mô rất lớn, cường độ rất nhanh. Chỉ một sự kiện, một phát ngôn, một đoạn video ngắn hoặc một thông tin chưa được kiểm chứng cũng có thể nhanh chóng thu hút hàng triệu lượt tiếp cận, bình luận, chia sẻ và tạo thành làn sóng dư luận mạnh mẽ trong xã hội.
Không gian mạng đã làm thay đổi căn bản cấu trúc truyền thông xã hội. Từ chỗ công chúng chủ yếu tiếp nhận thông tin một chiều, ngày nay mỗi người dân vừa là người tiếp nhận, vừa là người sản xuất, bình luận, lan truyền và tác động đến thông tin. Điều này làm cho dư luận xã hội trở nên đa chiều hơn, dân chủ hơn, nhưng cũng phức tạp hơn, khó dự báo hơn.
Một đặc điểm đáng chú ý là ranh giới giữa thông tin chính thống và thông tin phi chính thống ngày càng trở nên mong manh. Bên cạnh những giá trị tích cực mà môi trường số mang lại, tình trạng tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin độc hại, xuyên tạc, kích động vẫn diễn biến phức tạp.
Nhiều vụ việc xã hội cho thấy, nếu thông tin chính thống chậm được cung cấp hoặc thiếu sức thuyết phục thì rất dễ tạo khoảng trống thông tin, làm phát sinh tâm lý hoài nghi, gây nhiễu loạn dư luận và tác động tiêu cực đến niềm tin xã hội.
Thực tiễn cũng cho thấy, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tác động vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Những biến đổi đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chủ động, chuyên nghiệp, dựa trên nền tảng số và bám sát đời sống nhân dân.
Những năm qua, công tác dư luận xã hội đã có nhiều đổi mới tích cực. Hệ thống tổ chức, mạng lưới cộng tác viên từ Trung ương đến cơ sở tiếp tục được củng cố; việc nắm bắt, tổng hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân ngày càng được quan tâm. Nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm đã được phát hiện sớm, góp phần giúp cấp ủy, chính quyền kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xử lý.
Hoạt động điều tra xã hội học, khảo sát dư luận từng bước được mở rộng. Một số cơ quan, địa phương đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi, phân tích thông tin trên báo chí và mạng xã hội. Công tác dư luận xã hội ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò là kênh tham mưu quan trọng trong công tác tư tưởng, dân vận, truyền thông chính sách và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, công tác dư luận xã hội vẫn còn những hạn chế đáng lưu ý. Ở nhiều nơi, công tác này vẫn chủ yếu dừng ở việc phản ánh tình hình, chưa chú trọng đúng mức đến phân tích chuyên sâu, dự báo xu hướng và tham mưu chính sách. Không ít báo cáo còn nặng về mô tả hiện tượng, thiếu đánh giá bản chất, nguyên nhân và dự báo tác động.
Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác dư luận xã hội còn chậm, thiếu đồng bộ. Nhiều địa phương vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công, trong khi dư luận trên không gian mạng biến động từng giờ, từng phút.
Cơ chế phối hợp giữa công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách, công tác dân vận, hoạt động giám sát và phản biện xã hội ở một số nơi còn thiếu chặt chẽ. Nhiều thông tin phản ánh từ cơ sở chưa được xử lý, phản hồi kịp thời, làm giảm hiệu quả tạo đồng thuận xã hội.
Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chưa đồng đều; kỹ năng phân tích dữ liệu, khai thác thông tin số, nhận diện và xử lý các vấn đề phát sinh trên không gian mạng còn hạn chế. Đây là điểm nghẽn cần sớm được khắc phục nếu muốn nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, công tác dư luận xã hội cần được đổi mới toàn diện cả về tư duy, phương thức, công nghệ và tổ chức thực hiện. Đây không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ của công tác tuyên giáo, dân vận, mà còn là yêu cầu chính trị quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận trong nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu mới, cần tập trung thực hiện đồng bộ 5 giải pháp cốt lõi sau:
Một là, đổi mới mạnh mẽ tư duy về công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính nền tảng. Cần chuyển từ tư duy "nắm bắt và phản ánh dư luận" sang tư duy "quản trị dư luận xã hội trong môi trường số". Sự chuyển đổi này không có nghĩa là hành chính hóa hay áp đặt đối với dư luận xã hội, mà là nâng cao năng lực lắng nghe, phân tích, dự báo, định hướng và tham mưu xử lý các vấn đề xã hội một cách chủ động, khoa học, thuyết phục.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ nhằm biết nhân dân đang quan tâm điều gì, mà quan trọng hơn là phải nhận diện được vì sao vấn đề đó được quan tâm, nhóm xã hội nào đang chịu tác động, mức độ lan tỏa đến đâu, xu hướng diễn biến ra sao, nguy cơ bị lợi dụng như thế nào và cần tham mưu giải pháp gì để xử lý từ sớm, từ xa.
Nếu chỉ dừng lại ở phản ánh hiện tượng, công tác dư luận xã hội sẽ luôn đi sau thực tiễn; nếu có năng lực phân tích và dự báo, công tác này sẽ trở thành công cụ quan trọng giúp cấp ủy, chính quyền chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Do đó, cần coi dư luận xã hội là một nguồn dữ liệu quan trọng trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách công. Mỗi chủ trương, chính sách lớn, nhất là những chính sách tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân, đều cần được nhìn nhận từ góc độ dư luận xã hội: Nhân dân hiểu thế nào, đồng thuận đến đâu, băn khoăn điều gì, vướng mắc ở khâu nào, cần điều chỉnh ra sao. Đây chính là cơ sở để chính sách đi vào cuộc sống, hạn chế khoảng cách giữa chủ trương đúng với tổ chức thực hiện hiệu quả.
Công tác dư luận xã hội vì vậy phải trở thành một bộ phận hữu cơ của phương thức lãnh đạo, quản lý hiện đại: lãnh đạo phải dựa vào dân, lắng nghe dân, hiểu dân, thuyết phục dân và tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng, giám sát, hoàn thiện chính sách.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính đột phá, quyết định khả năng thích ứng của công tác dư luận xã hội trong bối cảnh mới. Khi dư luận xã hội hình thành và lan truyền chủ yếu trên môi trường số, nếu công tác nắm bắt dư luận vẫn chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công, phân tán, chậm cập nhật thì sẽ khó theo kịp tốc độ biến động của thực tiễn.
Cần khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống dữ liệu chuyên ngành về dư luận xã hội theo hướng thống nhất, liên thông, có khả năng cập nhật, phân tích và khai thác hiệu quả. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành các trung tâm hoặc bộ phận phân tích, dự báo dư luận xã hội trên nền tảng số, có khả năng theo dõi, tổng hợp, phân loại, đánh giá các dòng thông tin lớn trên báo chí, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ phân tích cảm xúc, phân tích xu hướng thông tin, nhận diện chủ đề nóng, phát hiện bất thường trong dòng chảy thông tin. Những công cụ này giúp phát hiện sớm các vấn đề nổi lên, cảnh báo nguy cơ phát sinh điểm nóng, nhận diện thông tin sai lệch, xuyên tạc, kích động, từ đó hỗ trợ cơ quan chức năng tham mưu giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, truyền thông và xử lý chính sách phù hợp.
Tuy nhiên, chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội không chỉ là đầu tư phần mềm, thiết bị hay lập thêm hệ thống kỹ thuật. Điều quan trọng hơn là phải đổi mới quy trình làm việc, cơ chế phối hợp, phương pháp phân tích và năng lực sử dụng dữ liệu. Dữ liệu chỉ có giá trị khi được phân tích đúng, đặt trong bối cảnh chính trị - xã hội cụ thể và chuyển hóa thành kiến nghị chính sách có tính khả thi.
Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ "đi sau phản ánh" sang "đi trước dự báo"; từ xử lý bị động sang chủ động nhận diện, phòng ngừa rủi ro xã hội; từ báo cáo tình hình sang kiến tạo giải pháp, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong môi trường số.
Ba là, gắn chặt công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi xã hội.
Thực tiễn cho thấy, nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách không phải lúc nào cũng xuất phát từ bản thân chính sách, mà có khi bắt nguồn từ việc thông tin chưa đầy đủ, truyền thông chưa đúng thời điểm, thiếu đối thoại, thiếu giải thích hoặc chậm phản hồi trước những băn khoăn chính đáng của người dân. Trong môi trường số, khoảng trống thông tin rất dễ bị lấp đầy bởi suy đoán, tin giả, thông tin sai lệch hoặc luận điệu xuyên tạc.
Vì vậy, công tác dư luận xã hội phải gắn chặt với truyền thông chính sách ngay từ khâu xây dựng, ban hành đến tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Trước khi ban hành những chính sách lớn, có tác động rộng đến đời sống nhân dân, cần coi trọng khảo sát, đánh giá tác động dư luận xã hội, nhận diện các nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng, dự báo những vấn đề có thể phát sinh, từ đó có phương án truyền thông, giải thích và tạo đồng thuận phù hợp.
Trong quá trình thực hiện chính sách, cần thường xuyên lắng nghe phản hồi từ nhân dân, nhất là những ý kiến khác biệt, những băn khoăn, vướng mắc từ cơ sở. Thông tin phản ánh từ dư luận xã hội phải được tiếp nhận, phân loại, xử lý và phản hồi kịp thời; tránh tình trạng chỉ thu thập thông tin để báo cáo mà chưa gắn với trách nhiệm giải quyết.
Truyền thông chính sách trong thời đại số phải bảo đảm ba yêu cầu: nhanh, đúng và thuyết phục. Nhanh để không tạo khoảng trống thông tin; đúng để bảo đảm tính chính xác, chính thống; thuyết phục để người dân hiểu, chia sẻ và đồng thuận. Chính sách tốt không chỉ đúng về mục tiêu, đúng về pháp lý, mà còn phải được truyền thông đúng cách, được nhân dân hiểu đúng, đồng tình và tích cực tham gia thực hiện.
Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt, định hướng và tạo đồng thuận xã hội.
Trong công tác dư luận xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng. Với chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; thực hiện giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận có điều kiện và trách nhiệm trở thành một kênh quan trọng nắm bắt, phản ánh và tham mưu xử lý các vấn đề dư luận xã hội.
Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động đổi mới phương thức nắm bắt dư luận theo hướng sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe thực chất tiếng nói của nhân dân. Cần kết hợp giữa nắm bắt qua hệ thống tổ chức, qua đội ngũ cán bộ cơ sở, qua tiếp xúc cử tri, giám sát, phản biện xã hội, với việc khai thác các kênh thông tin trên môi trường số. Qua đó, phản ánh trung thực, khách quan, kịp thời tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Thông qua giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận cần góp phần phát hiện sớm những bất cập trong cơ chế, chính sách, những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện ở cơ sở. Đây là cơ sở quan trọng để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, không để những bức xúc nhỏ tích tụ thành mâu thuẫn lớn, không để các vấn đề dân sinh trở thành điểm nóng xã hội.
Trong thời đại số, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cũng cần phát huy vai trò định hướng, lan tỏa thông tin tích cực, củng cố đồng thuận xã hội trên không gian mạng. Mỗi cán bộ Mặt trận, đoàn thể, đoàn viên, hội viên cần trở thành một chủ thể tích cực trong tuyên truyền, giải thích chính sách, phản ánh tiếng nói từ cơ sở, đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu thời đại số.
Công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của con người. Chất lượng công tác dư luận xã hội trước hết phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ. Trong bối cảnh mới, cán bộ làm công tác dư luận xã hội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy phân tích sắc bén, năng lực dự báo tốt, am hiểu thực tiễn xã hội và có khả năng sử dụng công nghệ số.
Cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này theo hướng tích hợp ba nhóm năng lực: năng lực chính trị, năng lực xã hội học và năng lực số. Năng lực chính trị để nhận diện đúng tính chất của vấn đề, phân biệt giữa bức xúc chính đáng của nhân dân với hành vi lợi dụng, kích động, chống phá. Năng lực xã hội học để khảo sát, phân tích, đánh giá tâm trạng xã hội một cách khoa học. Năng lực số để khai thác dữ liệu, sử dụng công cụ phân tích truyền thông, theo dõi xu hướng thông tin và tham mưu trong môi trường số.
Cùng với đội ngũ chuyên trách, cần củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội. Mạng lưới này phải đa dạng, có chiều sâu, bao gồm cán bộ cơ sở, trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo, người có uy tín, doanh nhân, công nhân, nông dân, thanh niên và lực lượng nòng cốt trên không gian mạng. Đây là lực lượng quan trọng giúp công tác dư luận xã hội bám sát đời sống, phản ánh được nhiều chiều cạnh của thực tiễn, nhất là những vấn đề đang hình thành từ cơ sở.
Tựu trung lại, 5 giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ, thực chất, có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, đổi mới tư duy là tiền đề; chuyển đổi số là khâu đột phá; truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi là điều kiện bảo đảm hiệu quả; phát huy vai trò Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội là nền tảng để bám sát Nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ là nhân tố then chốt quyết định chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ là công cụ nắm bắt tâm trạng xã hội mà còn là phương thức quan trọng để củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội và xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.
Ở đâu cấp ủy, chính quyền biết lắng nghe nhân dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề nhân dân quan tâm, ở đó niềm tin xã hội được củng cố. Ngược lại, nếu xa dân, thiếu thông tin, chậm phản hồi hoặc né tránh những vấn đề bức xúc thì rất dễ tạo khoảng trống để thông tin xấu độc len lỏi, tác động tiêu cực đến xã hội.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đổi mới công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, số hóa và lấy nhân dân làm trung tâm không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà còn là yêu cầu chính trị cấp thiết nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Thủ tướng Lê Minh Hưng và Đoàn đại biểu cấp cao VN đã tham dự các sự kiện này.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của hội nghị với việc ASEAN bước vào giai đoạn phát triển mới trên cơ sở Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045.
Tại Phiên họp toàn thể ngay sau lễ khai mạc, các nhà lãnh đạo ASEAN chia sẻ đánh giá về các tác động tiêu cực của những biến động địa chính trị phức tạp trên thế giới, nhất là xung đột ở Trung Đông, đối với hòa bình, ổn định, chuỗi cung ứng năng lượng quốc tế, đe dọa tính mạng dân thường. Các nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định và các nguyên tắc quan trọng về thúc đẩy đối thoại, giải quyết hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương LHQ.
Các nhà lãnh đạo cũng chia sẻ và ủng hộ các định hướng và ưu tiên của Philippines cho hợp tác ASEAN trong năm 2026 với chủ đề "Cùng chèo lái tương lai chung" với 3 trọng tâm lớn, bao gồm hợp tác ứng phó với các thách thức phi truyền thống làm mỏ neo cho hòa bình và ổn định khu vực; lấy kết nối kinh tế, số hóa, phát triển bao trùm và bền vững làm động lực phát triển hành lang thịnh vượng; và lấy người dân ASEAN là trọng tâm cho phát triển cộng đồng.
Các nhà lãnh đạo ASEAN cũng nhấn mạnh trong bối cảnh hiện nay, các nước ASEAN cần tiếp tục củng cố đoàn kết, vai trò trung tâm, tăng cường và mở rộng hợp tác với các đối tác, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả triển khai các kế hoạch và chương trình hợp tác, nhất là về bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, ổn định kinh tế, bảo đảm chuỗi cung ứng và hỗ trợ người dân ASEAN.
Phát biểu tại Phiên họp toàn thể, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định sự ủng hộ và cam kết hợp tác của VN với Chủ tịch Philippines và các nước thành viên để hiện thực hóa các ưu tiên, sáng kiến của Philippines trong năm 2026.
Nhấn mạnh trước những thách thức mang tính liên thông, đa chiều, câu hỏi đặt ra đối với ASEAN không phải là "có bị ảnh hưởng hay không?" mà là ASEAN sẽ "ứng phó như thế nào và ứng phó cùng nhau ra sao?", Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu 3 đề xuất lớn.
Theo đó, trước hết, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho rằng cần tập trung nguồn lực nhằm đảm bảo các nhu cầu an ninh thiết yếu bao gồm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh con người, trong đó có phê chuẩn và triển khai hiệu quả Hiệp định An ninh Dầu khí ASEAN, thực hiện thực chất Kế hoạch Hành động Hợp tác Năng lượng ASEAN giai đoạn 2026 - 2030, Lưới điện ASEAN và Hệ thống Đường ống dẫn khí ASEAN; đa dạng hóa các nguồn năng lượng, thúc đẩy chuyển đổi năng lượng, tăng cường tiếp cận tài chính xanh và công nghệ tiên tiến; nâng cao hiệu quả các khuôn khổ và thỏa thuận về an ninh lương thực hiện có, tăng cường dự trữ chiến lược và thiết lập cơ chế dự trữ khẩn cấp, chuyên biệt đối với gạo và các mặt hàng thiết yếu khác.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định VN sẵn sàng hỗ trợ lương thực trong các tình huống khẩn cấp, chia sẻ kinh nghiệm liên quan với các quốc gia thành viên ASEAN và sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các quốc gia thành viên ASEAN trong công tác hỗ trợ công dân.
Thứ hai, Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị thúc đẩy hợp tác thực chất nhằm tăng cường năng lực nội tại và khả năng chống chịu của ASEAN. Theo đó, cần triển khai hiệu quả Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA) và sớm hoàn tất Hiệp định Khung Kinh tế số ASEAN (DEFA).
Cuối cùng, Thủ tướng Lê Minh Hưng kêu gọi tăng cường phối hợp và đoàn kết ASEAN, trong đó cần nâng cao hiệu quả tham vấn và điều phối liên ngành trong các tình huống khẩn cấp, cũng như tiếp tục phát huy vai trò điều phối của Ban Thư ký ASEAN nhằm bảo đảm các cam kết khu vực được triển khai liên tục, đồng bộ và hiệu quả.
Các đề xuất của VN được các lãnh đạo ASEAN hoan nghênh, đánh giá cao về nội dung và tính kịp thời. Trên cơ sở đề xuất của VN, hội nghị thảo luận, nhất trí ra Tuyên bố Lãnh đạo ASEAN về các hành động ưu tiên củng cố tự cường khu vực ứng phó với các hệ lụy từ tình hình Trung Đông; thể hiện quan điểm chính trị của ASEAN với các hệ lụy tình hình Trung Đông…
Tin Gốc: Thanh Niên

