Chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm lại Ấn Độ trên cương vị mới, ông Ajit Doval khẳng định chuyến thăm là dấu mốc quan trọng, góp phần làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, nhất là trong các lĩnh vực then chốt liên quan đến an ninh và phát triển.
Ông Ajit Doval chia sẻ mặc dù “bất ổn và bất định” là hai từ khóa được nhắc tới nhiều nhất khi nói đến tình hình thế giới, nhưng trong môi trường đó, yếu tố làm ổn định tình hình chính là sự tin cậy và mong muốn cùng phát triển. Do đó rất mong hai nước Việt Nam – Ấn Độ tiếp tục cùng hợp tác, phát triển và đưa quan hệ lên tầm mức mới.
Ông Ajit Doval cũng bày tỏ ấn tượng trước những thành tựu phát triển toàn diện của Việt Nam cũng như vai trò, vị thế ngày càng gia tăng của Việt Nam trên trường quốc tế; đồng thời khẳng định Ấn Độ luôn coi Việt Nam là đối tác quan trọng hàng đầu tại khu vực với những đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển chung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh quan hệ Việt Nam – Ấn Độ được xây dựng trên nền tảng vững chắc của sự tin cậy chính trị, sự tương đồng về tầm nhìn chiến lược và lợi ích phát triển lâu dài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam nhất quán coi trọng và mong muốn tăng cường hơn nữa quan hệ với Ấn Độ; đồng thời, ủng hộ Ấn Độ phát huy vai trò ngày càng lớn trong các cơ chế khu vực và toàn cầu.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chia sẻ, mặc dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, nhưng quan hệ Việt Nam – Ấn Độ vẫn luôn bền chặt và chuyến thăm lần này chính là minh chứng cho sự hợp tác hữu nghị truyền thống, đóng góp cho hoà bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng, với tiềm năng rất lớn, hai bên cần hợp tác thực chất trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có hợp tác kinh tế khoa học công nghệ, chuyển đối số, công nghệ mới, hợp tác giáo dục, đào tạo, giao lưu nhân dân.
Tại cuộc tiếp xúc, hai bên đánh giá hợp tác an ninh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quan hệ hai nước và nhấn mạnh việc làm sâu sắc hơn nữa phối hợp giữa các cơ quan an ninh, thực thi pháp luật và hoạch định chính sách.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Ấn Độ cần tăng cường chia sẻ thông tin chiến lược, mở rộng hợp tác về an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng số, phòng, chống tội phạm công nghệ cao và nâng cao năng lực ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.
Trên cơ sở quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Ấn Độ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Cố vấn An ninh quốc gia Ấn Độ Ajit Doval đặc biệt nhấn mạnh nhu cầu phối hợp hiệu quả trong đấu tranh chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, lừa đảo trực tuyến và các mối đe dọa mới nổi, qua đó góp phần bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội của mỗi nước.
Hai bên cũng thống nhất thúc đẩy liên kết giữa an ninh và phát triển, mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, năng lượng và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, coi đây là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của mỗi quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gia tăng.
Về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên nhất trí về duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).
Hai bên cũng nhất trí tiếp tục tăng cường tham vấn chiến lược, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, qua đó đóng góp tích cực vào việc định hình một cấu trúc khu vực ổn định, bao trùm và dựa trên luật lệ trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực đang chuyển biến nhanh chóng và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Kết thúc cuộc gặp, hai bên bày tỏ tin tưởng, với nền tảng quan hệ hữu nghị truyền thống, mức độ tin cậy chiến lược cao, quyết tâm chính trị mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước, nhiều điểm tương đồng trong quan điểm, hợp tác Việt Nam – Ấn Độ, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh, sẽ tiếp tục phát triển sâu sắc, thực chất và hiệu quả hơn.
Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. nhấn mạnh chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng, là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đến Philippines và diễn ra đúng dịp hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1976 - 2026).
Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. khẳng định Việt Nam là nước duy nhất trong Đông Nam Á mà Philippines có quan hệ ở tầm mức Đối tác chiến lược, cho thấy sự coi trọng của Philippines đối với mối quan hệ này.
Việc chính thức nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược tăng cường trong chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ củng cố hơn nữa quan hệ song phương, mở ra giai đoạn hợp tác mới trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng - an ninh và các lĩnh vực thực chất khác vì lợi ích nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn làm sâu sắc hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị với Philippines trên tất cả các lĩnh vực trên cơ sở cam kết chung đối với hòa bình, ổn định, thượng tôn luật pháp quốc tế.
Tại hội đàm, hai nhà lãnh đạo bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển tích cực và hiệu quả của quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước kể từ khi được thiết lập năm 2015, đặc biệt sau chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng thống Marcos Jr. tới Việt Nam vào tháng 1.2024. Hai bên nhất trí ra tuyên bố chung nâng tầm quan hệ Việt Nam - Philippines lên Đối tác chiến lược tăng cường, mở ra kỷ nguyên phát triển mới cho hợp tác song phương.
Với việc nâng tầm khuôn khổ quan hệ lên Đối tác chiến lược tăng cường, hai bên nhất trí phối hợp cùng xây dựng chương trình hành động triển khai khuôn khổ quan hệ mới trong thời gian tới; nhất trí tăng cường tin cậy chính trị, củng cố nền tảng chiến lược vững chắc cho quan hệ hai nước thông qua tăng cường tiếp xúc, trao đổi đoàn cấp cao, phát huy các cơ chế hợp tác, tăng cường quan hệ trên các kênh và giữa các cấp, các ngành và địa phương của hai nước.
Hai bên nhất trí củng cố, thúc đẩy hợp tác thực chất về an ninh - quốc phòng, hợp tác biển, đại dương; bảo đảm tự do hàng hải và hàng không, duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực thông qua các cơ chế phối hợp, chia sẻ kinh nghiệm trong chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU), bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững nghề cá.
Về thương mại, hai bên nhất trí các định hướng lớn để tạo đột phá trong hợp tác kinh tế để mang lại lợi ích thực chất cho người dân và sự phát triển của mỗi nước; nhấn mạnh mục tiêu sớm đạt kim ngạch thương mại 10 tỉ USD, giảm rào cản thương mại, đa dạng hóa xuất khẩu sang các mặt hàng tiềm năng, mở cửa thị trường cho sản phẩm nông nghiệp, trong đó có các trái cây tươi của mỗi nước.
Đồng thời mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế biển, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh hợp tác thương mại nông lâm thủy sản.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. nhất trí thúc đẩy các cơ quan liên quan của hai nước tiếp tục tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp của nước này tham gia đầu tư, tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại tại nước kia.
Khẳng định Việt Nam là đối tác quan trọng của Philippines trong cung cấp phân bón, gạo để bảo đảm an ninh lương thực, Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đề nghị hai bên sớm tổ chức kỳ họp thứ 3 của Ủy ban hỗn hợp thương mại Philippines - Việt Nam; thúc đẩy triển khai các thỏa thuận đã đạt được trong khuôn khổ, quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. khẳng định Philippines hoan nghênh các nhà đầu tư Việt Nam đến tìm hiểu, mở rộng đầu tư trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, y tế, chuyển đổi số,… Philippines sẽ dành nhiều chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư Việt Nam.
Về hợp tác giáo dục - đào tạo, văn hóa và giao lưu nhân dân, Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. mong muốn có thêm ngày càng nhiều du khách Việt Nam đến Philippines và ngược lại; mong muốn hai bên tăng cường trao đổi về giáo dục, hợp tác học thuật giữa các trường đại học hai nước nhất là trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo.
Hai nhà lãnh đạo chia sẻ quan điểm chung thúc đẩy hợp tác thực chất trong một số lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm là phát triển nông nghiệp bền vững, nông nghiệp tái sinh, kết nối hạ tầng cứng, mở thêm các đường bay thẳng, tăng cường hợp tác giữa một số cặp cảng tiêu biểu; chia sẻ kinh nghiệm về chuyển đổi số, xây dựng chính phủ số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phát triển đô thị thông minh.
Về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS) 1982; tích cực phối hợp với các nước ASEAN thúc đẩy đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.
Hai nhà lãnh đạo nhất trí thúc đẩy các bộ, ngành và địa phương hai nước phối hợp chặt chẽ, triển khai hiệu quả các thỏa thuận đã đạt được giữa lãnh đạo hai nước, góp phần đưa quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường Việt Nam - Philippines vào giai đoạn phát triển mới.
Ngày 22.5, theo thông cáo của Bộ Ngoại giao, nhận lời mời của Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul và phu nhân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm chính thức Thái Lan từ ngày 27 - 29.5.
Theo Bộ Ngoại giao, quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước phát triển tích cực. Thái Lan coi trọng củng cố và phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp với Việt Nam. Hai bên triển khai đều đặn các hoạt động tiếp xúc cấp cao.
Về thương mại, Thái Lan hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 22,1 tỉ USD, tăng 9% so với năm 2024; trong đó ta xuất khẩu đạt 8,8 tỉ USD, tăng 12,7%; nhập khẩu đạt 13,3 tỉ USD, tăng 6,7%.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 8,6 tỉ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó Việt Nam xuất khẩu 3,76 tỉ USD (tăng 39%); nhập khẩu gần 4,84 tỉ USD (tăng 15%).
Về đầu tư, Thái Lan hiện có 797 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 15,4 tỉ USD, đứng thứ 8/153 quốc gia có đầu tư tại Việt Nam và đứng thứ 2 trong số các nước ASEAN có đầu tư vào Việt Nam.
Việt Nam có khoảng hơn 20 dự án đầu tư còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký khoảng 40 triệu USD.
Hợp tác quốc phòng - an ninh: hai bên duy trì hiệu quả các cơ chế song phương; phối hợp chống tội phạm xuyên quốc gia, đào tạo, hợp tác không quân, hải quân; duy trì tuần tra chung trên biển…
Về lao động, hai bên đang thúc đẩy ký mới thỏa thuận tuyển dụng lao động (ký năm 2015) nhằm tạo cơ chế cho lao động phổ thông của Việt Nam được tiếp nhận sang làm việc tại Thái Lan.
Hợp tác du lịch, văn hóa, giao lưu nhân dân phát triển tốt. Năm 2024, có hơn 984.000 khách du lịch Việt Nam thăm Thái Lan và hơn 418.000 khách Thái Lan đến Việt Nam. Năm 2025, có hơn 660.300 khách du lịch Việt Nam thăm Thái Lan (đứng thứ 17) và gần 458.000 khách Thái Lan đến Việt Nam (đứng thứ 11). Thái Lan đang thúc đẩy sáng kiến hợp tác du lịch “Sáu quốc gia, một điểm đến”. Hiện có 20 tỉnh, thành phố của Việt Nam ký thỏa thuận hợp tác, kết nghĩa với các địa phương Thái Lan.
Việt kiều tại Thái Lan có khoảng hơn 100.000 người, sống rải rác trên khắp Thái Lan, song tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc. Số lượng lưu học sinh và sinh viên Việt Nam đang học tập, nghiên cứu tại Thái Lan khoảng 2.000 - 3.000 người.
Chính phủ Thái Lan đã công nhận địa vị pháp lý của cộng đồng Việt kiều trong cư trú và làm việc. Tại một số địa phương, Việt kiều có vai trò, vị trí và uy tín nhất định trong xã hội. Cộng đồng Việt kiều tại Thái Lan có truyền thống cách mạng, yêu nước, tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh, hướng về quê hương, đất nước và có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất và xây dựng đất nước.
Theo quyết định, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng và thực hiện các nhiệm vụ do Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao.
Đồng thời, đây là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng ở Trung ương.
Quyết định của Bộ Chính trị nêu rõ 18 nhiệm vụ của Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong tham mưu, giúp Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện các nhiệm vụ.
Trong đó, đáng chú ý, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm soát tài sản, thu nhập đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; thực hiện kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Cùng đó, chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, các ban đảng ở Trung ương tham mưu, xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận, hướng dẫn của Đảng.
Tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; kiểm tra lại kết luận, thông báo, quyết định của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Đề xuất ý kiến đóng góp vào sự lãnh đạo, chỉ đạo chung của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Thẩm định các đề án, văn bản của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội về những nội dung liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng...
Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương có quyền được kết nối cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ sở dữ liệu khác để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát; việc truy cập, sử dụng cơ sở dữ liệu thực hiện theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Lãnh đạo Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm thủ trưởng và các phó thủ trưởng cơ quan.
Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương là Thủ trưởng Cơ quan, các phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương là phó thủ trưởng Cơ quan, trong đó phân công phó chủ nhiệm thường trực là phó thủ trưởng thường trực Cơ quan.
Cơ cấu tổ chức của Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm Vụ Địa bàn I (Vụ I), Vụ Địa bàn IA (Vụ IA), Vụ Địa bàn II (Vụ II), Vụ Địa bàn IIA (Vụ IIA), Vụ Địa bàn III (Vụ III), Vụ Địa bàn V (Vụ V), Vụ Địa bàn VI (Vụ VI), Vụ Địa bàn VII (Vụ VII), Vụ Địa bàn VIII (Vụ VIII), Vụ Tổng hợp, Vụ Nghiên cứu, Đào tạo nghiệp vụ, Văn phòng.
Biên chế của cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương do Bộ Chính trị quyết định trên cơ sở đề xuất của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Ban Tổ chức Trung ương.
Khi cần thiết, cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương được trưng tập cán bộ phục vụ việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng và công tác nghiên cứu.