Sáng 6.5 (giờ địa phương), lễ đón chính thức Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã được tổ chức trọng thể tại Phủ Tổng thống Ấn Độ. Tổng thống Ấn Độ Droupadi Murmu và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cùng chủ trì lễ đón.
Tham dự lễ đón có nhiều quan chức cao cấp Ấn Độ và các thành viên đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ.
Đoàn kỵ binh hộ tống xe của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiến vào Phủ Tổng thống trong tiếng âm vang của 21 loạt đại bác chào mừng. Tổng thống Ấn Độ Droupadi Murmu và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại nơi đỗ xe.
Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bước lên bục danh dự, dưới quốc kỳ Việt Nam và quốc kỳ Ấn Độ, quốc thiều hai nước được quân nhạc cử lên. Đội trưởng Đội Danh dự Quân đội Ấn Độ báo cáo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; đội danh dự diễu binh qua bục danh dự.
Sau diễu binh, Tổng thống Ấn Độ Droupadi Murmu và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm giới thiệu cho nhau thành phần đoàn dự lễ đón.
Kết thúc lễ đón, Tổng thống Ấn Độ Droupadi Murmu và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chụp ảnh với các sinh viên, quần chúng Ấn Độ.
Những năm qua, quan hệ Việt Nam – Ấn Độ phát triển ổn định, nhất quán, ngày càng đi vào chiều sâu, đặc biệt việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Ấn Độ từ năm 2016 đã tạo bước chuyển về chất.
Hiện nay, hai nước có hơn 20 cơ chế hợp tác song phương trên các lĩnh vực và đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác quan trọng định hướng cho quan hệ. Hợp tác kinh tế – thương mại tăng trưởng rất tích cực, với kim ngạch thương mại song phương đạt khoảng 15 – 16 tỉ USD/năm trong giai đoạn gần đây.
Ấn Độ hiện nằm trong nhóm 10 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Đầu tư hai chiều tiếp tục mở rộng với gần 500 dự án, đồng thời còn nhiều dư địa để hai nước tiếp tục có những bước hợp tác bứt phá.
Đặc biệt, Việt Nam và Ấn Độ đang mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực mới như khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch và dữ liệu vệ tinh.
Bên cạnh đó, trao đổi văn hóa, giao lưu nhân dân của hai nước cũng đang có bước phát triển mạnh mẽ. Hai nước cũng thường xuyên phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế.
Chuyến thăm cấp nhà nước lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến Ấn Độ cũng là minh chứng rõ nét của đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta trong kỷ nguyên mới mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. Đó là độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Shangri-La 23

CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO HÒA BÌNH - ỔN ĐỊNH - PHÁT TRIỂN TRONG MỘT THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Thưa Ngài Lawrence Wong, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore,
Thưa Tiến sĩ Bastian Giegerich, Tổng giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS),
Thưa quý vị và các bạn!
Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ Singapore và Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế đã dành cho tôi vinh dự phát biểu tại phiên khai mạc của diễn đàn quan trọng này. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đối thoại Shangri-La đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe nghiêm túc và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát. Vì vậy, điều chúng ta cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI. Đồng thời, nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; bởi thực tế cho thấy, nhiều khủng hoảng lớn thường bắt đầu từ những hiểu lầm không được hóa giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời.
Trên tinh thần ấy, tôi muốn chia sẻ chủ đề: Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động.
Thưa quý vị,
Biến động là trạng thái thường trực của thế giới. Nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Trước hết là khủng hoảng trật tự quốc tế. Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi sự điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế; không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc tạo "sự đã rồi".
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm; khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy; khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, "cá lớn nuốt cá bé". Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh; đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh. Những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông cho thấy xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế - xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Hai là khủng hoảng mô hình phát triển. Trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hóa, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự "tròng trành" về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Ba là khủng hoảng lòng tin chiến lược. Đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an. Khi lòng tin suy giảm, một động thái phòng vệ có thể bị diễn giải thành khiêu khích, một khác biệt lợi ích có thể bị đẩy thành đối đầu, một sự cố nhỏ có thể kích hoạt vòng xoáy phản ứng nếu thiếu đối thoại, liên lạc và tự kiềm chế. Lòng tin chiến lược không phải là xóa bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh. Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Công nghệ mới đang làm thách thức này phức tạp hơn. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động và hạ tầng số vừa mở rộng năng lực phát triển cao hơn, vừa có thể khuếch đại nghi kỵ, thao túng thông tin, rút ngắn thời gian ra quyết định và làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Khi công nghệ vượt quá tốc độ của luật lệ và sự kiểm soát của con người, ổn định chiến lược trở nên mong manh hơn. Vì vậy, vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Ba cuộc khủng hoảng nêu trên đang hội tụ rõ nét tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây là trung tâm tăng trưởng năng động của thế giới, nhưng cũng là nơi cạnh tranh chiến lược gay gắt; là không gian của các tuyến hàng hải huyết mạch, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trên biển; là khu vực hưởng lợi sâu từ toàn cầu hóa, nhưng đang chịu sức ép trực tiếp từ phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi công nghệ và cạnh tranh địa kinh tế mới. Chính vì là nơi hội tụ thách thức, châu Á - Thái Bình Dương cũng phải là nơi khởi phát lời giải.
Khu vực này có lợi ích chung trong hòa bình, kết nối và phát triển; có kinh nghiệm hợp tác đa tầng; có ASEAN như một cấu trúc đối thoại và cân bằng; có đủ động lực và quyết tâm không để cạnh tranh trượt thành đối đầu, không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh chia cắt, không để an ninh của nước này thành bất an của nước khác.
Từ cách nhìn đó, tôi xin chia sẻ một số định hướng để cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Thứ nhất, phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự. Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường.
Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng. Trật tự dựa trên luật lệ cũng không thuộc về riêng một nhóm quốc gia nào, mà là nền tảng chung để các nước lớn, vừa và nhỏ cùng tồn tại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và bình đẳng giữa các quốc gia.
Luật lệ chỉ có sức sống khi được thực thi nhất quán và chuyển hóa thành cơ chế cụ thể như cảnh báo sớm, liên lạc khẩn cấp, xử lý sự cố, tự kiềm chế và hợp tác có thể kiểm chứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, là không gian kết nối chung, là huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu.
Đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Thứ hai, cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm. Trong bối cảnh nhiều cơ chế và sáng kiến mới xuất hiện, chúng ta cần xây dựng một cấu trúc có khả năng kết nối lợi ích, giảm nghi kỵ và bổ trợ cho các cơ chế hiện có.
Mọi sáng kiến đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển đều đáng được hoan nghênh, nếu minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế, bổ trợ cho nhau và không làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN và không biến Đông Nam Á thành không gian đối đầu giữa các khối. Vai trò trung tâm của ASEAN không tự nhiên mà có và cũng không tự duy trì. ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung.
Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung. Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Philippines trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2026, cùng các nước thành viên củng cố hòa bình, an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng, thúc đẩy kết nối, phát triển bao trùm, bền vững và đặt người dân ASEAN ở vị trí trung tâm.
Thứ ba, cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững. Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác. Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm họa, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp.
Thứ tư, cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động, công nghệ không gian, an ninh mạng và chuỗi cung ứng công nghệ cao đang định hình lại an ninh quốc tế. Những công nghệ này có thể mở rộng năng lực phát triển, dự báo rủi ro và quản trị, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để tấn công mạng, thao túng thông tin, tự động hóa xung đột, giám sát bất hợp pháp hoặc tạo ra các hình thức cưỡng ép mới. Trong quốc phòng - an ninh, câu hỏi hệ trọng không phải là công nghệ mạnh đến đâu mà là con người có thể kiểm soát được công nghệ ấy đến mức nào. Vì vậy, chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng - an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang.
Thứ năm, cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu; bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức. Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn không chỉ đến từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tấn công mạng, mà còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn. Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch. Một xã hội có khả năng phân biệt đúng sai, giữ được đồng thuận trước biến động và không bị dẫn dắt bởi sợ hãi, thù hận hay thao túng sẽ là nền tảng quan trọng của an ninh bền vững.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực. Nhiều cuộc khủng hoảng không bùng phát chỉ vì khác biệt lợi ích mà vì các bên thiếu kênh trao đổi đáng tin cậy, thiếu không gian để xuống thang và thiếu cơ chế giúp chuyển đối đầu trở lại đối thoại. Vì vậy, châu Á - Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Chúng ta cần nhiều hơn các kênh tham vấn khác nhau, các cơ chế trung gian linh hoạt, các nhóm tiếp xúc khi có sự cố, các diễn đàn bán chính thức và những sáng kiến xây dựng lòng tin giữa quân đội, an ninh, lực lượng thực thi pháp luật, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo ra những "lối thoát ngoại giao" trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Với các đối tác có ảnh hưởng lớn trong và ngoài khu vực, Việt Nam mong muốn gửi một thông điệp chân thành: châu Á - Thái Bình Dương là không gian mở, mọi quốc gia có lợi ích chính đáng đều có thể đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển. Khu vực hoan nghênh sự hiện diện minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và góp phần giảm căng thẳng. Điều khu vực mong muốn không phải là sự hiện diện hay vắng mặt thuần túy của bất kỳ nước lớn nào, mà là một cam kết có trách nhiệm. Chúng tôi nhìn nhận cạnh tranh là tất yếu, nhưng cạnh tranh phải được đặt trong giới hạn của luật pháp, minh bạch và tự kiềm chế.
Ba cuộc khủng hoảng của thế giới hôm nay không phải là điều tất yếu mà chúng ta buộc phải chấp nhận. Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào khủng hoảng, nhưng không để khủng hoảng che khuất cơ hội hành động. Khủng hoảng trật tự quốc tế cho thấy luật pháp quốc tế và sự tự kiềm chế cần được củng cố. Khủng hoảng mô hình phát triển cho thấy cần làm mới các động lực tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Khủng hoảng lòng tin chiến lược đòi hỏi đối thoại, minh bạch, trách nhiệm và những cơ chế hợp tác thực chất hơn.
Những câu trả lời ấy sẽ không tự hình thành. Chúng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các quốc gia cùng nhau duy trì và kiến tạo luật lệ, kết nối lợi ích, củng cố lòng tin và xây dựng các cơ chế giảm thiểu rủi ro có hiệu lực trong thực tế. Trong một thế giới nhiều biến động, thách thức không chỉ đến từ những bất ổn bên ngoài, mà còn từ việc chúng ta chưa chuẩn bị đủ tốt để quản trị rủi ro. Điều quan trọng là chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ nhắc lại nguyên tắc sang vận hành cơ chế; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Vì vậy, lựa chọn của châu Á - Thái Bình Dương hôm nay không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, bởi cạnh tranh là một thực tế của quan hệ quốc tế. Lựa chọn quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin. Việt Nam tin rằng khu vực của chúng ta có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình bằng chính lịch sử của mình, hiểu giá trị của phát triển bằng chính hành trình Đổi Mới và hội nhập của mình. Từ trải nghiệm ấy, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng lợi ích quốc gia của chúng tôi gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực. Đóng góp cho hòa bình khu vực cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của Việt Nam. Mở rộng hợp tác, giảm thiểu rủi ro và kết nối các lợi ích chính đáng cũng chính là cách Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng quốc tế.
Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế.
Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại hội nghị, ông Lương Đức Hải, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Khánh Hòa, đã công bố quyết định của Ban Bí thư về việc chỉ định bổ sung 9 cán bộ tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Theo đó, các cán bộ được chỉ định gồm: ông Trần Văn Hiếu, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Châu Ngô Anh Nhân, Giám đốc Sở Tài chính; ông Nguyễn Thành Phú, Giám đốc Sở Xây dựng; ông Lê Văn Khoa, Giám đốc Sở Y tế; ông Nguyễn Duy Quang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa; ông Trịnh Văn Mơ, Phó bí thư chuyên trách Đảng ủy các cơ quan Đảng tỉnh Khánh Hòa; ông Nguyễn Ngọc Tú, Trưởng Thuế tỉnh Khánh Hòa; ông Trần Gia Văn, Phó trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Khánh Hòa và bà Lưu Hồng Vân, Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa.
Cũng tại hội nghị, Tỉnh ủy Khánh Hòa tổ chức ký cam kết về trách nhiệm và xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu nhằm nâng cao trách nhiệm của đội ngũ lãnh đạo trong thực thi nhiệm vụ, góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chiều 19.5, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các bộ, ngành liên quan về tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 24.5.2024 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới.
Phát biểu kết luận buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong thời kỳ phát triển mới, tiếp cận nhà ở an toàn phù hợp với khả năng chi trả phải được coi là quyền cơ bản của người dân và thước đo của tiến bộ xã hội.
Nhà ở phải là một bộ phận ổn định của cấu trúc đô thị, nông thôn, an sinh xã hội, an ninh đô thị, năng suất lao động và sự lành mạnh của thị trường bất động sản.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, phát triển nhà ở phải được đặt trong tư duy tổng thể, không phải của riêng ngành xây dựng, hay chính sách hỗ trợ người nghèo. Đây là vấn đề của liên ngành, liên cấp, liên vùng gắn với quy hoạch đô thị, đất đai, công nghiệp, giao thông công cộng, thị trường lao động và quản lý dân cư.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá, thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện thể chế, ban hành chính sách, tháo gỡ thủ tục và thúc đẩy phát triển nhà ở.
Tuy nhiên, chính sách nhà ở trong giai đoạn đoạn mới phải được thiết kế với tư duy mới, tầm nhìn mới, đảm bảo mọi người đều có chỗ ở. Nhà là để ở chứ không phải để kinh doanh, tích sản. Kết quả đạt được trong chính sách nhà ở vừa qua cơ bản chưa đạt được mục tiêu đề ra và thấp so với nhu cầu rất lớn của xã hội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, phải đặt nhà ở trong chiến lược phát triển đô thị quốc gia. Mỗi khu đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, vùng động lực và hành lang tăng trưởng phải quy hoạch nhà ở đi liền với hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ dịch vụ xã hội, thiết chế văn hóa, y tế, giáo dục cho người dân.
Quy hoạch nhà ở phải bám sát cung - cầu lao động. Nơi nào tập trung nhiều công nhân, lao động nhập cư, khu công nghiệp, trường đại học, bệnh viện và lực lượng dịch vụ phải được ưu tiên bố trí quỹ đất, hạ tầng và cơ chế phát triển nhà ở xã hội phù hợp.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, mô hình phát triển nhà ở của Việt Nam trong giai đoạn mới không phải là mô hình bao cấp nhà ở, cũng không phó mặc cho thị trường. Nhà nước kiến tạo quỹ đất, quy hoạch, hỗ trợ tài chính, định ra tiêu chuẩn, quy chuẩn; đơn giản hóa và thuận lợi hóa các loại thủ tục hành chính liên quan; thị trường tham gia xây dựng, vận hành với lợi ích hợp lý. Người dân được tiếp cận chỗ ở ổn định, an toàn, phù hợp khả năng chi trả và đúng đối tượng; trong đó nhà ở cho thuê phải trở thành trụ cột lâu dài.
Từ nay đến 2030, nhà ở để bán vẫn cần thiết, nhưng nhà ở cho thuê phải được xác định là trụ cột chiến lược, nhất là tại các đô thị lớn, khu công nghiệp, vùng nhập cư lao động và các địa bàn có giá nhà vượt xa mặt bằng thu nhập của người dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế pháp luật về nhà ở trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2. Nhà nước kiến tạo, quy hoạch, điều tiết thuế và tín dụng và bảo đảm công bằng, kiểm soát chống đầu cơ nhà ở.
Các địa phương rà lại quỹ đất và hoàn thiện quy hoạch về nhà ở của địa phương mình, chủ động giải phóng mặt bằng, chuẩn bị quỹ đất sạch cho nhà ở chính sách, tạo mọi thuận lợi cho nhà đầu tư.
Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần phối hợp với các bộ, ngành liên quan để đưa ra cơ chế tài chính cho nhà ở chính sách dài hạn. Doanh nghiệp có lợi ích hợp lý, đi kèm với kiểm soát tốt chi phí, chất lượng, tiến độ giá bán và giá cho thuê.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, cần nghiên cứu và có chính sách tăng tốc phát triển thị trường cho thuê căn hộ và khuyến khích khu vực tư nhân cùng các tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào việc xây dựng, tài trợ vốn và quản lý cho thuê căn hộ giá thuê rẻ được Nhà nước trợ giá cho các gia đình có thu nhập thấp và rất thấp không có khả năng mua nhà ở.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, kiểm soát chặt chẽ và minh bạch đối tượng mua nhà ở, không để đầu cơ, kiếm tiền; cần kiểm soát chặt đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở, cơ chế mua, bán, không để tình trạng nhà ở thành tài sản đầu cơ. Không để chính sách nhà ở bị lợi dụng để trục lợi. Cán bộ công chức, đảng viên phải gương mẫu thực hiện nghiêm túc chủ trương, chính sách về nhà ở.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Đảng ủy Chính phủ nghiên cứu, xây dựng chính sách phát triển nhà ở theo mô hình mới, phù hợp với Hiến pháp, chính sách của Đảng, Nhà nước và nhu cầu của nhân dân để trình Quốc hội.
Tin Gốc: Thanh Niên

