Ông Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó chủ tịch UBND TP.HCM, nói thành phố vinh dự được chọn đăng cai hội thao. Ông cho rằng giáo dục quốc phòng và an ninh giữ vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước và tinh thần sẵn sàng cống hiến cho Tổ quốc.
“Việc triển khai hiệu quả nội dung này cũng là cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn tri thức với rèn luyện phẩm chất, đạo đức và ý thức công dân”, ông Cường phát biểu.
Theo ông Cường, TP.HCM luôn chú trọng đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục quốc phòng – an ninh, gắn với giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống và rèn luyện thể chất cho học sinh, qua đó góp phần xây dựng thế hệ trẻ phát triển toàn diện.
Thành phố kỳ vọng đây sẽ là dịp để các địa phương, cơ sở giáo dục và học sinh giao lưu, học hỏi, đồng thời quảng bá hình ảnh một TP.HCM năng động, hiện đại, nghĩa tình.
“TP.HCM tin tưởng rằng với sự quan tâm, chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các đơn vị liên quan, hội thao sẽ diễn ra thành công tốt đẹp”, ông Cường bày tỏ.
Ông Phạm Ngọc Thưởng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, đánh giá cao ý nghĩa của hội thao khi diễn ra trong không khí cả nước hướng về giỗ Tổ Hùng Vương và kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4).
Ông Thưởng nói hội thao là hoạt động thiết thực thúc đẩy phong trào dạy và học môn học này trong nhà trường. Qua đó các đơn vị có cơ hội kiểm tra, đánh giá chất lượng giảng dạy, phát hiện những tập thể, cá nhân tiêu biểu để bồi dưỡng, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trong thời gian tới.
Thứ trưởng đề nghị ban chỉ đạo, ban tổ chức rà soát kỹ lưỡng công tác chuẩn bị, phối hợp chặt chẽ trong điều hành, đảm bảo điều kiện ăn ở, y tế, thao trường cho các vận động viên.
Đồng thời tổ chức thi đấu khách quan, đặc biệt chú trọng yếu tố an toàn trong điều kiện thời tiết nắng nóng. Ông cũng yêu cầu các đoàn và vận động viên chấp hành nghiêm kỷ luật, điều lệ hội thao, đề cao tinh thần đoàn kết, trung thực, tự tin.
“Đây không chỉ là hội thi mà là ngày hội để các bạn giao lưu, thể hiện kiến thức, kỹ năng và bản lĩnh của học sinh trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”, ông nói.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Trưởng Khoa Tiếng Nhật - Đại học Duy Tân nhận Huân chương Mặt trời mọc

Đây là một trong những Huân chương cao quý nhất của Nhật Bản dành cho các cá nhân có đóng góp nổi bật trong việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Thư gửi từ Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam - Ngài Ito Naoki đã ghi nhận những đóng góp quan trọng và thiết thực của PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà trong việc đào tạo nguồn nhân lực tiếng Nhật chất lượng cao và thúc đẩy giao lưu học thuật, văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản.
"Khi đang giữ vị trí Trưởng Khoa Tiếng Nhật đồng thời tham gia giảng dạy tiếng Nhật tại Trường ĐH Ngoại thương Hà Nội thời gian trước đây, PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà đã nỗ lực xây dựng nền tảng cho giảng dạy Tiếng Nhật thương mại tại Việt Nam.
Cô đã có đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy giao lưu với các trường đại học và doanh nghiệp Nhật Bản, mở rộng cơ hội du học và làm việc tại Nhật Bản, đào tạo được nhiều nhân lực tiếng Nhật xuất sắc.
Từ năm 2021 đến nay, chính thức đảm nhiệm vị trí Trưởng Khoa Tiếng Nhật, Trường Ngôn ngữ & Xã hội Nhân văn (LHSS), ĐH Duy Tân, cô đã nỗ lực thúc đẩy các hoạt động giảng dạy tiếng Nhật, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực tiếng Nhật tại miền Trung Việt Nam, thông qua việc xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo một cách bài bản và hệ thống.
Bên cạnh đó, cô còn đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Thẩm định Sách giáo khoa tiếng Nhật trong nhiều năm, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiếng Nhật.
"Tôi xin chuyển đến cô Điện chúc mừng của ngài Motegi Toshimitsu - Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản. Tôi tin rằng lần vinh danh này thật đặc biệt, là kết quả xứng đáng cho những nỗ lực bền bỉ của cô suốt nhiều năm qua.", trích thư của Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam.
Tốt nghiệp Trường ĐH Ngoại thương năm 1978 chuyên ngành Phiên dịch tiếng Nhật, cô Nguyễn Thị Bích Hà bắt đầu hành trình dài gắn bó với công tác giảng dạy tiếng Nhật và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam.
Trong quá trình công tác, cô Bích Hà tiếp tục hoàn thiện chuyên môn khi lấy Bằng Thạc sĩ tại ĐH Nữ sinh Tokyo, Nhật Bản và lấy Bằng Tiến sĩ tại ĐH Quốc gia Hà Nội.
Trong suốt 13 năm đảm nhiệm vai trò quản lý tại Trường ĐH Ngoại thương, cô tập trung xây dựng chương trình đào tạo tiếng Nhật gắn với kinh tế - thương mại, đồng thời thúc đẩy hợp tác của Việt Nam với nhiều trường đại học và doanh nghiệp Nhật Bản.
PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà đã đến và đồng hành với Trường Ngôn ngữ & Xã hội Nhân văn (LHSS), ĐH Duy Tân từ tháng 1/2021, bởi cô nhìn thấy ở nơi đây một môi trường giáo dục năng động, đổi mới và chú trọng việc phát triển các ngành ngoại ngữ gắn với nhu cầu thực tiễn của xã hội và doanh nghiệp.
"Đào tạo tiếng Nhật hiện nay cần kết hợp ngôn ngữ với kiến thức kinh tế, văn hóa, công nghệ và kỹ năng làm việc quốc tế. Ba định hướng quan trọng được Khoa Tiếng Nhật của chúng tôi chú trọng là:
Nâng cao năng lực sử dụng tiếng Nhật thực tế cho sinh viên, Mở rộng cơ hội thực tập và việc làm thông qua hợp tác với doanh nghiệp và các trường đại học tại Nhật Bản, và Xây dựng đội ngũ giảng viên có năng lực nghiên cứu và tinh thần không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy.
Sinh viên Duy Tân năng động, chủ động tiếp cận tri thức mới và luôn khao khát phát triển trong môi trường quốc tế. Điều này đã trở thành nguồn cảm hứng và động lực để tôi tiếp tục cống hiến cho sự phát triển của ngành Ngôn ngữ Nhật ở DTU", PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà chia sẻ.
Trong suốt gần 50 năm làm nghề, PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà luôn kiên trì theo đuổi mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam.
Bên cạnh công tác giảng dạy và quản lý, cô còn giữ vai trò Chủ tịch Hội đồng Thẩm định Sách giáo khoa tiếng Nhật của Bộ Giáo dục & Đào tạo từ năm 2003 đến nay, trực tiếp giảng dạy chương trình dạy Tiếng Nhật Thương mại trên Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) cũng như tại Trung tâm Hợp tác Nguồn Nhân lực Việt Nam - Nhật Bản (VJCC) từ năm 2002.
Với mục tiêu lớn nhất là góp phần đào tạo thế hệ trẻ có năng lực hội nhập quốc tế và thúc đẩy tình hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản thông qua công tác giáo dục, PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà đã được Chủ tịch Nước Việt Nam phong tặng danh hiệu "Nhà giáo Ưu tú" năm 2014 và nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản năm 2021.
PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà cùng các cán bộ, giảng viên của Khoa Tiếng Nhật ở DTU đang có nhiều nỗ lực kết nối với các trường đại học, tổ chức và doanh nghiệp Nhật Bản để mang đến những cơ hội học tập và thực tập tốt nhất cho sinh viên, cụ thể:
- Thiết lập quan hệ với Trường ĐH Nữ sinh JISSEN, đưa sinh viên qua Nhật Bản học tập tại trường,
- Hợp tác với tập đoàn MIKAZUKI Nhật bản,
- Đưa sinh viên DTU qua thực tập từ tháng 3-2026,
- Xây dựng mạng lưới giao lưu online với các trường đại học ở Nhật như ĐH Nanzan,
- ĐH Tamagawa, ĐH Okinawa, ĐH Suzuka với đông đảo sinh viên hai quốc gia cùng tham gia,
- Ký kết trao đổi học thuật với ĐH Nữ sinh Showa, Nhật bản
"Không dừng lại ở hợp tác quốc tế, đào tạo tiếng Nhật cần đổi mới mạnh mẽ để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của Trí tuệ Nhân tạo (AI), yếu tố đang tạo ra những thay đổi sâu rộng, đặc biệt trong lĩnh vực Ngoại ngữ và Dịch thuật hiện nay. Đào tạo tiếng Nhật tại DTU hướng đến việc phát triển năng lực toàn diện cho người học trong Thời đại Số, kết hợp sử dụng tiếng Nhật linh hoạt trong môi trường công nghệ, khai thác hiệu quả AI trong học tập và công việc, đồng thời chú trọng rèn luyện tư duy, kỹ năng giao tiếp, và hiểu biết văn hóa.
Bên cạnh đó, chương trình đào tạo tiếng Nhật cũng được định hướng gắn liền với các lĩnh vực Thương mại và Kinh doanh. Trong bối cảnh miền Trung Việt Nam đang mở rộng cơ hội kết nối với các doanh nghiệp Nhật Bản ở các lĩnh vực như: Du lịch, Dịch vụ, Công nghệ, Sản xuất và Logistics, việc đào tạo nguồn nhân lực tiếng Nhật có chuyên môn vững và tác phong nghề nghiệp tốt ngày càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.", cô Bích Hà chia sẻ.
Với những đóng góp mang lại hiệu quả cao trong giáo dục, đặc biệt là trong việc thúc đẩy hợp tác, giao lưu hữu nghị giữa Việt Nam và Nhật Bản, PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà đã vinh dự được Chính phủ Nhật Bản trao tặng Huân chương Mặt trời mọc.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Bộ GD-ĐT: Sách giáo khoa điện tử không phụ thuộc độc quyền vào công nghệ, thiết bị riêng biệt

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định tiêu chuẩn, quy trình chuyển thể, chỉnh sửa cập nhật sách giáo khoa bản in sang sách giáo khoa điện tử, tổ chức thẩm định sách giáo khoa điện tử.
Việc ban hành thông tư này nhằm cụ thể hóa những quy định về sách giáo khoa tại Luật Giáo dục, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.
Theo thông tư trên, sách giáo khoa điện tử được xây dựng trên cơ sở sách giáo khoa bản in đã được bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, bảo đảm tính khoa học, chính xác, sư phạm của nội dung dạy học.
Sách giáo khoa điện tử cũng phải phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, các quy định của pháp luật về bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, quy chuẩn bảo mật, quy chuẩn về lưu chiểu và các quy định của pháp luật có liên quan.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng khẳng định sách giáo khoa điện tử không thay thế sách giáo khoa bản in, không mang tính bắt buộc với cơ sở giáo dục, giáo viên và học sinh.
Sách giáo khoa điện tử được công nhận và sử dụng phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam và xu thế giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Thông tư trên nêu rõ sách giáo khoa điện tử không thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu người dùng trái quy định hiện hành. Người tổ chức sách giáo khoa điện tử phải đảm bảo bảo mật thông tin của cá nhân học sinh và giáo viên theo quy định của pháp luật.
Thông tư cũng quy định sách giáo khoa điện tử không chèn quảng cáo, nội dung kinh doanh, không chứa và không được hiển thị các liên kết độc hại hoặc nội dung không phù hợp với mục đích giáo dục.
Giao diện sách giáo khoa điện tử phải phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, hình ảnh, âm thanh, video trong sách giáo khoa điện tử được thiết kế và sử dụng như giải pháp sư phạm. Đây là ưu điểm của sách giáo khoa điện tử, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, tăng tính trải nghiệm trong học tập, góp phần phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Sách giáo khoa điện tử cũng phải tuân thủ các quy định hiện hành về kỹ thuật của xuất bản phẩm điện tử, khuyến khích sử dụng các chuẩn mở quốc tế cho xuất bản phẩm điện tử giáo dục.
Sách giáo khoa điện tử bảo đảm tính năng hỗ trợ sử dụng ngoại tuyến đối với nội dung tĩnh. Có thể sử dụng trên thiết bị cấu hình thấp, tích hợp các tính năng công nghệ hỗ trợ tiếp cận dành cho đối tượng học sinh khuyết tật và người yếu thế.
Về hạ tầng và bảo mật sách giáo khoa điện tử, thông tư trên quy định, hệ thống máy chủ lưu trữ dữ liệu đặt tại Việt Nam, có tên miền Internet Việt Nam, được bảo trì định kỳ và tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn hệ thống thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng theo quy định hiện hành.
Sách giáo khoa điện tử phải được hoạt động ổn định trên các thiết bị, nền tảng khác nhau, không phụ thuộc độc quyền vào công nghệ, cấu hình thiết bị riêng biệt, tuân thủ tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế về dữ liệu để tích hợp được với các hệ thống quản lý học tập.
Đồng thời sách giáo khoa điện tử phải có cơ chế đồng bộ dữ liệu thông suốt giữa chế độ trực tuyến và ngoại tuyến.
Sách giáo khoa điện tử chỉ được chỉnh sửa, cập nhật khi sách giáo khoa bản in được chỉnh sửa, cập nhật. Việc chỉnh sửa, cập nhật sách giáo khoa điện tử do đơn vị chuyển thể tổ chức thực hiện, bảo đảm các nội dung cập nhật không làm giảm mức độ tiếp cận đã đạt được tại các phiên bản trước đó.
Việc tổ chức thực nghiệm kỹ thuật và đánh giá trải nghiệm người dùng trên các nhóm đối tượng học sinh, giáo viên đại diện vùng miền.
Cụ thể, số tiết thực nghiệm ít nhất 5% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục có từ 105 tiết/năm học trở lên; ít nhất 10% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục có từ 70 tiết/năm học đến dưới 105 tiết/năm học; ít nhất 15% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục còn lại.
Hình thức tổ chức thực nghiệm trực tiếp hoặc trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp và trực tuyến.
Đơn vị chuyển thể tổ chức chỉnh sửa, biên tập, hoàn thành bản mẫu sách giáo khoa điện tử và đề nghị với đơn vị tổ chức thẩm định, thẩm định bản mẫu sách giáo khoa điện tử.
Giáo Dục
Xác định số lượng tuyển sinh theo quy định mới, trường ĐH chuẩn bị ra sao?

Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 34 quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh CĐ ngành giáo dục mầm non, thay thế thông tư năm 2022 (áp dụng khóa tuyển sinh 2027), với những điểm mới được cho là tác động đáng kể tới chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên (GV) của các trường ĐH.
Theo thông tư này, để xác định số lượng tuyển sinh, GV phải ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tối thiểu 3 năm. Điều đó có nghĩa năm 2025 hay 2026 một trường ĐH tuyển được 50 tiến sĩ, 15 thạc sĩ thì số lượng GV mới này không được tính để xác định chỉ tiêu. Quy định mới cũng đưa ra số lượng người học quy đổi trên GV quy đổi không theo nhóm ngành như trước (ví dụ kỹ thuật là 20 sinh viên (SV)/GV, kinh tế 25 SV/GV) mà tính chung là 40 SV/GV cho tất cả nhóm ngành.
Đặc biệt, hệ số quy đổi của GV có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS), trình độ tiến sĩ đều bằng 1 trong khi quy định cũ là GS = 5, PGS = 3 và tiến sĩ = 2. Bên cạnh đó thạc sĩ trước đây có hệ số 1 thì giờ giảm còn 0,75.
Tất cả những con số trên mới chỉ thể hiện năng lực đào tạo. Còn số lượng tuyển sinh được tính theo công thức: năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến trong năm.
Những điểm nói trên đã tác động trực tiếp tới việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Theo tính toán của một lãnh đạo trường ĐH tại TP.HCM, nếu theo cách tính mới này, chỉ tiêu tuyển sinh các trường có thể sẽ giảm từ 10 - 30%.
Lấy ví dụ, một trường ĐH đào tạo khối ngành kinh tế (có tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 25 SV/GV) có 5 GS, 10 PGS, 100 tiến sĩ và 80 thạc sĩ. Nếu tính theo cách cũ, thì 5 GS được xác định 5 x 5 x 25 = 650 chỉ tiêu, 10 PGS được tuyển 10 x 3 x 25 = 750 chỉ tiêu, 150 tiến sĩ sẽ được tuyển 100 x 2 x 25 = 5.000 chỉ tiêu, 100 thạc sĩ được tuyển 100 x 25 = 2.500 chỉ tiêu. Tổng chỉ tiêu là 8.900.
Nếu tính theo cách mới (tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 40 SV/GV), năng lực đào tạo của GS là 5 x 40 = 200 chỉ tiêu, PGS là 10 x 40 = 400 chỉ tiêu, tiến sĩ là 100 x 40 = 4.000; thạc sĩ là 100 x 0,75 x 40 = 3.000. Tổng năng lực đào tạo lúc này là 7.600, tính ra đã giảm tới 1.300. Chưa kể khi tính theo công thức mới, chỉ tiêu = năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến, thì số lượng có thể còn giảm thêm.
Tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, cho biết: "Thông tư này nhằm siết quy mô đào tạo ĐH để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo sau ĐH (tối thiểu 15% tổng chỉ tiêu). Một trường mà có nhiều GS, PGS, tiến sĩ thì tỷ lệ chỉ tiêu sẽ giảm khá nhiều so với cách tính cũ".
Theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, việc xác định số lượng tuyển sinh của nhiều trường sẽ bị thu hẹp hoặc phải tính lại theo hướng thực chất hơn và ít phụ thuộc hơn vào hệ số ưu thế của một số học hàm, học vị cao.
"Trước đây, chỉ cần có một số lượng GS, PGS hoặc tiến sĩ thì tổng số GV quy đổi tăng lên rất mạnh, từ đó kéo theo năng lực đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh tăng tương ứng. Nay khi GS, PGS, tiến sĩ cùng được tính ở mức 1, khoảng chênh lệch đó gần như bị triệt tiêu. Vì vậy, những trường trước đây dựa khá nhiều vào hệ số cao của một đội ngũ GV có học hàm, học vị để xác định chỉ tiêu thì nay sẽ không còn lợi thế như trước. Trong khi những trường có đội ngũ ổn định nhưng không nhiều GS, PGS lại ít bị chênh lệch hơn trước", tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Nhưng chính vì thế mặt bằng chỉ tiêu giữa các trường sẽ có xu hướng được kéo lại gần nhau hơn. Không còn chuyện cùng một số lượng GV, nhưng chỉ cần cơ cấu học hàm, học vị khác nhau là kết quả chỉ tiêu có thể chênh lệch rất lớn. Với mức quy đổi này kết quả xác định chỉ tiêu sẽ phản ánh sát hơn quy mô đội ngũ thực tế.
Theo tiến sĩ Trần Hữu Duy, cho đến thời điểm hiện tại, quy định GV phải tối thiểu có trình độ thạc sĩ, nên cho dù hệ số quy đổi có giảm thì vai trò của GV có trình độ thạc sĩ là không thay đổi. Tuy nhiên, qua đây cũng có thể thấy quan điểm của Bộ GD-ĐT rất rõ ràng, tiến tới hạn chế GV có trình độ thạc sĩ. Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các trường là phải khẩn trương có kế hoạch đào tạo nâng trình độ của GV, nếu không về lâu dài khi Bộ nâng chuẩn GV lên trình độ tiến sĩ thì sẽ rất khó khăn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng cho rằng quy định mới không hề làm giảm vai trò chính thức của GV trình độ thạc sĩ. Họ vẫn là lực lượng trực tiếp giảng dạy và đóng vai trò quan trọng trong vận hành chương trình đào tạo.
"Ở góc độ quy đổi chỉ tiêu, trọng số của đội ngũ thạc sĩ giảm ảnh hưởng tới những trường vốn dựa nhiều vào thạc sĩ. Nhưng về mặt vận hành, khi hệ số quy đổi thấp hơn, đóng góp của GV thạc sĩ vào năng lực tuyển sinh sẽ giảm so với trước. Điều này có thể dẫn đến việc họ được phân công nhiều hơn ở các học phần cơ bản hoặc đóng vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu. Dù vậy, trong các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, vai trò của GV thạc sĩ, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn, vẫn không thể thay thế. Vì vậy, vấn đề không phải là giảm vai trò mà là tái định vị vai trò cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn khẳng định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhận định: "Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương được thể hiện thông qua các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, quy định về xác định số lượng người học... theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là tăng tỷ lệ tiến sĩ. Tuy nhiên, cần có lộ trình phù hợp và phân loại rõ các mô hình ĐH. Nếu áp dụng cứng nhắc có thể dẫn đến giảm chỉ tiêu đào tạo và thiếu hụt nguồn nhân lực cho thị trường lao động".
Để thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ GV trình độ cao, trong 3 năm trở lại đây và thời gian tới, Trường ĐH Công thương TP.HCM không tuyển thạc sĩ, chỉ tuyển tiến sĩ trở lên với chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đánh giá nguồn GV trình độ tiến sĩ ở VN vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới hoặc liên ngành, hoặc có những ngành chưa đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên đồng loạt, các trường sẽ cạnh tranh rất mạnh để thu hút nhân sự, mà số lượng tiến sĩ trong thời gian tới không thể tăng nhanh như trước đây nên dẫn đến chi phí tăng cao và không phải trường nào cũng có lợi thế như nhau.
"Nếu không có sự linh hoạt trong triển khai và lộ trình hợp lý thì các quy định này có thể làm giảm tính năng động và dẫn đến những hệ lụy không mong muốn như méo mó cơ cấu ngành đào tạo, đặc biệt là gia tăng chi phí học tập. Vì vậy, cần có cơ chế điều chỉnh phù hợp theo từng nhóm ngành, từng loại hình cơ sở đào tạo, thì khi đó mục tiêu nâng cao chất lượng mới có thể đạt được mà không làm triệt tiêu động lực phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn đề xuất.
"Nước ta hướng tới mục tiêu đó là tốt; tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện nay rất thấp. Do đó Bộ cần phải có lộ trình phù hợp cho các trường để nâng chuẩn trình độ GV, thực hiện ngay sẽ rất phi thực tế. Lộ trình này có thể 5 - 7 năm là phù hợp; hoặc đến năm 2035 là hợp lý nhất", tiến sĩ Trần Hữu Duy nhìn nhận.
Tin Gốc: Thanh Niên

