Về kê khai tài sản, thu nhập, Nghị định quy định như sau:
Tài sản, thu nhập phải kê khai là tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, vợ (chồng) và con chưa thành niên của người có nghĩa vụ kê khai bao gồm:
– Quyền sử dụng đất;
– Nhà ở, công trình xây dựng;
– Tài sản khác gắn liền với đất;
– Vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác mà mỗi loại có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
– Tiền (tiền Việt Nam, ngoại tệ) gồm tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam mà tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên;
– Cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp, các loại giấy tờ có giá khác mà tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
– Tài sản số, tài sản khác mà mỗi loại tài sản có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
– Các khoản nợ có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
– Tài sản ở nước ngoài;
– Tài khoản ở nước ngoài;
– Tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.
Việc kê khai lần đầu, kê khai hằng năm, kê khai bổ sung, kê khai phục vụ công tác cán bộ được thực hiện theo mẫu bản kê khai được ban hành kèm theo Nghị định này.
Việc kê khai trên môi trường điện tử để bảo đảm thuận lợi cho việc lưu trữ, kiểm soát tài sản, thu nhập khi điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ được đáp ứng.
Người có nghĩa vụ kê khai hằng năm
Nghị định quy định, người có nghĩa vụ kê khai theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 36 của Luật Phòng, chống tham nhũng bao gồm:
Người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên công tác tại các cơ quan nhà nước; Trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại doanh nghiệp nhà nước ở các vị trí việc làm phụ trách trực tiếp công tác: tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.
Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Bản kê khai phải được công khai
Bản kê khai của người giữ chức vụ Phó Tổng cục trưởng và tương đương trở lên công tác tại các cơ quan trung ương được niêm yết tại trụ sở bộ, cơ quan ngang bộ hoặc công khai tại cuộc họp bao gồm lãnh đạo từ cấp cục, vụ và tương đương trở lên;
Bản kê khai của Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, UBND cấp tỉnh được niêm yết tại trụ sở HĐND, UBND hoặc công bố tại cuộc họp bao gồm toàn thể cán bộ, công chức, viên chức thuộc Văn phòng HĐND, Văn phòng UBND.
Bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai thuộc sở, ngành cấp tỉnh, được niêm yết tại trụ sở cơ quan hoặc công khai tại cuộc họp bao gồm toàn thể cán bộ, công chức, viên chức thuộc sở ngành.
Bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai thuộc HĐND, UBND cấp xã được niêm yết tại trụ sở HĐND, UBND xã hoặc công khai tại cuộc họp bao gồm toàn thể cán bộ, công chức cơ quan nơi người đó thường xuyên công tác;
Bản kê khai được công khai chậm nhất là 5 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai bàn giao bản kê khai cho cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập. Thời gian niêm yết bản kê khai là 15 ngày.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.
Tại nhịp điều chỉnh gần nhất lúc 9 giờ 51, vàng miếng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) mua vào và bán ra ở 162,9 - 165,9 triệu đồng/lượng, giảm 1,6 triệu đồng/lượng so với chốt tuần qua.
So với mức giá đỉnh trong tháng 4 ghi nhận ngày 1.4 (175 - 178 triệu đồng/lượng), giá mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm 12,1 triệu đồng. Giá vàng miếng SJC trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới 17,5 triệu đồng/lượng.
Trái ngược với giá vàng, giá bạc sáng nay lại bật tăng so với chốt tuần qua. Lúc 9 giờ 10, Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam niêm yết giá mua vào và bán ra bạc 1 kg ở mức 80,880 - 83,387 triệu đồng, tăng 560.000 - 587.000 đồng.
Tại thời điểm 9 giờ 9, bạc 1 kg được Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý mua vào và bán ra là 81,253 - 83,759 triệu đồng, tăng 267.000 - 266.000 đồng.
Vào 9 giờ 10, Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá bạc 5 lượng ở 15,235 - 15,705 triệu đồng (mua - bán), tăng 50.000 đồng.
So với mức giá cao nhất từ tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (bán ra gần 99 triệu đồng/kg), giá mỗi kg bạc đã giảm 15 triệu đồng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay lúc 10 giờ 3 (giờ Việt Nam) là 4.677,6 USD/ounce, giảm 36,1 USD/ounce (tương đương 0,77%); giá bạc giao ngay ở mức 80,77 USD/ounce, giảm 0,55 USD/ounce (tương đương 0,69%) so với chốt tuần qua.
Tổng công ty Khí Việt Nam (PV Gas - HoSE: GAS) công bố báo cáo tài chính quý I/2026 ghi nhận doanh thu hơn 38.000 tỷ đồng, tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giá vốn leo cao khiến lợi nhuận gộp chỉ tăng khoảng 10%, đạt hơn 4.500 tỷ đồng.
Xét theo cơ cấu doanh thu, mảng bán khí khô và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) tiếp tục đóng vai trò động lực chính khi mang về gần 21.000 tỷ đồng cho tổng công ty, tăng mạnh 90% và chiếm khoảng 55% tổng nguồn thu. Mảng LPG đứng thứ hai với gần 15.500 tỷ đồng, tăng hơn 16% và đóng góp trên 40%. Trong khi đó, doanh thu từ khí CNG tăng 24%, mảng condensate giảm 6% còn hoạt động vận chuyển khí chỉ nhích nhẹ 2%.
Ở mảng tài chính, PV Gas ghi nhận 385 tỷ đồng doanh thu, tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu nhờ lãi tiền gửi cải thiện trong bối cảnh doanh nghiệp duy trì lượng tiền gửi quy mô lớn. Chi phí tài chính gần như đi ngang, không tạo thêm áp lực đáng kể.
Ngược lại, chi phí vận hành có xu hướng gia tăng rõ rệt. Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 25% lên 397 tỷ đồng, trong khi chi phí bán hàng tăng 4% lên 624 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí nhân sự tăng.
Kết quả, PV Gas báo lãi ròng 2.994 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ và là mức cao nhất trong 3 quý gần đây.
Tại thời điểm cuối quý I/2026, tổng tài sản của PV Gas này đạt gần 93.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, số dư tiền mặt và tiền gửi ngắn hạn hiện lên tới 40.176 tỷ đồng, chiếm khoảng 43% tổng tài sản, mang về hơn 328 tỷ đồng tiền lãi chỉ trong 3 tháng đầu năm.
Về cơ cấu nguồn vốn, PV Gas có hơn 70.000 tỷ đồng vốn chủ sở hữu, trong đó quỹ đầu tư phát triển gần 29.400 tỷ đồng, vốn điều lệ hơn 24.100 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối xấp xỉ 15.400 tỷ đồng.
Trong định hướng dài hạn, doanh nghiệp cho biết sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào các dự án hạ tầng năng lượng trọng điểm. Trọng tâm là dự án nâng công suất kho LNG Thị Vải lên 3 triệu tấn/năm.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới có văn bản trả lời góp ý Dự thảo Đề án Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 do Bộ Công Thương chủ trì soạn thảo.
Về tính khả thi của các mục tiêu định lượng, VCCI cho rằng, mục tiêu thu hút 300 đến 500 doanh nghiệp tham gia và đạt tỉ lệ sử dụng công cụ phái sinh 20 đến 30% trong nhóm doanh nghiệp lớn vào năm 2030 là tham vọng, tuy nhiên cần cân nhắc đến tính khả thi của mục tiêu này.
Hiện nay, tỉ lệ sử dụng công cụ phái sinh chuẩn hóa trong các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nhìn chung còn thấp. Rào cản chính không nằm ở thiếu sản phẩm mà ở chi phí ký quỹ, chuẩn mực kế toán chưa rõ ràng, rủi ro tỉ giá khi giao dịch trên sàn quốc tế và đặc biệt là tâm lý e ngại sau các vụ thua lỗ lớn của một số doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân trong quá khứ.
Từ đó, VCCI đề nghị Ban soạn thảo bổ sung khảo sát thực địa với ít nhất 200 doanh nghiệp đại diện cho các ngành hàng chủ lực để xác định lại các chỉ tiêu trên cơ sở dữ liệu thực, đồng thời xây dựng các chỉ tiêu trung gian theo từng năm thay vì chỉ có chỉ tiêu cuối kỳ.
Về vai trò của ngân hàng thương mại trong cấu trúc thị trường mới, theo VCCI, hiện nay khoảng 10 - 12 ngân hàng thương mại đang cung cấp dịch vụ phái sinh giá cả hàng hóa cho khách hàng, đóng vai trò là kênh tiếp cận chính của doanh nghiệp Việt Nam với thị trường quốc tế.
Dự thảo có đề cập đến nhóm chủ thể này nhưng chưa làm rõ quan hệ giữa kênh giao dịch qua ngân hàng (theo Thông tư 40/2016/TT-NHNN) với kênh giao dịch tập trung qua Sở giao dịch trong cấu trúc thị trường mới.
Cộng đồng ngân hàng băn khoăn liệu các sản phẩm OTC mà ngân hàng đang cung ứng có bắt buộc phải chuyển sang giao dịch qua Sở giao dịch hay không, có phải tuân thủ yêu cầu báo cáo và thanh toán bù trừ tập trung hay không, và quan hệ với cơ quan giám sát chính (Ngân hàng Nhà nước hay cơ quan quản lý Sở giao dịch) sẽ được phân định ra sao. VCCI đề nghị Đề án bổ sung một mục riêng làm rõ kiến trúc tổng thể này.
Về cơ chế tham gia của doanh nghiệp Nhà nước, VCCI đánh giá đây là điểm nghẽn lớn đã được Dự thảo Đề án nhận diện đúng nhưng giải pháp đưa ra còn rất chung chung.
"Thực tế cho thấy các tập đoàn năng lượng, xăng dầu, điện lực và than có nhu cầu phòng vệ giá rất lớn nhưng bị ràng buộc bởi các quy định về quản lý vốn Nhà nước, trách nhiệm bảo toàn vốn và đặc biệt là tâm lý e ngại bị quy kết thua lỗ do đầu cơ khi hoạt động phòng vệ giá phát sinh nghĩa vụ tài chính theo chiều bất lợi", VCCI chỉ ra.
VCCI đề nghị Bộ Tài chính, với vai trò là cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước, cần ban hành hướng dẫn cụ thể, bao gồm các nội dung như tiêu chí phân biệt giao dịch phòng vệ với giao dịch đầu cơ, phương pháp đánh giá hiệu quả của chương trình phòng vệ trên cơ sở tổng thể chứ không tách rời từng hợp đồng.
Đồng thời, có cơ chế miễn trừ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu khi tuân thủ đầy đủ quy trình quản trị rủi ro, và quy định về kiểm toán nội bộ chuyên biệt cho hoạt động phái sinh. Theo VCCI, nếu không tháo gỡ được nút thắt này, nhu cầu lớn nhất của thị trường sẽ tiếp tục không được giải phóng.
Về chi phí ký quỹ và khả năng tiếp cận của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Một trong những rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là chi phí ký quỹ ban đầu và ký quỹ duy trì khi thị trường biến động.
VCCI chỉ ra, trong khi các tập đoàn lớn có thể bỏ ra vài chục đến vài trăm tỷ đồng cho ký quỹ, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 95% số doanh nghiệp Việt Nam thường không có dòng tiền đủ để duy trì vị thế qua các đợt biến động giá mạnh.
VCCI đề nghị Đề án nghiên cứu một số giải pháp như chấp nhận tài sản đảm bảo phi tiền mặt (thư bảo lãnh ngân hàng, chứng từ kho hàng, trái phiếu chính phủ) trong cơ chế ký quỹ, phát triển dịch vụ ủy thác tham gia thị trường qua hợp tác xã và hiệp hội ngành hàng, đồng thời ưu tiên thiết kế các hợp đồng vi mô (mini contracts) với quy mô danh nghĩa nhỏ phù hợp với doanh nghiệp nhỏ.
Về sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài: Cộng đồng doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là các tập đoàn thương mại hàng hóa toàn cầu, các định chế tài chính và các quỹ đầu tư chuyên biệt, có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thanh khoản cho thị trường giai đoạn đầu.
Tuy nhiên, Dự thảo chưa đề cập cụ thể đến cơ chế chuyển đổi ngoại tệ, ký quỹ bằng ngoại tệ, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và xử lý vướng mắc về quản lý ngoại hối. VCCI đề nghị Đề án có một mục riêng về khung tham gia của nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời tận dụng cơ chế Trung tâm tài chính quốc tế để thí điểm các quy định cởi mở hơn trước khi nhân rộng.