Phát biểu khai mạc, Tổng lãnh sự Úc Kate Wallace cho biết hoạt động tập huấn truyền thông thuộc chương trình Đối thoại số Đông Nam, vốn là sáng kiến hợp tác giữa Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT) và cơ quan Phát triển Quốc tế của Đài Truyền hình Quốc gia Úc (ABC).
Chương trình quy tụ các nhà báo tại miền Nam, từ TP.HCM đến Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang và Cà Mau cũng như đại diện của Sở Ngoại vụ TP.HCM. Mục tiêu nhằm nâng cao hiểu biết về những cơ hội và thách thức trong môi trường số, từ đó hỗ trợ tăng cường năng lực cho báo chí địa phương và thúc đẩy chia sẻ tri thức chung.
Thông qua quá trình học hỏi lẫn nhau và xây dựng các mối liên kết mới, những người tham gia được trang bị tốt hơn để ứng phó với những thách thức của quá trình chuyển đổi số theo hướng thiết thực và bền vững, phù hợp với bối cảnh địa phương.
Bà Wallace khẳng định hoạt động trên cũng gắn liền một trong những ưu tiên của Úc là tăng cường gắn kết với Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.
Trong thời gian khóa học được tổ chức, các đại diện của ABCID (cơ quan Phát triển Quốc tế của Đài truyền hình quốc gia Úc) lần lượt tổ chức những bài giảng về tin giả, thông tin sai lệch và cách thức củng cố niềm tin vào truyền thông của công chúng.
Hình thức báo chí kiến tạo cũng được đề cập. Trong đó, báo chí kiến tạo là hình thức báo chí giải pháp tập trung vào tác động và sự tiến bộ, nhằm khuyến khích thảo luận cộng đồng có cơ sở và đưa tin dựa trên bằng chứng.
Và trong thời đại trí thông minh nhân tạo (AI) đang phát triển, việc sử dụng AI cũng cần được triển khai áp dụng một cách có trách nhiệm.
Ông Craig McCosker, Quản lý mảng Sản phẩm số (Đài ABC), cũng giới thiệu một số ứng dụng AI có thể sử dụng cho công tác làm báo, như ứng dụng Perplexity, NotebookLM và ChatGPT trong thực tiễn.
Trong kỷ nguyên số, việc hiểu rõ số liệu phân tích và hành vi của người xem là điều cần thiết nếu muốn xây dựng nội dung hấp dẫn. Đặc biệt, việc nắm rõ những thông tin này sẽ giúp báo đài sản xuất theo hướng ưu tiên kể chuyện qua thiết bị di động, truyền hình, trang web và mạng xã hội, theo cố vấn truyền thông Deborah Steele.
Nhân dịp này, Tổng lãnh sự quán Úc cũng tổ chức chuyến tham quan hai doanh nghiệp Úc đang đầu tư mạnh mẽ tại Việt Nam là TLC Modular và Austal Vietnam trên địa bàn P.Vũng Tàu.
Bên cạnh việc mang đến cơ hội vận dụng thực tế các kỹ năng báo chí di động được trang bị trong khóa tập huấn, chuyến tham quan đến 2 doanh nghiệp trên còn mang đến cơ hội tìm hiểu sâu hơn về mối quan hệ đối tác kinh tế ngày càng phát triển giữa Việt Nam và Úc.
Tổng lãnh sự Wallace cho biết TLC Modular là doanh nghiệp do chuyên gia người Úc sáng lập, chuyên hoạt động trong lĩnh vực xây dựng module. Công ty thiết kế và sản xuất các cấu kiện xây dựng trong môi trường nhà máy trước khi lắp ráp hoàn chỉnh tại công trường.
Trong khi đó, Austal Vietnam là thành viên của tập đoàn đóng tàu toàn cầu có trụ sở tại Úc và là đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực thiết kế, chế tạo tàu cao tốc. Kể từ khi xây dựng nhà máy đóng tàu tại miền Nam Việt Nam, Austal đã xuất xưởng 3 tàu bàn giao cho nước ngoài và đang hoàn thành tàu thứ tư nhờ vào sự kết hợp thành công chuyên môn kỹ thuật của Úc với tay nghề và năng lực của lao động Việt Nam.
Trả lời Báo Thanh Niên, ông Damien Cupitt, Giám đốc Chiến lược Đổi mới Bán lẻ của TLC Modular, cho biết mô hình xây dựng module cho thấy sự phù hợp với một số phân khúc của thị trường Việt Nam, nhất là du lịch, khách sạn và nhà ở trung tầng. Đây là những loại công trình đòi hỏi tiêu chuẩn cao về chất lượng, hiệu suất vận hành và tuân thủ quy định kỹ thuật, và có thể hưởng lợi đáng kể từ việc rút ngắn thời gian thi công tới 40%, qua đó cải thiện tỷ suất hoàn vốn cho các nhà đầu tư dự án.
Ông Cupitt cũng cho biết thêm kinh nghiệm của TLC Modular cho thấy Việt Nam hội tụ đầy đủ những điều kiện cốt lõi để phát triển mô hình này, bao gồm đội ngũ thiết kế, kỹ sư và lao động sản xuất có tay nghề cao; chuỗi cung ứng vật liệu phát triển; cùng hệ thống cảng nước sâu thuận lợi cho logistics. Đây cũng chính là những nền tảng tạo nên thành công của mô hình xây dựng hiện đại mà TLC đang triển khai.
Tổng lãnh sự Wallace chỉ ra những doanh nghiệp trên cho thấy đầu tư của Úc không chỉ dừng lại ở nguồn vốn. Đó còn là sự chuyển giao công nghệ, chia sẻ kỹ năng, phát triển năng lực công nghiệp, tăng cường chuỗi cung ứng và xây dựng quan hệ đối tác lâu dài, đồng thời phản ánh tiềm năng mở rộng đầu tư của Úc trong nhiều lĩnh vực khác trong thời gian tới.
Những ngày qua, giữa biến động của thị trường năng lượng toàn cầu do cuộc chiến ở Iran gây ra, UAE cũng đã chính thức rút khỏi OPEC kể từ ngày 1.5.
Việc UAE rời khỏi OPEC là vấn đề không quá bất ngờ dù thời điểm diễn ra khác với dự báo trước đó. Trước xung đột Iran, OPEC tuy chỉ chiếm hơn 30% tổng lượng khai thác dầu thô toàn cầu, nhưng nhóm này chiếm đến hơn 70% tổng trữ lượng dầu thô toàn cầu. Trong đó, trước khi bùng nổ chiến sự Iran, UAE khai thác khoảng 3,5 - 4 triệu thùng dầu/ngày, chiếm khoảng 15% tổng sản lượng khai thác của OPEC.
Thực tế, từ vài năm qua, UAE đã có nhiều bất đồng với nhiều thành viên khác trong OPEC. Vấn đề bắt nguồn từ chiến lược cắt giảm sản lượng của nhóm. Gần 10 năm qua, OPEC cùng một số đối tác khác (gồm Nga, Azerbaijan, Bahrain, Brunei, Kazakhstan, Malaysia, Mexico, Oman, South Sudan, Sudan) hình thành nhóm OPEC+ theo đuổi chiến lược hạn chế sản lượng khai thác để nâng giá dầu thô.
Tuy nhiên, nếu không tính các thời điểm khủng hoảng do chiến tranh hay căng thẳng chính trị gây ra, giá dầu vẫn không tăng lên mức kỳ vọng mà chiến lược vừa nêu đề ra. Điều này gây ảnh hưởng đến nguồn thu của một số thành viên, nên dẫn đến sự bất đồng. OPEC+ đã nhiều lần thống nhất nới lỏng việc hạn chế xuất khẩu nhưng vẫn không đủ tạo ra sự đồng thuận giữa các thành viên. Vì thế, UAE có thời điểm đơn phương tăng sản lượng khai thác. Trong khi OPEC muốn hạn chế sản lượng khai thác, thì UAE đã đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ tăng sản lượng khai thác lên mức 5 triệu thùng/ngày. Mới đây, UAE đã điều chỉnh kế hoạch đặt mục tiêu vừa nêu ngay trong năm 2027.
Trả lời Reuters về việc rời khỏi OPEC, Bộ trưởng Năng lượng UAE Suhail Mohamed al-Mazrouei cho biết quyết định được đưa ra sau khi xem xét các chiến lược năng lượng của đất nước, UAE cũng đã không thảo luận trước với nước nào khác.
Qua vài thập niên, OPEC thực tế mất dần ảnh hưởng đối với thị trường năng lượng toàn cầu. OPEC từ mức chiếm khoảng 50% tổng sản lượng khai thác toàn cầu, thì tỷ lệ này dần giảm xuống chỉ còn khoảng 30% gần đây.
Không những vậy, cuộc chiến Iran, nhất là khi eo biển Hormuz bị bóp chặt, thì OPEC cho thấy không có khả năng điều phối thị trường năng lượng toàn cầu và vai trò của tổ chức này còn bị Mỹ lấn lướt mạnh mẽ nhất là sau khi Washington can thiệp vào Venezuela hồi đầu năm nay. Vì thế, giới quan sát nhận định việc UAE rút khỏi OPEC có thể xem là phần bắt đầu cho hồi kết của tổ chức này. Thậm chí, sau UAE thì một số thành viên khác có thể cũng nối gót rời khỏi OPEC.
Thực tế vừa nêu khiến cho Ả Rập Xê Út, vốn đóng vai trò "đầu tàu" của OPEC, phải nỗ lực nhiều hơn để tổ chức này giữ vững vị thế.
Không chỉ vậy, việc UAE rời khỏi OPEC được kỳ vọng có thể giúp giá dầu nhanh chóng phục hồi hơn khi căng thẳng Iran kết thúc, eo biển Hormuz được mở cửa trở lại. Bởi khi đó, UAE không còn hạn chế khai thác theo thỏa thuận của OPEC nên nguồn cung có thể tăng nhanh hơn. Cụ thể hơn, nếu UAE thực hiện đúng kế hoạch thì chỉ riêng nước này có thể tăng lượng khai thác thêm 2 triệu thùng/ngày, tương đương 10% mức dầu thô được vận chuyển qua eo biển Hormuz trước khi bị đình trệ do chiến sự Iran.
Xa hơn, Tập đoàn tài chính JP Morgan (Mỹ) nhận định UAE còn có thể thu hút đầu tư lớn hơn từ các công ty Mỹ để tăng lượng khai thác mà không còn bị giới hạn bởi OPEC. Với kịch bản này, Washington còn tăng cường ảnh hưởng mạnh mẽ hơn nữa đối với thị trường năng lượng toàn cầu, nhất là sau khi Mỹ gần như đang kiểm soát ngành dầu mỏ của Venezuela. Như thế, cấu trúc thị trường năng lượng toàn cầu sẽ bị thay đổi đáng kể.
Phát biểu trong buổi họp báo, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran Esmaeil Baghaei tuyên bố Iran sẽ “thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền quốc gia”, đồng thời lên án điều mà ông gọi là “luận điệu đe dọa của các quan chức Mỹ nhằm vào Iran và một số quốc gia trong khu vực”.
Ngoài ra, Tehran khẳng định sẽ đoàn kết với Oman trước “sức ép” từ giới chức Mỹ, theo Hãng tin Reuters.
Trước đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump dường như dọa tấn công đồng minh của Washington là Oman, nếu nước này đứng về phía Iran trong vấn đề mở lại eo biển Hormuz.
Ông Trump nói rằng Oman phải cư xử đúng mực, nếu không ông sẽ "cho nổ tung họ".
Nhà lãnh đạo Mỹ bình luận như vậy khi được hỏi liệu ông có chấp nhận một thỏa thuận ngắn hạn cho phép Iran và Oman kiểm soát tuyến đường biển này hay không.
Liên quan đến diễn biến tiến trình hòa bình, Đài RT (Nga) ngày 28-5 dẫn lời Phó Thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran Ali Bagheri cho biết Mỹ đang đưa ra những yêu cầu “không thể chấp nhận được” trong các cuộc đàm phán với Tehran.
“Iran, cũng như các quốc gia độc lập khác, tin vào hòa bình thông qua đối thoại và đàm phán. Mỹ không tin vào hòa bình thông qua ngoại giao”, ông Bagheri cáo buộc.
Bên cạnh đó, quan chức này nói rằng quan hệ giữa Iran và các quốc gia vùng Vịnh “không xảy ra vấn đề gì”, đồng thời lập luận rằng “sự hiện diện quân sự của Mỹ và Israel là rào cản đối với hòa bình trong khu vực”.
Dù giới chức Mỹ trong tuần này thông báo tiến trình đàm phán Mỹ - Iran đã có tiến triển, tuy nhiên Washington và Tehran đều cáo buộc bên còn lại đưa ra các điều kiện không thể chấp nhận được và không có dấu hiệu gì cho thấy hai bên sẵn sàng nhượng bộ.
Nga đang tích cực nâng cấp các UAV của mình và triển khai công nghệ bầy đàn tập kích. Điều này cho phép các UAV thay đổi đường bay theo thời gian thực trong quá trình thực hiện các cuộc tấn công đường không.
Chuyên gia quân sự Anatolii Khrapchynskyi chia sẻ với RBC-Ukraine, rằng bầy đàn UAV của Nga giờ đây thực sự nguy hiểm hơn cả tên lửa trong một số trường hợp.
Không giống tên lửa hành trình vốn bay theo lộ trình được lập trình sẵn, các UAV hiện đại có khả năng linh hoạt thích ứng với tình huống trên không. Theo chuyên gia, nhờ áp dụng công nghệ liên lạc dạng lưới (mesh), các UAV Nga có thể trao đổi thông tin trực tiếp với nhau ngay trong lúc bay.
Cơ chế hoạt động như sau: nếu những UAV đi đầu trong đội hình bị các tổ hỏa lực cơ động hoặc UAV đánh chặn của Ukraine phát hiện và tấn công, chúng sẽ gửi cảnh báo cho người điều khiển cũng như các UAV phía sau. Thậm chí Nga còn sử dụng một chatbot riêng trên nền tảng nhắn tin để hỗ trợ quá trình này.
“Các UAV phía sau sẽ thay đổi quỹ đạo và tránh khu vực đó vì biết nơi đó đang có mối đe dọa”, ông Khrapchynskyi cho biết.
Ngoài ra, một số UAV Shahed cải tiến hiện đã được trang bị hệ thống trinh sát điện tử. Điều này cho phép chúng tự động phát hiện các đài radar hoặc hệ thống tác chiến điện tử của Ukraine và khóa mục tiêu dựa trên tín hiệu phát xạ.
Theo ông Khrapchynskyi, nguyên tắc phòng không truyền thống “phát hiện rồi tiêu diệt” hiện không còn đủ hiệu quả trước các bầy đàn UAV.
Trong các cuộc tấn công hiện đại của Nga, UAV được phân chia nhiệm vụ rất rõ ràng: Một số làm nhiệm vụ trinh sát, trong khi một số đóng vai trò trạm tiếp sóng thông tin. Một số UAV được thiết kế để đối phó với máy bay Ukraine tìm cách đánh chặn chúng.
Để đối phó hiệu quả, Ukraine cần một “hệ thống phòng không thông minh”, trong đó ưu tiên hạ gục các UAV tiếp sóng thông tin, công cụ giúp bầy đàn vũ khí của Nga "nói chuyện" với nhau.
Theo chuyên gia, khi mất liên lạc, các UAV còn lại sẽ mất khả năng cơ động và phối hợp, trở thành những UAV thông thường dễ bị bắn hạ hơn nhiều.
“Bầy đàn UAV hiện là hướng phát triển triển vọng nhất. Người Nga đang đi theo con đường đó. Chúng ta có thể ngăn chặn họ hay không? Tôi nghĩ là có, vì chúng ta đã có một số giải pháp. Nhưng các biện pháp đối phó của chúng ta sẽ tiếp tục buộc đối phương hiện đại hóa hơn nữa", ông nhận định.
Ông Khrapchynskyi nhấn mạnh rằng mối nguy lớn nhất hiện nay nằm ở việc các công nghệ hiện đại ngày càng dễ tiếp cận.
Theo ông, Nga đang sử dụng cả những linh kiện máy tính dân dụng để nâng cấp vũ khí. Từ nền tảng công nghệ thương mại, họ có thể xây dựng các hệ thống trí tuệ nhân tạo phục vụ mục đích quân sự. Chuyên gia này nhận định, cách triển khai các linh kiện lưỡng dụng như vậy là vấn đề lớn nhất, vì chúng giúp Nga, với tư cách một cường quốc quân sự, có khả năng thích nghi và sản xuất quy mô lớn dù đối mặt với hàng loạt lệnh cấm vận.