Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 34 quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh CĐ ngành giáo dục mầm non, thay thế thông tư năm 2022 (áp dụng khóa tuyển sinh 2027), với những điểm mới được cho là tác động đáng kể tới chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên (GV) của các trường ĐH.
Theo thông tư này, để xác định số lượng tuyển sinh, GV phải ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tối thiểu 3 năm. Điều đó có nghĩa năm 2025 hay 2026 một trường ĐH tuyển được 50 tiến sĩ, 15 thạc sĩ thì số lượng GV mới này không được tính để xác định chỉ tiêu. Quy định mới cũng đưa ra số lượng người học quy đổi trên GV quy đổi không theo nhóm ngành như trước (ví dụ kỹ thuật là 20 sinh viên (SV)/GV, kinh tế 25 SV/GV) mà tính chung là 40 SV/GV cho tất cả nhóm ngành.
Đặc biệt, hệ số quy đổi của GV có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS), trình độ tiến sĩ đều bằng 1 trong khi quy định cũ là GS = 5, PGS = 3 và tiến sĩ = 2. Bên cạnh đó thạc sĩ trước đây có hệ số 1 thì giờ giảm còn 0,75.
Tất cả những con số trên mới chỉ thể hiện năng lực đào tạo. Còn số lượng tuyển sinh được tính theo công thức: năng lực đào tạo – quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến trong năm.
Những điểm nói trên đã tác động trực tiếp tới việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Theo tính toán của một lãnh đạo trường ĐH tại TP.HCM, nếu theo cách tính mới này, chỉ tiêu tuyển sinh các trường có thể sẽ giảm từ 10 – 30%.
Lấy ví dụ, một trường ĐH đào tạo khối ngành kinh tế (có tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 25 SV/GV) có 5 GS, 10 PGS, 100 tiến sĩ và 80 thạc sĩ. Nếu tính theo cách cũ, thì 5 GS được xác định 5 x 5 x 25 = 650 chỉ tiêu, 10 PGS được tuyển 10 x 3 x 25 = 750 chỉ tiêu, 150 tiến sĩ sẽ được tuyển 100 x 2 x 25 = 5.000 chỉ tiêu, 100 thạc sĩ được tuyển 100 x 25 = 2.500 chỉ tiêu. Tổng chỉ tiêu là 8.900.
Nếu tính theo cách mới (tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 40 SV/GV), năng lực đào tạo của GS là 5 x 40 = 200 chỉ tiêu, PGS là 10 x 40 = 400 chỉ tiêu, tiến sĩ là 100 x 40 = 4.000; thạc sĩ là 100 x 0,75 x 40 = 3.000. Tổng năng lực đào tạo lúc này là 7.600, tính ra đã giảm tới 1.300. Chưa kể khi tính theo công thức mới, chỉ tiêu = năng lực đào tạo – quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến, thì số lượng có thể còn giảm thêm.
Tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, cho biết: “Thông tư này nhằm siết quy mô đào tạo ĐH để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo sau ĐH (tối thiểu 15% tổng chỉ tiêu). Một trường mà có nhiều GS, PGS, tiến sĩ thì tỷ lệ chỉ tiêu sẽ giảm khá nhiều so với cách tính cũ”.
Theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, việc xác định số lượng tuyển sinh của nhiều trường sẽ bị thu hẹp hoặc phải tính lại theo hướng thực chất hơn và ít phụ thuộc hơn vào hệ số ưu thế của một số học hàm, học vị cao.
“Trước đây, chỉ cần có một số lượng GS, PGS hoặc tiến sĩ thì tổng số GV quy đổi tăng lên rất mạnh, từ đó kéo theo năng lực đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh tăng tương ứng. Nay khi GS, PGS, tiến sĩ cùng được tính ở mức 1, khoảng chênh lệch đó gần như bị triệt tiêu. Vì vậy, những trường trước đây dựa khá nhiều vào hệ số cao của một đội ngũ GV có học hàm, học vị để xác định chỉ tiêu thì nay sẽ không còn lợi thế như trước. Trong khi những trường có đội ngũ ổn định nhưng không nhiều GS, PGS lại ít bị chênh lệch hơn trước”, tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Nhưng chính vì thế mặt bằng chỉ tiêu giữa các trường sẽ có xu hướng được kéo lại gần nhau hơn. Không còn chuyện cùng một số lượng GV, nhưng chỉ cần cơ cấu học hàm, học vị khác nhau là kết quả chỉ tiêu có thể chênh lệch rất lớn. Với mức quy đổi này kết quả xác định chỉ tiêu sẽ phản ánh sát hơn quy mô đội ngũ thực tế.
Theo tiến sĩ Trần Hữu Duy, cho đến thời điểm hiện tại, quy định GV phải tối thiểu có trình độ thạc sĩ, nên cho dù hệ số quy đổi có giảm thì vai trò của GV có trình độ thạc sĩ là không thay đổi. Tuy nhiên, qua đây cũng có thể thấy quan điểm của Bộ GD-ĐT rất rõ ràng, tiến tới hạn chế GV có trình độ thạc sĩ. Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các trường là phải khẩn trương có kế hoạch đào tạo nâng trình độ của GV, nếu không về lâu dài khi Bộ nâng chuẩn GV lên trình độ tiến sĩ thì sẽ rất khó khăn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng cho rằng quy định mới không hề làm giảm vai trò chính thức của GV trình độ thạc sĩ. Họ vẫn là lực lượng trực tiếp giảng dạy và đóng vai trò quan trọng trong vận hành chương trình đào tạo.
“Ở góc độ quy đổi chỉ tiêu, trọng số của đội ngũ thạc sĩ giảm ảnh hưởng tới những trường vốn dựa nhiều vào thạc sĩ. Nhưng về mặt vận hành, khi hệ số quy đổi thấp hơn, đóng góp của GV thạc sĩ vào năng lực tuyển sinh sẽ giảm so với trước. Điều này có thể dẫn đến việc họ được phân công nhiều hơn ở các học phần cơ bản hoặc đóng vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu. Dù vậy, trong các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, vai trò của GV thạc sĩ, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn, vẫn không thể thay thế. Vì vậy, vấn đề không phải là giảm vai trò mà là tái định vị vai trò cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống”, tiến sĩ Tuấn khẳng định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhận định: “Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương được thể hiện thông qua các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, quy định về xác định số lượng người học… theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là tăng tỷ lệ tiến sĩ. Tuy nhiên, cần có lộ trình phù hợp và phân loại rõ các mô hình ĐH. Nếu áp dụng cứng nhắc có thể dẫn đến giảm chỉ tiêu đào tạo và thiếu hụt nguồn nhân lực cho thị trường lao động”.
Để thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ GV trình độ cao, trong 3 năm trở lại đây và thời gian tới, Trường ĐH Công thương TP.HCM không tuyển thạc sĩ, chỉ tuyển tiến sĩ trở lên với chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đánh giá nguồn GV trình độ tiến sĩ ở VN vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới hoặc liên ngành, hoặc có những ngành chưa đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên đồng loạt, các trường sẽ cạnh tranh rất mạnh để thu hút nhân sự, mà số lượng tiến sĩ trong thời gian tới không thể tăng nhanh như trước đây nên dẫn đến chi phí tăng cao và không phải trường nào cũng có lợi thế như nhau.
“Nếu không có sự linh hoạt trong triển khai và lộ trình hợp lý thì các quy định này có thể làm giảm tính năng động và dẫn đến những hệ lụy không mong muốn như méo mó cơ cấu ngành đào tạo, đặc biệt là gia tăng chi phí học tập. Vì vậy, cần có cơ chế điều chỉnh phù hợp theo từng nhóm ngành, từng loại hình cơ sở đào tạo, thì khi đó mục tiêu nâng cao chất lượng mới có thể đạt được mà không làm triệt tiêu động lực phát triển của hệ thống”, tiến sĩ Tuấn đề xuất.
“Nước ta hướng tới mục tiêu đó là tốt; tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện nay rất thấp. Do đó Bộ cần phải có lộ trình phù hợp cho các trường để nâng chuẩn trình độ GV, thực hiện ngay sẽ rất phi thực tế. Lộ trình này có thể 5 – 7 năm là phù hợp; hoặc đến năm 2035 là hợp lý nhất”, tiến sĩ Trần Hữu Duy nhìn nhận.
Đến ngày 3/4, nhiều đại học công bố lịch nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và dịp 30/4-1/5.
Theo lịch chung, dịp Giỗ Tổ Hùng Vương, người lao động được nghỉ ba ngày 25-27/4. Trong đó, ngày 27/4 nghỉ bù do ngày lễ chính rơi vào chủ nhật. Kỳ nghỉ dịp 30/4-1/5 kéo dài 4 ngày, đến 3/5 do nối tiếp với nghỉ hàng tuần. Các đơn vị vẫn làm việc thứ 7 sẽ được nghỉ ít hơn hai ngày so với lịch trên.
Xen giữa hai kỳ nghỉ là hai ngày làm việc bình thường 28-29/4. Vì vậy, để giảng viên, sinh viên có kỳ nghỉ kéo dài liên tục, Đại học Thương mại, Kinh tế TP HCM, Văn hóa Hà Nội hay Học viện Ngân hàng tổ chức học online vào hai ngày trên. Toàn bộ sinh viên không phải đến trường trong 9 ngày, từ 25/4 đến 3/5, dài bằng dịp nghỉ Tết Nguyên đán.
Trong khi đó, nhiều trường khác như Đại học Công nghiệp Hà Nội, Kinh tế Quốc dân, Thủy lợi, Công nghệ TP HCM, Nguyễn Tất Thành cho sinh viên nghỉ liên tiếp 8 ngày, từ 26/4 đến 3/5.
Còn trường Đại học Ngoại thương, trường Kinh tế - Luật và Khoa học Tự nhiên của Đại học Quốc gia TP HCM, Công thương TP HCM cho sinh viên nghỉ đến 1/5, tức 6 ngày. Tuy nhiên, nếu không có lịch học vào thứ 7 (ngày 25/4 và 2/5), kỳ nghỉ cũng có thể kéo dài 9 ngày.
Để đảm bảo chương trình, trường Đại học Công thương TP HCM tổ chức học bù vào thứ bảy của hai tuần sau kỳ nghỉ. Một số trường như Đại học Thăng Long cho biết không tổ chức dạy online hay dạy bù do đã tính toán trong khung kế hoạch năm học.
Lịch nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và dịp 30/4-1/5 của hơn 20 đại học:
TT
Trường
Lịch nghỉ
Số ngày
1
Đại học Thương mại
25/4-3/5
(kết hợp học online)
9
2
Học viện Ngân hàng
3
Đại học Kinh tế TP HCM
4
Đại học Văn hóa Hà Nội
5
Đại học Công nghiệp Hà Nội
26/4-3/5
(kết hợp học online)
8
6
Đại học Kinh tế Quốc dân
7
Đại học Thủy lợi
26/4-3/5
8
8
Đại học Thăng Long
9
Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
10
Đại học Công nghệ và Quản lý Hữu nghị
11
Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương
12
Đại học Công nghệ TP HCM (HUTECH)
13
Đại học Quốc tế Sài Gòn (SIU)
14
Đại học Gia Định (TP HCM)
15
Đại học Nguyễn Tất Thành (TP HCM)
16
Đại học Ngoại thương
26/4-1/5
(kết hợp học online)
6
17
Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP HCM
18
Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học quốc gia TP HCM
26/4-1/5
(kết hợp học online hoặc học bù)
19
Đại học Công thương TP HCM
26/4-1/5
20
Đại học Công nghệ Đông Á
21
Đại học Đại Nam
28/4-3/5
Ông Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, trường Đại học Công thương TP HCM, cho biết việc hoán đổi hai ngày làm việc bình thường tạo thành kỳ nghỉ kéo dài để giảng viên, sinh viên có thời gian nghỉ ngơi, tăng sức khỏe tinh thần và nâng cao hiệu suất lao động lâu dài.
"Khoảng 50% sinh viên nhà trường đến từ các tỉnh khác ngoài TP HCM, nghỉ lễ dài tạo thuận lợi cho các em về nhà", ông nói.
Theo ghi nhận, một số trường không hoán đổi lịch mà vẫn chia ra hai kỳ nghỉ riêng biệt, như Đại học Công nghiệp TP HCM và Ngoại ngữ - Tin học TP HCM.
Hôm qua 31.5, hơn 123.000 thí sinh Hà Nội kết thúc kỳ thi vào lớp 10. Với đề thi cả 3 môn, giáo viên (GV) và học sinh (HS) đều nhận ra những thay đổi theo hướng tích cực hơn dù có thể thí sinh phải mất thêm thời gian làm quen.
Cô Nguyễn Thị Hứa, nhóm trưởng chuyên môn tổ toán THCS, Trường phổ thông liên cấp Phenikaa, nhận định so với năm 2025, phần hình học năm 2026 có mức độ vận dụng và tính liên kết cao hơn, ít gợi mở hơn, qua đó phân loại hiệu quả HS ở nhóm điểm 9 - 10.
Ở bài toán thực tiễn tối ưu, mặc dù chỉ chiếm 0,5 điểm nhưng cô Hứa nhìn nhận đây là câu hỏi thể hiện rõ tinh thần đổi mới của chương trình. HS phải mô hình hóa bài toán thực tế thành bài toán toán học, thiết lập mối liên hệ giữa số công nhân, thời gian hoàn thành và chi phí để tìm phương án tối ưu. Cách ra đề gần gũi với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và phù hợp với định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề; tăng cường yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tế.
Thầy Đỗ Văn Bảo, GV Trường phổ thông liên cấp Vinschool (Hà Nội), cũng nhận xét nếu đề năm 2025 được đánh giá là bước chuyển mạnh từ kiểm tra kỹ thuật sang đánh giá năng lực vận dụng thì đề năm nay tiếp tục củng cố xu hướng đó.
Các bài toán thực tế xuất hiện ở nhiều vị trí trong đề, như: thống kê chiều cao HS, xác suất rút bóng đánh số, bài toán sản xuất áo theo kế hoạch, bài toán mua hoa, bài toán thể tích bể nước và xô đựng nước, bài toán tối ưu chi phí nhân công và thuê kho xưởng… Phần lớn các bài toán thực tế không chỉ dừng ở việc "đọc hiểu ngữ cảnh" mà yêu cầu HS thiết lập mô hình toán học, lựa chọn công cụ phù hợp rồi giải quyết vấn đề.
Điểm đáng ghi nhận, theo thầy Bảo là đề không yêu cầu những kỹ thuật cực trị phức tạp mà tập trung đánh giá năng lực mô hình hóa toán học từ tình huống thực tế. Đây là hướng ra đề hiện đại và phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay.
Theo thầy Bảo, về khả năng phân loại, HS nắm chắc kiến thức cơ bản có thể đạt từ 6,5 - 7,5 điểm. HS khá có thể đạt 8 điểm trở lên; điểm 9 và điểm 10 chủ yếu phụ thuộc khả năng giải quyết các ý khó của bài hình học tổng hợp và bài toán thực tiễn cuối đề. Số lượng bài đạt điểm tuyệt đối không nhiều, nhưng đề thi vẫn bảo đảm tính công bằng, khách quan và phù hợp mục tiêu tuyển sinh cũng như định hướng đổi mới giáo dục hiện nay.
Cô Hương Giang, GV ngữ văn Trường THCS Archimedes (Hà Nội), nhận xét: Hệ thống câu hỏi có tính phân hóa rõ rệt. Ở các câu hỏi nhận biết, HS dễ dàng chiếm lĩnh điểm số tối đa nếu nắm vững kiến thức nền tảng về thể thơ và từ vựng. Tuy nhiên, đề thi đòi hỏi HS phải thấu hiểu được ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh "trăng", chiều sâu tâm sự của tác giả, và đặc biệt là biết kết nối giá trị của bài thơ với những vấn đề của thời đại hôm nay. Đặc biệt, câu 5 ở phần đọc hiểu là một điểm nhấn, đặt HS trước sự lựa chọn giữa "bằng lòng với thực tại" hay "dấn thân khám phá những chân trời mới" đã trao quyền cho người học, kích hoạt tư duy phản biện của mỗi em.
Bài thi không dừng lại ở một đề thi chuyển cấp mà đặt ra một dấu hỏi cho HS trong thời gian tới. Từ cách ra đề năm nay, cô Giang cho rằng HS lớp 9 năm học tới sẽ phải tiếp tục thay đổi cách học văn. Theo cô, với đề thi này, HS viết xuất sắc sẽ đạt mức điểm từ 8,5 - 9,5 điểm; HS viết trung bình đạt từ 5 - 6 điểm.
Nhiều GV nhận xét hướng ra đề hiện tại triệt tiêu hoàn toàn nạn học vẹt, học tủ, học thuộc văn của thầy cô một cách máy móc, thụ động. Việc này cũng khơi dậy khả năng tư duy độc lập, HS được tự do thể hiện cảm nhận và suy nghĩ mang tính cá nhân.
Muốn vậy, HS sẽ phải luyện tập, thực hành nhiều thì mới có nền tảng kiến thức, kỹ năng để xử lý các đề bài hoàn toàn mới mẻ. GV cũng phải dày công tự nghiên cứu cách truyền đạt kiến thức và kỹ năng để giúp HS thực hiện được các yêu cầu. Về lâu dài, điều này tạo ra những thế hệ HS biết tư duy độc lập, có chính kiến và sử dụng tiếng Việt một cách linh hoạt, sáng tạo.
Dù vậy, cũng có GV băn khoăn nếu đi theo hướng này, việc dạy văn trên lớp sẽ không đi sâu vào tìm hiểu, phân tích văn bản nữa, nhất là các văn bản nghệ thuật chỉ còn mang tính chất minh họa cho thể loại. HS sẽ không còn cơ hội cảm thụ cái hay cái đẹp của văn chương như những thế hệ trước.
Về đề thi môn tiếng Anh, cô Mai Linh, GV tiếng Anh Trường THCS - THPT Marie Curie (Hà Nội), nhận xét: "Đề thi chính thức vào lớp 10 môn tiếng Anh năm nay giữ nguyên cấu trúc so với các năm trước nhưng có một vài điều chỉnh tinh tế về độ khó và dạng câu hỏi, phản ánh rõ định hướng của Chương trình GDPT 2018 là tăng cường năng lực giao tiếp, tư duy ngôn ngữ và ứng dụng thực tiễn".
Sự thay đổi nổi bật, theo cô Mai Linh, là một số câu hỏi có ngữ cảnh thực tế hơn, gần gũi với đời sống HS (ví dụ phần viết lại câu hoặc đọc hiểu). Các câu hỏi yêu cầu HS có khả năng từ vựng tương đối tốt. Điều này phù hợp với Chương trình GDPT 2018.
Đề thi hướng tới kiểm tra năng lực ngôn ngữ toàn diện, không đơn thuần là học thuộc. Ví dụ, phần phát âm - trọng âm, vẫn là dạng quen thuộc nhưng có câu yêu cầu phân biệt tinh tế, tránh học tủ; xuất hiện mẫu hội thoại hằng ngày thực tế, yêu cầu HS hiểu ngữ cảnh và chọn đúng sắc thái.
Đề sát thực tế khi nhiều câu hỏi liên hệ đến đời sống HS: lựa chọn nghề nghiệp, quản lý thời gian cá nhân, tăng tính suy luận. Đặc biệt ở phần đọc hiểu và sắp xếp câu hoàn thành đoạn văn, yêu cầu HS tư duy và vận dụng, không chỉ học thuộc.
Phần đọc hiểu được xây dựng sát thực tế với các chủ đề như đời sống, công việc… Các câu hỏi trong bài kiểm tra khả năng thí sinh trong vận dụng chủ điểm ngữ pháp cơ bản, sắp xếp trật tự từ.
Một số GV cũng chỉ ra rằng nếu năm 2025, các câu hỏi từ vựng - ngữ pháp chủ yếu xuất hiện dưới dạng kiểm tra kiến thức riêng lẻ thì năm nay nhiều câu được đặt trong ngữ cảnh cụ thể hơn, yêu cầu HS hiểu nội dung câu thay vì chỉ áp dụng công thức. Điều này cho thấy xu hướng chuyển từ kiểm tra kiến thức sang đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ đang ngày càng rõ nét.
Đánh giá đề thi có độ phân hóa tốt, cô Mai Linh cho rằng HS trung bình có thể đạt 5 - 6 điểm nếu nắm chắc kiến thức cơ bản. HS khá có thể đạt 7 - 8 điểm. HS giỏi cần cẩn trọng ở phần đọc hiểu và hoàn thành đoạn văn để đạt điểm 9 - 10.
Cũng có ý kiến cho rằng số lượng bài thi đạt từ 8 điểm trở lên sẽ giảm nhẹ so với năm trước. Điểm 9 trở lên vẫn xuất hiện nhưng đòi hỏi HS phải có khả năng đọc hiểu tốt và hạn chế tối đa sai sót ở các câu vận dụng. Điểm 10 sẽ không nhiều do HS dễ mất điểm ở các câu hỏi suy luận, từ vựng ngữ cảnh và bài tập liên kết văn bản.