Ngày 12.5, Thuế cơ sở 9 tỉnh An Giang có công văn yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc, đá quý trên địa bàn cung cấp thông tin người lao động và người thân trong gia đình chủ doanh nghiệp.
Cụ thể gồm: tên, căn cước công dân, địa chỉ, tất cả tài khoản mở tại ngân hàng và tổ chức tín dụng. Người thân trong gia đình chủ doanh nghiệp còn phải cung cấp rõ mối quan hệ với chủ doanh nghiệp.
Theo ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính – Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi), trong bối cảnh gần đây xuất hiện một số vụ việc doanh thu của doanh nghiệp được luân chuyển qua các tài khoản cá nhân thay vì phản ánh đầy đủ trên hệ thống kế toán, cơ quan thuế tăng cường quản lý dòng tiền đối với lĩnh vực vàng, bạc, đá quý là diễn biến có thể hiểu được.
Kinh doanh vàng, bạc, đá quý là lĩnh vực có đặc thù giao dịch giá trị lớn, tốc độ luân chuyển vốn nhanh và tỷ lệ thanh toán tiền mặt còn cao nên luôn nằm trong nhóm cần được giám sát chặt chẽ hơn nhằm bảo đảm tính minh bạch của thị trường.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, cần lưu ý sự hài hòa giữa mục tiêu quản lý và ổn định môi trường kinh doanh.
Nhấn mạnh chủ trương kiểm soát dòng tiền nhằm chống thất thu thuế là cần thiết, song luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, lại chưa đồng tình với cách làm của cơ quan thuế.
Việc yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc cung cấp tất cả số tài khoản của nhân viên cũng như người thân trong gia đình chủ doanh nghiệp là chưa đúng quy định pháp luật hiện hành, vi phạm luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, đồng thời không khả thi trong thực tiễn.
“Doanh nghiệp chỉ quản lý nhân sự nói chung, không thể quản lý cả số tài khoản của nhân viên. Với người nhà chủ doanh nghiệp, mỗi người đều có quyền riêng tư, doanh nghiệp cũng không thể can thiệp, quản lý tài khoản cá nhân.
Đó là chưa kể, nếu họ không chủ động, thành thực cung cấp số tài khoản, dù doanh nghiệp có muốn thu thập cũng không khả thi”, ông Được nói.
Về cách triển khai quản lý dòng tiền, ông Được phân tích, theo quy định của bộ luật Dân sự, doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc cũng như doanh nghiệp kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ khác được phép ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thu tiền hộ.
Do đó, cơ quan thuế muốn kiểm soát dòng tiền, nên thông báo theo hướng: các đơn vị kinh doanh vàng, bạc, bên cạnh tài khoản chính của doanh nghiệp, nếu có ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thu tiền hộ thì phải kê khai đầy đủ số tài khoản của tổ chức, cá nhân đó.
Các đơn vị kinh doanh sẽ tự động kê khai tài khoản thu hộ, có thể là tài khoản của nhân viên thu hộ, người nhà chủ doanh nghiệp thu hộ.
Cách tiếp cận thứ hai vị luật sư đề cập là, chỉ nên yêu cầu các tổ chức kinh doanh vàng, bạc cung cấp danh sách nhân viên, gồm thông tin: họ và tên, căn cước công dân.
Hiện nay, căn cước công dân chính là mã số thuế. Cơ quan thuế có thể yêu cầu tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại phối hợp, cung cấp các số tài khoản liên quan đến từng nhân viên cũng như người thân của chủ doanh nghiệp.
“Trên thực tế, theo quy định của luật Quản lý thuế và Nghị định 126/2020/NĐ-CP, các tổ chức tín dụng định kỳ chậm nhất vào ngày 10 của tháng phải gửi dữ liệu về người nộp thuế mở/đóng tài khoản cho cơ quan thuế bằng phương thức điện tử.
Như vậy, cơ quan thuế vốn đã có dữ liệu về việc mở/đóng tài khoản của người nộp thuế. Trong khi người lao động và người nhà của chủ doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc đều là người nộp thuế. Nguyên tắc là, cơ quan thuế đã có dữ liệu rồi thì không được yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp thông tin nữa”, ông Được nhấn mạnh.
Không riêng gì với doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc, theo ông Được, trong đẩy mạnh kiểm soát dòng tiền, các cách tiếp cận như trên nên được cơ quan thuế áp dụng với mọi ngành nghề có rủi ro cao về thuế. Nên có chỉ đạo thống nhất cách làm từ Cục Thuế (Bộ Tài chính), tránh mỗi thuế cơ sở lại triển khai khác nhau.
Song song với tăng cường quản lý dòng tiền, ông Huy nhấn mạnh, hoàn thiện cơ chế bảo mật dữ liệu, xác định rõ phạm vi trách nhiệm và đẩy mạnh hướng dẫn doanh nghiệp thích ứng với các chuẩn mực quản trị mới sẽ là yếu tố giúp chính sách quản lý thuế đạt hiệu quả bền vững hơn thời gian tới.
Tổng CTCP Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC Corp, HoSE: DIG) vừa thông qua chủ trương không thực hiện góp vốn thành lập Công ty TNHH Bất động sản Saigonres Vạn Xuân, qua đó rút khỏi kế hoạch tham gia liên doanh triển khai Dự án Khu đô thị Nam Tiến 2 tại tỉnh Thái Nguyên.
Theo nghị quyết, DIC Corp giao Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc thực hiện các thủ tục liên quan để hoàn tất việc không góp vốn vào doanh nghiệp này.
Trước đó, hồi tháng 3/2026, DIG đã phê duyệt kế hoạch góp 143,43 tỷ đồng, tương đương 25% vốn điều lệ tại Công ty TNHH Bất động sản Saigonres Vạn Xuân. Pháp nhân mới được thành lập với vốn điều lệ hơn 573,7 tỷ đồng nhằm triển khai Dự án Khu đô thị Nam Tiến 2 tại Thái Nguyên.
Theo phương án ban đầu, CTCP Tổng công ty cổ phần Địa ốc Sài Gòn (Saigonres, HoSE: SGR) góp hơn 258,18 tỷ đồng, tương đương 45% vốn điều lệ; CTCP Hưng Thịnh Incons (HoSE: HTN) góp 172,12 tỷ đồng, tương đương 30%; phần còn lại thuộc về DIC Corp.
Công ty TNHH Bất động sản Saigonres Vạn Xuân được đăng ký thành lập cuối tháng 3/2026, có trụ sở tại phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên, do ông Phạm Thu làm người đại diện theo pháp luật.
Dự án Khu đô thị Nam Tiến 2 có quy mô khoảng 35,2 ha, tổng mức đầu tư hơn 4.253 tỷ đồng. Dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư từ cuối năm 2024 và chính thức khởi công vào tháng 5/2026.
Về kết quả kinh doanh, quý I/2026, DIC Corp ghi nhận doanh thu 144,6 tỷ đồng, giảm 5,4% so với cùng kỳ. Doanh nghiệp tiếp tục báo lỗ sau thuế hơn 9,9 tỷ đồng, dù mức lỗ đã thu hẹp đáng kể so với cùng kỳ năm trước.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV, HoSE: BID) vừa công bố nghị quyết HĐQT phê duyệt phương án tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu.
Theo kế hoạch, BIDV sẽ phát hành thêm hơn 498 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với tỉ lệ 6,8433%, tương ứng tổng giá trị phát hành theo mệnh giá gần 4.982 tỷ đồng.
Nguồn vốn thực hiện được lấy từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025. Thời gian triển khai dự kiến trong quý II-III/2026.
Sau đợt phát hành, vốn điều lệ của BIDV dự kiến tăng từ 72.801 tỷ đồng lên 77.783 tỷ đồng.
Ngân hàng cho biết việc tăng vốn nhằm tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh theo kế hoạch năm 2026, nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện vị thế và thương hiệu BIDV trên thị trường. Đồng thời, đây cũng là bước đi nhằm hỗ trợ thực hiện định hướng phát triển kinh tế Nhà nước theo Nghị quyết số 79 của Đảng và Chính phủ.
Ở chiều kinh doanh, BIDV duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026 với thu nhập lãi thuần đạt 15.734 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước và tiếp tục là nguồn đóng góp lớn nhất vào kết quả hoạt động. Các mảng kinh doanh ngoài lãi cũng ghi nhận nhiều điểm sáng, trong đó lãi thuần từ dịch vụ đạt 1.625 tỷ đồng, tăng 5,6%; kinh doanh ngoại hối mang về 1.108 tỷ đồng, tăng 28,2%. Đáng chú ý, lãi thuần từ hoạt động khác tăng vọt 70%, lên 2.067 tỷ đồng, trong khi thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần đạt 202 tỷ đồng, tăng 61,6%.
Tuy vậy, hoạt động chứng khoán chưa mang lại kết quả khả quan khi mảng chứng khoán kinh doanh chuyển từ lãi 214 tỷ đồng cùng kỳ sang lỗ 27 tỷ đồng, còn chứng khoán đầu tư lỗ 11 tỷ đồng. Dù vậy, nhờ tăng trưởng mạnh ở các mảng cốt lõi, tổng thu nhập hoạt động của BIDV vẫn đạt 20.496 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ.
Cục Thuế (Bộ Tài chính) vừa có công văn về phối hợp ngăn chặn hành vi gian lận thuế sử dụng song song 2 hệ thống sổ sách kế toán tài chính.
Qua công tác quản lý của cơ quan thuế và thông tin từ các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan thuế nhận thấy vẫn còn tình trạng một số doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh thực hiện hành vi gian lận thuế thông qua việc sử dụng phần mềm để vận hành song song 2 hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên cho cùng một đơn vị kinh doanh trong một kỳ kế toán năm.
Trong đó, một hệ thống sổ được sử dụng để báo cáo với cơ quan thuế. Hệ thống sổ còn lại được vận hành nội bộ để ghi nhận đầy đủ doanh thu thực tế với mục tiêu giảm nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.
Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật về thuế theo quy định tại luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, luật Kế toán số 88/2015/QH13 và bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13.
Theo quy định hiện hành, tất cả nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh phải được ghi chép đầy đủ, chính xác, kịp thời trên một hệ thống sổ kế toán tài chính duy nhất.
Cục Thuế đề nghị các tổ chức cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử; các tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế phối hợp triển khai các biện pháp ngăn chặn hành vi gian lận thuế.
Cụ thể, không phát triển, tích hợp hoặc hỗ trợ triển khai các hệ thống phần mềm có khả năng vận hành song song 2 hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên cho cùng một đơn vị kinh doanh trong một kỳ kế toán năm.
Chủ động tích hợp các cơ chế cảnh báo, ghi nhận lịch sử thay đổi dữ liệu và tự động phát hiện dấu hiệu bất thường trong hệ thống phần mềm kế toán, thông báo kịp thời cho khách hàng để phòng ngừa từ sớm nguy cơ bị lợi dụng vào các mục đích gian lận thuế.
Thực hiện kết nối phần mềm quản lý bán hàng, phần mềm kế toán và giải pháp hóa đơn điện tử của các nhà cung cấp để truyền tự động, đầy đủ dữ liệu hóa đơn điện tử của người nộp thuế đến cơ quan thuế theo từng giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ thực tế đảm bảo đúng quy định của pháp luật về sử dụng hóa đơn điện tử.
Đặc biệt, Cục Thuế đề nghị các tổ chức phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế trong cung cấp thông tin về khách hàng vận hành song song 2 hệ thống phần mềm sổ kế toán tài chính (thông tin cung cấp gồm tên người nộp thuế, mã số thuế, địa chỉ trụ sở, địa điểm kinh doanh).
Lập danh sách toàn bộ khách hàng đã sử dụng phần mềm sổ kế toán tài chính do tổ chức cung cấp đến hết ngày 31.3 gửi về Cục Thuế trước ngày 8.4. Đồng thời, định kỳ trước ngày mùng 5 của tháng tiếp theo, các tổ chức gửi thông tin cập nhật các trường hợp thay đổi về danh sách khách hàng sử dụng về Cục Thuế.
Đề cập tình trạng doanh nghiệp sử dụng song song 2 hệ thống sổ sách kế toán, luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn thuế Trọng Tín, phân tích, cơ chế quản lý thuế hiện nay là quản lý rủi ro, doanh nghiệp tự khai, tự chịu trách nhiệm.
Cơ chế này có nhiều lợi ích, nhưng doanh nghiệp lại lợi dụng khe hở từ sự thông thoáng của pháp luật để phạm luật.
Kiểm tra rủi ro thì chuyện chậm phát hiện gian lận của người nộp thuế là khó tránh, theo vị luật sư, nếu người nộp thuế gian manh, sử dụng những thủ đoạn tinh vi cố tình trốn thuế sẽ gây rất nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý.
Để ngăn chặn những trường hợp gian lận thuế dạng này, ông Được nhấn mạnh, giải pháp quan trọng có thể tính tới là nâng cao mức phạt.
"Chế tài xử lý hình sự với hành vi trốn thuế hiện nay chưa đủ sức răn đe khi mức phạt tiền cao nhất chỉ là 4,5 tỉ đồng với cá nhân và 10 tỉ đồng với tổ chức, phạt tù cao nhất là 7 năm.
Cần nâng mức phạt tiền cao lên, đánh mạnh vào yếu tố kinh tế, cũng như nâng mức phạt tù đối với tội trốn thuế nặng hơn, từ đó thức tỉnh, hạn chế được các hành vi trốn thuế, nâng cao hiệu quả của công tác tố giác, phát giác tội phạm trốn thuế", ông Được nói.
Chuyên gia thuế Nguyễn Ngọc Tú, giảng viên Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, cho rằng, thời gian tới, cần tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế. Ngành thuế phải đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, sử dụng hệ thống công nghệ thông tin để sàng lọc, xác định được những trường hợp rủi ro cao về thuế...