Giữa thập niên 1990, Chiến tranh Bosnia bước vào thời kỳ căng thẳng nhất. Đây là cuộc xung đột nổ ra sau khi Nam Tư tan rã, với sự đối đầu giữa các cộng đồng sắc tộc tại Bosnia và Herzegovina, khiến đất nước này bị chia cắt và chìm trong bạo lực kéo dài. Phương Tây ban đầu can thiệp thông qua lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Chiến sự sau đó leo thang, NATO bắt đầu áp đặt vùng cấm bay trên không phận Bosnia nhằm ngăn các bên sử dụng máy bay quân sự.
Tuy nhiên, vùng cấm bay không đồng nghĩa kiểm soát hoàn toàn bầu trời. Lực lượng Serb ở Bosnia vẫn duy trì hệ thống radar và tên lửa phòng không từ mặt đất, đủ khả năng phát hiện và bắn hạ máy bay bay qua khu vực. Vì vậy, các chuyến tuần tra của NATO vẫn hoạt động trong môi trường rủi ro cao.
Ngày 2/6/1995, đại úy Scott O’Grady, phi công F-16 của Không quân Mỹ, đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên không phận Bosnia thì tiêm kích trúng tên lửa đất đối không. Máy bay nhanh chóng bị phá hủy, buộc anh phải kích hoạt ghế phóng để thoát hiểm.
Anh bung dù và tiếp đất trong khu vực rừng núi do lực lượng Serb kiểm soát, nơi nguy cơ bị phát hiện và bắt giữ luôn thường trực.
6 ngày sinh tồn trong im lặng
Sau khi O’Grady chạm đất, những gì anh có là một bản đồ dành cho vùng tây bắc Bosnia có ảnh các loài thực vật ăn được, radio PRC-112 nặng gần 800 gr, bộ dụng cụ sinh tồn gắn dưới ghế chiếc F-16, gồm túi sơ cứu, vài quả pháo sáng, một súng ngắn 9 mm, pin.
Trong suốt gần một tuần, O’Grady áp dụng kỹ năng sinh tồn được huấn luyện. Ban ngày, nam phi công nằm im trong bụi rậm hoặc dưới tán cây, tránh mọi chuyển động có thể bị phát hiện. Ban đêm, anh di chuyển thận trọng để tìm nơi trú ẩn mới.
O’Grady phải ăn côn trùng, cây dại và tận dụng khẩu phần khẩn cấp mang theo. Khi nước dự trữ cạn, anh hứng nước mưa từ lá cây để duy trì sự sống. Anh không sử dụng radio trong nhiều ngày vì lo ngại bị phát hiện.
“Sử dụng thiết bị liên lạc có thể đồng nghĩa với việc tự lộ vị trí”, một quan chức quân sự Mỹ cho biết.
Trong thời gian đó, lực lượng Serb liên tục rà soát khu vực. Có thời điểm, trực thăng tìm kiếm bay rất thấp, đến mức O’Grady có thể nhìn thấy rõ phi hành đoàn. Đến ngày thứ 6, khi thể lực suy giảm và nguy cơ bị phát hiện gia tăng, O’Grady quyết định bật radio trong thời gian ngắn.
“Đây là Basher-52. Tôi còn sống và cần trợ giúp”, anh nói qua radio 2h08 CET ngày 8/6/1995, sử dụng mật danh cá nhân.
Thông tin này được phi cơ tuần tra của NATO thu thập, lập tức kích hoạt một chuỗi quyết định khẩn cấp. Các chỉ huy nhận định rằng cơ hội cứu hộ có thể biến mất nhanh chóng nếu chậm trễ. O’Grady đang ở sâu trong vùng kiểm soát của đối phương, và việc kéo dài thời gian chỉ làm tăng rủi ro.
Chiến dịch 5 giờ
7 phút sau khi thu được tín hiệu, chiến đấu cơ AC-130 mật danh Ghost 45 xác nhận người cầu cứu là O’Grady. Các sĩ quan trên một máy bay cảnh báo sớm (AWACS) báo tin về sở chỉ huy rằng O’Grady vẫn ổn, nhưng thêm rằng “cậu ấy thực sự cần được giải cứu trong đêm nay và tín hiệu radio ngày càng yếu”.
Thông tin về O’Grady được chuyển tới Đô đốc Leighton Smith tại Anh, chỉ huy lực lượng NATO ở miền nam châu Âu.
“Basher-52 vừa liên lạc”, một quan chức thuật lại nội dung tin nhắn. “Đô đốc Smith bật dậy, dồn toàn bộ tập trung vào tình huống”. Các phương án hành động nhanh chóng được cân nhắc. Lệnh TRAP (triển khai chiến dịch thu hồi máy bay hoặc nhân sự) được ban hành.
Tại Washington lúc này là khoảng 21h30 ngày 7/6/1995. Cố vấn an ninh quốc gia Anthony Lake báo tin cho tổng thống Bill Clinton.
Kế hoạch được xây dựng theo mô hình nhiều lớp. Trực thăng đưa lực lượng đổ bộ vào điểm tiếp cận. Tiêm kích và trực thăng tấn công yểm trợ trên không, sẵn sàng phản ứng nếu bị tấn công. Máy bay tác chiến điện tử gây nhiễu radar nhằm giảm khả năng phát hiện.
Lực lượng đặc nhiệm được huy động từ tàu tấn công đổ bộ USS Kearsarge, đang hoạt động ngoài khơi biển Adriatic. Đây là căn cứ gần nhất có đủ trực thăng và lính thủy đánh bộ để thực hiện nhiệm vụ.
Khoảng 40 lính thủy đánh bộ trên tàu Kearsarge lập tức chuẩn bị cho đợt triển khai lúc rạng sáng vào khu vực sâu gần 100 km trong đất liền. Mục tiêu của chiến dịch rất rõ ràng: tiếp cận nhanh, cứu phi công và rút lui trước khi đối phương kịp phản ứng mạnh.
Các lính thủy đánh bộ lên hai trực thăng CH-53E Super Stallion. Hộ tống các trực thăng Stallion là hai trực thăng tấn công AH-1W SuperCobra cùng cặp tiêm kích cất hạ cánh thẳng đứng AV-8B Harrier. Đội bay này còn được yểm trợ bởi các biên đội trực thăng và tiêm kích dự bị cùng loại. Toàn bộ “hạm đội trên không” gồm khoảng 40 phi cơ, được điều phối từ một máy bay AWACS.
“Chúng tôi đã huy động toàn bộ hỏa lực cần thiết”, ông Smith nói.
6h07 ngày 8/6/1995, các máy bay gây nhiễu EA-6B và EF-111 được thiết kế cho tác chiến điện tử bắt đầu chế áp mạnh hệ thống radar và liên lạc trong khu vực, nhằm làm tê liệt khả năng theo dõi của lực lượng Serb. 6 phút sau, một máy bay báo đã bắt được liên lạc với O’Grady.
Ở bên kia biên giới, trong khu vực Croatia do người Serb kiểm soát, một hệ thống radar bắt đầu theo dõi hoạt động trên không phận Bosnia. Trạm radar tại Knin, mật danh Giraffe, được kích hoạt lúc 6h21, cho thấy nếu ban đầu lực lượng Serb còn bất ngờ, thì lúc này họ không còn “mù thông tin” nữa.
Khoảng 6h35, lực lượng Mỹ tiếp cận khu vực thu được tín hiệu từ O’Grady. Các phi công phát hiện một vệt khói màu vàng bốc lên từ tán cây gần một bãi đất đá. O’Grady đã bắn pháo hiệu.
Chiếc CH-53E đầu tiên, do thiếu tá William Tarbutton điều khiển, tránh những cọc hàng rào gỗ có dây thép gai và hạ cánh. Khoảng 20 lính thủy đánh bộ nhanh chóng lao ra, thiết lập vành đai an ninh.
Chiếc CH-53E thứ hai, do đại tá Martin Berndt chỉ huy, vô tình đáp xuống một đoạn hàng rào, buộc phi công phải đưa máy bay lên rồi hạ xuống lại. Phía trên, hai trực thăng tấn công AH-1W lơ lửng yểm trợ, sẵn sàng khai hỏa. Cao hơn nữa, hai tiêm kích AV-8B sẵn sàng cung cấp hỏa lực mạnh hơn nếu cần.
Berndt nhìn qua buồng lái và bất ngờ thấy một người chạy về phía trực thăng, tay cầm súng ngắn vào lúc 6h44. Sương mù khá dày, nên ban đầu Berndt chưa thể biết đó là ai.
“Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra chỉ có thể là anh ấy”, Berndt nhớ lại.
Cửa bên của trực thăng vừa mở được khoảng ba giây thì O’Grady lao thẳng vào khoang. Anh trao khẩu súng cho phi hành đoàn, nhanh chóng khoác áo và đội mũ bảo hiểm bay.
“Thậm chí không ai trong chúng tôi phải rời khỏi trực thăng”, Berndt nói thêm.
Ngay sau đó, trực thăng cất cánh. O’Grady được phủ chăn, nhanh chóng ăn khẩu phần khẩn cấp. 0h49 ngày 8/6/1995 tại Washington (6h49 CET), ngay khi trực thăng CH-35E cất cánh, tổng thống Clinton nhận cuộc gọi báo tin từ cố vấn an ninh quốc gia Lake.
“Đã cứu được cậu ấy”, Lake nói.
“Tuyệt vời! Đây là một chàng trai phi thường”, ông Clinton đáp lại.
Chiến dịch thu hồi, xét về mặt kỹ thuật, diễn ra gần như hoàn hảo trong giai đoạn tiếp cận. Thách thức lớn nhất đến trong giai đoạn rút lui.
Khi đội hình trực thăng rời khỏi khu vực, họ đối mặt với hỏa lực từ mặt đất, bao gồm súng máy và tên lửa vác vai. Một số viên đạn trúng vào thân và cánh quạt trực thăng, nhưng không gây thiệt hại nghiêm trọng.
Lúc 6h58, một sĩ quan trên máy bay gây nhiễu EA-6B đã đề xuất phá hủy trạm radar tại Knin. Tuy nhiên, đề xuất bị bác bỏ do lo ngại leo thang xung đột, bởi khi đó lực lượng Serb đang giữ một số binh sĩ Liên Hợp Quốc làm con tin.
7h07, một trong hai trực thăng cho biết họ bị nhắm bắn bằng tên lửa vác vai nhưng không trúng. Đội hình rút lui an toàn và đưa O’Grady trở lại tàu Kearsarge ngoài khơi.
O’Grady được mọi người chào đón khi trở về Mỹ. Phi công này còn đến thăm Nhà Trắng, được tổng thống Clinton gọi là “một anh hùng nước Mỹ”.
Các tập đoàn lớn như Tata Power và Adani Group đã bắt đầu tìm kiếm cơ hội đầu tư, trong khi New Delhi xúc tiến sửa đổi hàng loạt quy định nhằm thu hút nguồn vốn mới. Liệu những cải cách này có đủ để hiện thực hóa mục tiêu đầy tham vọng đó, hay vẫn còn quá nhiều rào cản phía trước?
Theo tờ Financial Times ngày 2-6, bước ngoặt lớn nhất của cuộc cải cách đến từ quyết định của New Delhi chấm dứt thế độc quyền kéo dài hàng chục năm của Nhà nước trong lĩnh vực điện hạt nhân.
Theo dự luật được Chính phủ Ấn Độ trình lên Quốc hội cuối năm 2025, các doanh nghiệp tư nhân và liên doanh có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài có thể xin giấy phép xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân nếu được Chính phủ lựa chọn.
Trước đây, chỉ có Tổng công ty Điện hạt nhân Ấn Độ (NPCIL) và một số đơn vị nhà nước được phép vận hành các nhà máy điện hạt nhân. Tuy nhiên với mục tiêu nâng công suất từ khoảng 8GW hiện nay lên 100GW vào năm 2047, Chính phủ nhận ra nguồn lực nhà nước khó đáp ứng được yêu cầu về vốn, công nghệ và tốc độ triển khai.
Cuối năm ngoái, Hãng tin Reuters từng đưa tin New Delhi muốn thu hút khoảng 26 tỉ USD từ các tập đoàn trong nước như Tata Power, Adani Power và Reliance Industries - điều này lý giải vì sao các tập đoàn này nhanh chóng xuất hiện trong kế hoạch phát triển của Chính phủ.
Tata Power - công ty điện lực thuộc tập đoàn lớn nhất Ấn Độ Tata Group - là một trong những doanh nghiệp đi đầu. Công ty đang đánh giá ba địa điểm tại các bang khác nhau để phát triển dự án điện hạt nhân.
Giám đốc điều hành Praveer Sinha cho biết Tata Power đã xác định được quỹ đất phù hợp và kỳ vọng hai nhà máy có công suất 220MW sẽ được phê duyệt trong hai năm tới.
Trong khi đó tháng 2 vừa qua, Adani Power thông báo thành lập Adani Atomic Energy Ltd - đơn vị chuyên phụ trách lĩnh vực điện hạt nhân, hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng từ nguồn hạt nhân.
Song song với việc mở cửa cho tư nhân, New Delhi còn tìm cách tháo gỡ một rào cản lâu nay khiến nhiều tập đoàn nước ngoài e ngại: trách nhiệm pháp lý khi xảy ra sự cố hạt nhân.
Dự luật mới bãi bỏ quy định cho phép đơn vị vận hành kiện các nhà cung cấp công nghệ khi có lỗi thiết bị, đồng thời đề xuất thành lập quỹ trách nhiệm hạt nhân và điều chỉnh cơ chế bồi thường theo thông lệ quốc tế - tín hiệu quan trọng để thu hút công nghệ và vốn từ bên ngoài.
Dù triển vọng đầu tư đáng chú ý, con đường hiện thực hóa mục tiêu 100GW vẫn còn nhiều chướng ngại.
Vấn đề nan giải nhất là đất đai. Theo các tài liệu nội bộ mà Hãng tin Reuters tiếp cận, việc thu hồi đất cho các dự án điện hạt nhân thường kéo dài 4 - 5 năm, một phần do quy định yêu cầu duy trì vùng cấm với bán kính tối thiểu khoảng 1km quanh nhà máy, không cho phép có người sinh sống hoặc hoạt động kinh tế.
Để giải quyết, các cơ quan quản lý đang xem xét thu hẹp vùng cấm xuống còn khoảng một nửa đối với một số dự án - thay đổi này có thể giúp tăng công suất lắp đặt trên cùng một địa điểm lên gấp hai hoặc ba lần.
Tuy nhiên đây cũng là nội dung gây tranh cãi nhất trong quá trình cải cách. Các đảng đối lập cho rằng Chính phủ đang quá chú trọng thu hút đầu tư mà chưa giải quyết đầy đủ những lo ngại về an toàn hạt nhân. Nhiều nghị sĩ cảnh báo việc nới lỏng quy định có thể làm suy yếu các cơ chế bảo vệ được xây dựng qua nhiều thập niên.
Ngay cả các doanh nghiệp muốn tham gia cũng thừa nhận còn nhiều khó khăn. Tata Power cho biết chi phí đầu tư điện hạt nhân vẫn rất cao, trong khi các công ty tư nhân Ấn Độ gần như chưa có kinh nghiệm vận hành dự án hạt nhân quy mô lớn.
Nhiều quy định quan trọng về cấp phép, cung cấp nhiên liệu và quy trình phê duyệt vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.
Dù vậy, New Delhi cho thấy sẽ không lùi bước. Với một quốc gia vẫn phụ thuộc lớn vào than đá nhưng đứng trước nhu cầu điện ngày càng tăng, điện hạt nhân được xem là một trong số ít nguồn năng lượng có thể cung cấp điện ổn định với lượng phát thải carbon thấp.
Cường kích A-10 Thunderbolt II của Mỹ đã bị Iran bắn trúng vào ngày 3-4, buộc phi công phải nhảy dù, theo thông tin từ Đài CNN. Phi công đã kịp điều khiển máy bay ra khỏi không phận Iran trước khi thoát ly và sau đó được giải cứu an toàn.
Phía Iran xác nhận đã tấn công mục tiêu này, cho biết hệ thống phòng không của họ đã nhắm bắn chiếc A-10 gần eo biển Hormuz, khiến máy bay rơi xuống vịnh Ba Tư.
Vụ việc diễn ra cùng ngày khi tiêm kích F-15E của Mỹ bị bắn hạ trên lãnh thổ Iran. Một thành viên phi hành đoàn đã được cứu, trong khi người còn lại vẫn mất tích.
A-10 là dòng máy bay một chỗ ngồi, đã tham gia các nhiệm vụ trên không phận Iran trong nhiều tuần gần đây. Hiện Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ chưa đưa ra bình luận về thông tin này.
Hãng tin Mehr của Iran công bố đoạn video tên lửa tấn công cường kích A-10 của Mỹ - Video: MEHR
Hãng thông tấn Fars của Iran đưa tin nước này đã từ chối đề xuất ngừng bắn kéo dài 48 giờ do Mỹ đưa ra.
Nguồn tin được dẫn cho biết đề xuất này được Washington chuyển tới Tehran hôm 2-4 thông qua một quốc gia trung gian không nêu tên. Tuy nhiên Iran không phản hồi bằng văn bản, mà đáp lại "trên thực địa" bằng việc tiếp tục các đợt tấn công quy mô lớn, theo nguồn tin.
Báo cáo cũng cho biết các nỗ lực ngoại giao của Mỹ nhằm chấm dứt giao tranh đang được đẩy mạnh, đặc biệt sau thông tin một kho quân sự của Mỹ trên đảo Bubiyan (Kuwait) bị tấn công.
Theo Hãng tin AFP, lực lượng Mỹ và Iran đang chạy đua tìm kiếm phi hành đoàn của chiếc tiêm kích F-15E bị bắn rơi tại Iran ngày 3-4.
Tehran tuyên bố đã bắn hạ chiếc F-15E, trong khi truyền thông Mỹ cho biết lực lượng đặc nhiệm đã giải cứu được một trong hai thành viên tổ lái.
Truyền thông Iran kêu gọi người dân trong khu vực tham gia truy tìm phi công còn lại, đồng thời treo thưởng cho việc bắt giữ bất kỳ binh sĩ Mỹ nào.
Phía Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ chưa bình luận về vụ F-15E, trong khi Nhà Trắng cho biết Tổng thống Donald Trump đã được báo cáo. Ông Trump khẳng định sự cố này "không ảnh hưởng" đến đàm phán với Iran.
Hai trực thăng Mỹ đã bị trúng hỏa lực Iran trong lúc tham gia chiến dịch tìm kiếm và cứu nạn phi hành đoàn của tiêm kích F-15E, Đài NBC News đưa tin.
Một trong hai thành viên phi hành đoàn đã được giải cứu, trong khi công tác tìm kiếm người còn lại vẫn đang tiếp tục.
Dẫn lời một quan chức Mỹ, báo cáo cho biết toàn bộ binh sĩ trên các trực thăng đều an toàn, bất chấp việc bị trúng hỏa lực trong quá trình làm nhiệm vụ.
Cảnh sát Iran nổ súng vào hai chiếc trực thăng HH-60W của Không quân Mỹ, khi hai máy bay này đang tìm kiếm phi hành đoàn chiếc F-15E - Video: X/@Osinttechnical
Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf đã công khai chỉ trích và mỉa mai Mỹ, sau khi máy bay chiến đấu của Washington bị bắn hạ ngày 3-4, khiến một thành viên phi hành đoàn mất tích.
Theo thông tin ban đầu, quân đội Mỹ đã giải cứu được một phi công trong chiến dịch tìm kiếm, trong khi tình trạng của người còn lại vẫn chưa rõ.
Trên mạng xã hội X, ông Ghalibaf châm biếm rằng chiến dịch quân sự của Mỹ - vốn được cho là nhằm "thay đổi chế độ" - nay đã biến thành lời kêu gọi tìm kiếm phi công mất tích.
"Thật đáng kinh ngạc. Một bước tiến vĩ đại. Đúng là những thiên tài", ông mỉa mai.
Theo một quan chức Israel xác nhận với Đài CNN, Israel đã hoãn một số cuộc không kích dự kiến nhằm vào Iran trong ngày 3-4, nhằm tránh ảnh hưởng đến chiến dịch tìm kiếm và cứu nạn hai thành viên phi hành đoàn trên chiếc tiêm kích F-15E của Mỹ bị bắn rơi.
Ngoài việc tạm dừng tấn công, Israel cũng đề nghị hỗ trợ tình báo cho chiến dịch tìm kiếm, dù hoạt động này chủ yếu do phía Mỹ đảm nhiệm, theo hai nguồn tin Israel.
Ngày 3-4, Israel tiếp tục không kích dồn dập thủ đô Beirut, tuyên bố nhắm vào "hạ tầng của các nhóm vũ trang" tại khu ngoại ô phía nam do Hezbollah kiểm soát. Trước đó quân đội Israel đã cảnh báo sơ tán bảy khu dân cư, với các vụ nổ lớn được ghi nhận.
Chiến sự leo thang trong bối cảnh Israel mở rộng chiến dịch xuống miền nam Lebanon, với mục tiêu thiết lập "vùng an ninh" tới sông Litani.
Cùng lúc đó, Đại sứ quán Mỹ tại Beirut cảnh báo Iran và các lực lượng liên kết có thể nhắm vào các trường đại học tại Lebanon, sau khi Tehran tuyên bố sẽ trả đũa các cơ sở giáo dục bị tấn công trước đó.
Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) hôm nay tuyên bố đã sử dụng "hệ thống phòng không hải quân tiên tiến" để bắn hạ một tiêm kích F-35 Mỹ trên bầu trời miền trung nước này. IRGC thêm rằng máy bay thuộc biên chế phi đoàn đồn trú tại căn cứ không quân Lakenheath ở Anh, nhấn mạnh nó đã bị vỡ vụn nên chưa thể xác định số phận người lái.
Hãng thông tấn Tasnim của Iran cùng ngày công bố hình ảnh các mảnh vỡ được cho là của tiêm kích Mỹ bị bắn rơi, gồm một phần đầu cánh chính với dải đèn định vị ban đêm và cánh đuôi đứng có phù hiệu Lực lượng Không quân Mỹ ở châu Âu (USAFE).
David Cenciotti, tổng biên tập chuyên trang hàng không quân sự Aviationist, nhận định đây thực chất là mảnh vỡ của tiêm kích hạng nặng F-15E, không phải chiến đấu cơ tàng hình F-35. "Vạch màu đỏ trên cánh đuôi đứng là dấu hiệu nhận diện của Phi đoàn Tiêm kích số 494, đơn vị F-15E đồn trú tại căn cứ Lakenheath ở Anh và đã triển khai tới Jordan cho chiến dịch tấn công Iran", ông cho hay.
Các hình ảnh khác cho thấy cụm thiết bị tác chiến điện tử kỹ thuật số (DEWS) thường được bố trí ở chót đuôi tiêm kích F-15E, cũng như hố sâu được cho là nơi máy bay lao xuống đất.
Cenciotti chỉ ra rằng chưa có dấu hiệu nào cho thấy những hình ảnh này đã được chỉnh sửa hoặc tạo bằng AI. Ông cũng bác bỏ ý kiến cho rằng đây là hiện trường tiêm kích F-15E Mỹ rơi do bị Kuwait bắn nhầm hồi đầu tháng 3, do địa hình trong ảnh không trùng khớp với bất kỳ khu vực nào ở Kuwait.
IRGC trước đó cũng tuyên bố bắn hạ một tiêm kích Mỹ trên không phận đảo Qeshm ở miền nam Iran, kèm theo video từ cảm biến hồng ngoại đang bám bắt một máy bay liên tục cơ động và thả mồi bẫy, nhưng không có cảnh máy bay trúng đạn hay bị rơi.
Cenciottin cho rằng đây dường như là chiến đấu cơ F-15, nhưng chưa rõ có liên quan đến những mảnh vỡ được công bố hay không.
Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ ở Trung Đông, chưa đưa ra bình luận về hình ảnh các mảnh vỡ, nhưng khẳng định "tất cả chiến đấu cơ Mỹ đã được kiểm đếm".
Nếu được xác nhận, đây sẽ là máy bay có người lái đầu tiên của Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời Iran kể từ khi xung đột bùng phát.
CENTCOM hôm 19/3 thông báo một tiêm kích tàng hình F-35A Mỹ phải hạ cánh khẩn cấp sau khi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trên bầu trời Iran, nhưng không nêu nguyên nhân cụ thể.
IRGC sau đó công bố video cảm biến hồng ngoại đang bám bắt chiếc F-35A, trước khi tên lửa phòng không phát nổ ở khoảng cách gần và khiến nó bị hư hại. Tạp chí Air & Space Forces của Mỹ hôm 22/3 dẫn nguồn thạo tin cho biết sự việc đã khiến máy bay hỏng nặng và khó lòng trở lại hoạt động trong tương lai gần, phi công cũng bị thương do trúng mảnh văng.
Tiêm kích đa năng F-15E Strike Eagle được Mỹ phát triển vào thập niên 1980, dựa trên thiết kế chiến đấu cơ hai chỗ ngồi F-15B. Mỗi chiếc có giá xuất xưởng khoảng 31 triệu USD vào thời điểm năm 1998, tương đương gần 62 triệu USD hiện nay, chưa kèm theo vũ khí.
Biến thể này được bổ sung khả năng tiến công mặt đất với độ chính xác cao, thay vì chỉ giới hạn ở năng lực đối không như dòng F-15 nguyên bản, có khả năng thực hiện các nhiệm vụ công kích sâu trong không phận đối phương mà không cần phụ thuộc vào máy bay tác chiến điện tử hoặc tiêm kích hộ tống.