Tháng 3/1998, Amy Lynn Bradley biến mất khỏi du thuyền Rhapsody of the Seas khi con tàu đang trên hành trình tới Curacao (thuộc châu Mỹ).
Bảy năm sau ngày mất tích, gia đình cô nhận được một bức ảnh gây ám ảnh, làm dấy lên nghi vấn người phụ nữ này có thể đã trở thành nạn nhân của đường dây buôn người.
Cô gái mất tích bí ẩn trên du thuyền giữa vùng biển Caribbean
Gia đình Bradley đến từ Mỹ gồm ông Ron, bà Iva cùng hai người con Amy và Brad lên du thuyền Rhapsody of the Seas thuộc hãng Royal Caribbean vào ngày 21/3/1998 tại Puerto Rico (khu vực nằm ở phía đông bắc vùng biển Caribbean).
Hành trình của họ kéo dài qua Aruba rồi tới Curacao thuộc quần đảo Antilles của Hà Lan.
Tối 23/3, Amy và em trai Brad có tham gia bữa tiệc tại câu lạc bộ trên tàu. Họ nhảy cùng ban nhạc mang tên e Orchid. Amy có trò chuyện với một số thành viên ban nhạc và nhảy với một người trong số đó. Người đàn ông có biệt danh Yellow, tên thật là Alister Douglas.
Khoảng 1h sáng, hai chị em mới trở về căn phòng của gia đình trên tàu. Đó cũng là lần cuối Brad nhìn thấy chị gái.
“Điều cuối cùng tôi nói với Amy trước khi đi ngủ là, em yêu chị. Tôi vẫn thấy day dứt vì không nghĩ đây là câu nói cuối cùng”, Brad nhớ lại.
Tới 5h30 ngày 24/3/1998, ông Ron Bradley bước ra ban công cabin trên du thuyền của hãng và nhìn thấy con gái mình, Amy Lynn Bradley, đang nằm nghỉ trên ghế.
Mọi thứ lúc đó dường như hoàn toàn bình thường.
Nhưng chỉ khoảng 30 phút sau, khi ông quay lại nhìn lần nữa, Amy đã biến mất không dấu vết.
Từ khoảnh khắc ấy, cô gái trẻ không bao giờ được gia đình nhìn thấy thêm một lần nữa.
Ông Ron kiểm tra phòng ngủ của con gái nhưng không thấy cô đâu. Những vật dụng cá nhân của Amy gần như vẫn còn nguyên, chỉ thiếu thuốc lá và bật lửa. Ngay cả đôi dép cô cũng không mang theo.
Gia đình bắt đầu hoảng hốt đi tìm Amy khắp các khu vực chung trên tàu và đề nghị thủy thủ đoàn hoãn cập cảng Curacao để tìm kiếm, nhưng yêu cầu này bị từ chối.
Sáng hôm đó, cầu dẫn xuống cảng được mở và hành khách cùng nhân viên lần lượt rời tàu.
Nếu Amy tự rời đi, đây là cơ hội để cô hòa vào đám đông. Nhưng gia đình Bradley không tin cô bỏ đi một cách tự nguyện.
Khi ấy, cô vừa nhận được công việc mới, căn hộ mới tại bang Virginia (Mỹ) và đặc biệt rất yêu quý chú chó có tên Daisy của mình.
Điều khiến gia đình lo sợ hơn là khả năng Amy bị bắt cóc rồi đưa xuống tàu ngay khi cập cảng.
Nghi ngờ hướng về các nhân viên trên du thuyền
Trong lúc gia đình cuống cuồng tìm kiếm, họ cho rằng thủy thủ đoàn phản ứng khá thờ ơ.
Theo lời kể của gia đình Bradley, nhân viên tàu từ chối phát loa tìm kiếm Amy cho tới khi tàu cập cảng vì không muốn làm hành khách khác hoảng sợ. Các bức ảnh của Amy cũng không được treo lên tàu.
Dù con tàu được khám xét, việc kiểm tra chủ yếu diễn ra ở khu vực công cộng, thay vì các cabin của nhân viên và hành khách.
Gia đình Amy bắt đầu nghi ngờ một số nhân viên trên tàu đã chú ý quá mức tới cô gái trẻ.
“Một số thành viên thủy thủ đoàn đặc biệt quan tâm tới Amy ngay từ đầu”, bà Iva Bradley từng chia sẻ.
Ông Ron nhớ lại có lần một nhân viên phục vụ hỏi tên con gái mình rồi nói đề nghị mời cô tới dùng bữa tại một nhà hàng khi tàu cập bến Aruba.
Khi ông hỏi lại Amy khẳng định cô sẽ không đi đâu với những nhân viên đó vì thấy sợ.
Gia đình Bradley còn nhận được lời khai từ nhiều nhân chứng cho biết họ nhìn thấy Amy gần khu vực câu lạc bộ trên tàu vào khoảng 6h sáng hôm cô mất tích. Khi đó, cô được cho là đi cùng Alister Douglas – một thành viên trong ban nhạc với nghệ danh Yellow. Tuy nhiên, người đàn ông phủ nhận thông tin.
Suốt nhiều tháng tiếp theo, gia đình liên tục tìm con. Họ thuê thám tử tư, lập trang web và đường dây nóng 24/24 để chờ tin tức, nhưng không nhận được kết quả rõ ràng.
Những lần “nhìn thấy Amy” gây rúng động
Nỗi lo của gia đình không phải không có cơ sở. Sau khi Amy mất tích, nhiều người tại khu vực Caribbean khẳng định từng nhìn thấy cô trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Tháng 8/1998, chỉ 5 tháng sau vụ việc, 2 du khách Canada cho biết họ gặp một phụ nữ trên bãi biển có ngoại hình giống Amy.
Người phụ nữ này còn sở hữu những hình xăm trùng khớp với Amy, gồm hình nhân vật Tasmanian Devil cầm bóng rổ trên vai, hình mặt trời ở lưng dưới, ký tự ở mắt cá chân phải và hình thằn lằn gần rốn.
Một trong hai nhân chứng tên David Carmichael khẳng định ông “chắc chắn 100%” đó là Amy Lynn Bradley.
Năm 1999, một người đàn ông Mỹ khi tới một nhà thổ ở Curacao cho biết, ông gặp một phụ nữ tự nhận tên Amy Lynn Bradley và cầu xin giúp đỡ.
Tuy nhiên, người này không báo cảnh sát ngay vì sợ gặp rắc rối. Chỉ tới khi nhìn thấy ảnh Amy trên tạp chí People, ông mới trình báo.
Cũng trong năm đó, gia đình Bradley trở thành nạn nhân của một vụ lừa đảo đau đớn.
Một người đàn ông tên Frank Jones tự nhận có thể giải cứu Amy khỏi tay nhóm người xấu tại Curacao. Gia đình Bradley đã đưa cho Jones 200.000 USD trước khi phát hiện hắn là kẻ lừa đảo.
“Nếu vẫn còn hy vọng thì bạn còn biết làm gì nữa? Nếu đó là con của bạn, bạn sẽ làm gì? Chúng tôi đã đánh cược và rồi thất bại”, người bố đau đớn nói.
Bức ảnh năm 2005 khiến gia đình ám ảnh
Khoảng 6 năm sau ngày Amy mất tích, một phụ nữ cho biết bà gặp một người tự xưng là “Amy đến từ Virginia” trong nhà vệ sinh của một cửa hàng bách hóa tại Barbados.
Theo lời kể, người phụ nữ này dường như đang bị kiểm soát bởi 2-3 người đàn ông đi cùng.
Năm 2005, gia đình Bradley nhận được email chứa bức ảnh một phụ nữ nằm trên giường chỉ mặc đồ lót.
Một tổ chức chuyên tìm kiếm nạn nhân buôn người trên các trang web người lớn cho rằng người trong ảnh rất giống Amy.
Người phụ nữ trong bức ảnh được giới thiệu với tên “Jas”, một lao động mại dâm hoạt động tại Caribbean.
Dù bức ảnh gây chấn động mạnh, manh mối này cuối cùng cũng không giúp cơ quan điều tra tìm ra tung tích Amy.
Đến nay, vụ mất tích của Amy Lynn Bradley vẫn chưa có lời giải.
Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) cùng gia đình Bradley hiện vẫn treo thưởng lớn cho bất kỳ thông tin nào liên quan tới nơi ở của cô gái.
Tuy nhiên, sau gần 30 năm trôi qua, sự biến mất của Amy Lynn Bradley vẫn là một trong những bí ẩn gây ám ảnh nhất từng xảy ra trên du thuyền.
Nằm gần Vườn quốc gia Tràm Chim, homestay Tư Cá Linh (xã Phú Thọ, tỉnh Đồng Tháp) mang đến cho du khách cảm giác thư thái khi mỗi buổi sáng thức dậy được nghe chim hót và ngắm nắng sớm phủ vàng trên những cánh sen. Không gian thanh bình, tách biệt khỏi nhịp sống ồn ào phố thị khiến nơi đây trở thành điểm đến lý tưởng cho những ai muốn tìm cảm giác sống chậm.
Ông Nguyễn Bé Tư (70 tuổi), chủ homestay cho biết, trước đây gia đình chủ yếu làm ruộng. Vài năm gần đây, nhận thấy xu hướng khách du lịch thích không gian đồng quê nên ông mạnh dạn chuyển đổi 3.000 m2 đất sang trồng sen kết hợp lúa để làm du lịch. Nhằm phục vụ khách tham quan, sen trồng theo hướng tự nhiên, hạn chế tối đa thuốc bảo vệ thực vật. "Trồng sen làm du lịch nên tôi chỉ bón phân dưới nước, không phun xịt. Sau khoảng 2 tháng trồng là có thể thu hoạch gương sen non để bán cho khách", ông Tư nói.
Từ ruộng sen đơn thuần, gia đình ông Tư dần cải tạo thành homestay với những căn bungalow mộc mạc nằm giữa đầm sen và ruộng lúa, tùy theo mùa vụ. Mô hình không chỉ giúp tăng thêm thu nhập mà còn mở ra hướng đi mới cho nhiều nông dân địa phương trong bối cảnh nghề trồng lúa thường bị "được mùa mất giá".
Đến homestay Tư Cá Linh nghỉ dưỡng, du khách còn được trải nghiệm cuộc sống miền Tây đúng nghĩa, như: chèo xuồng giữa đầm sen, hái gương sen, bắt cá, nướng cá lóc bên bờ ruộng và ngồi nghe đờn ca tài tử lúc chiều xuống. Những điều quen thuộc với người dân địa phương nhưng là trải nghiệm mới mẻ, thú vị đối với du khách thành thị.
Tại đây, sự giản dị lại chính là đặc sản. Những căn bungalow gỗ nhỏ, sạch sẽ nằm lọt thỏm giữa đầm sen và cánh đồng lúa xanh ngát mang đến cảm giác thư thái, gần gũi với thiên nhiên. Nhiều du khách cho biết họ tìm đến nơi này không chỉ để nghỉ ngơi mà còn để tận hưởng cảm giác bình yên hiếm có giữa miền quê Đồng Tháp.
Thời điểm đẹp nhất để khám phá vùng đất này là mùa nước nổi, từ tháng 8 đến tháng 11. Khi ấy, sen nở rực rỡ, cá tôm theo nước về đầy đồng, tạo nên khung cảnh miền Tây vừa thơ mộng vừa trù phú.
Không chỉ thu hút khách bởi cảnh sắc, homestay Tư Cá Linh còn gây ấn tượng với những món ăn dân dã đậm đà hương vị miền Tây như: cá lóc nướng trui, cá nướng bọc lá sen, cá kho rệu, cá nhúng mẻ, gà giã cối, cơm sen hay các món chế biến từ cá đồng mùa nước nổi. Đặc biệt, phần lớn món ăn do chính vợ ông Tư trực tiếp chế biến. Không cầu kỳ, sang trọng, nhưng chính những bữa cơm "cây nhà lá vườn" khiến du khách nhớ mãi sau chuyến đi.
Giữa không gian mênh mông của đồng sen và ruộng lúa, homestay Tư Cá Linh không chỉ là nơi lưu trú mà còn là câu chuyện về cách người nông dân Đồng Tháp làm du lịch từ chính những điều bình dị nhất của quê hương mình.
Những ngày qua, video ghi lại trải nghiệm tại một quán ăn có nhân viên khiếm thính phục vụ ở Đà Nẵng của du khách người Anh tên Reuben Charles đã thu hút sự quan tâm của dư luận.
Trong video, anh Reuben Charles chia sẻ cảm giác bất ngờ khi bước vào một không gian gần như không có tiếng nói. Các nhân viên giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ ký hiệu, còn thực khách gọi món thông qua cử chỉ, ánh mắt.
Ngay tại nhà hàng, thực đơn và đồng phục nhân viên đều có dòng chữ “Silent Note” nhằm thông báo với khách rằng người phục vụ bị khiếm thính và không thể nghe thấy âm thanh như bình thường.
Anh Reuben Charles cho biết câu chuyện xảy ra vào ngày 13/4. Ban đầu, anh dự định dùng bữa tại một nhà hàng khác nhưng tình cờ ghé vào nhà hàng trong video.
“Tôi nhìn thấy nhân viên dùng ngôn ngữ ký hiệu để giao tiếp với nhau. Sau khi tìm hiểu, tôi nhận ra đây là một nơi rất đặc biệt và quyết định ghi lại trải nghiệm của mình như một đoạn phim tài liệu nhỏ”, anh Reuben Charles nói.
Điều khiến nam du khách ấn tượng nhất là sự thân thiện và tận tâm của các nhân viên. Khi không biết cách ăn món bún chả, anh đã được một nữ nhân viên kiên nhẫn hướng dẫn bằng cử chỉ.
“Khoảnh khắc đó thực sự làm tôi cảm động và cuối cùng nó trở thành phần yêu thích của tôi vì cảm giác chân thật, chân thành của nhân viên”, anh Reuben Charles chia sẻ.
Theo du khách người Anh, trước đây anh chưa từng đến một nơi nào như nhà hàng “không có tiếng nói” này. Anh cho rằng mô hình này không chỉ tạo cơ hội việc làm cho người khiếm khuyết mà còn mang đến kỷ niệm đặc biệt cho khách hàng.
“Đôi khi ở nhà hàng, những sai sót nhỏ dễ khiến mọi người khó chịu. Nhưng ở đây, khách hàng học được sự kiên nhẫn và cảm thông nhiều hơn”, anh Reuben Charles nói thêm.
Anh Reuben Charles cũng dành nhiều lời khen cho con người và văn hóa Việt Nam, đặc biệt là miền Trung. Anh cho biết Đà Nẵng và Hội An đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong chuyến đi của mình và chắc chắn sẽ còn quay lại trong tương lai.
Chủ nhà hàng trong video cho biết ý tưởng tuyển dụng lao động khiếm thính bắt đầu từ năm 2019, khi chị gặp một nam thanh niên câm điếc đi xin việc. Ban đầu, chị chỉ giao những công việc đơn giản, nhưng dần dần các nhân viên hòa nhập tốt hơn, còn những người làm cùng cũng chủ động học ngôn ngữ ký hiệu để hỗ trợ nhau.
“Sau một thời gian, mọi người đều tìm được cách làm việc chung. Chính các bạn hỗ trợ ngược lại cho quán rất nhiều. Đến nay hệ thống nhà hàng đã có khoảng 30 nhân viên là người khiếm thính làm việc”, chủ quán chia sẻ.
Thời gian đầu, việc vận hành gặp không ít khó khăn do giao tiếp với khách chưa thuận lợi. Để khắc phục, quán phải điều chỉnh cách vận hành trong gần một năm, phân chia khu vực phục vụ rõ ràng và dùng màu áo khác nhau để khách dễ nhận biết nhân viên có thể giao tiếp bằng lời nói.
Ngoài ra, quán còn sử dụng các tín hiệu riêng như tiếng động hoặc tiếng huýt sáo để báo món, gọi hỗ trợ.
Chùa Kompong Chrây hay còn gọi là chùa Hang tọa lạc tại xã Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long hiện lên với kiến trúc Phật giáo Nam tông Khmer đặc trưng, trầm mặc và cổ kính. Du khách không khỏi trầm trồ bởi kiến trúc vô cùng độc đáo mà còn tận mắt ngắm nhìn những bức tượng được làm từ gỗ cây cổ thụ.
Tại Chùa Hang mùa này còn nghe được âm thanh rộn ràng của đàn chim trời trong khuôn viên. Nơi đây vốn được nhiều người biết đến là nơi lưu trú của rất nhiều loài chim, cò với số lượng có thời điểm lên đến hàng chục ngàn con.
Đặc biệt vào mùa cò trắng sinh sản (khoảng từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm), nơi đây như một bức tranh thiên nhiên sinh động làm mê hoặc du khách.
Theo Ban quản trị chùa Hang, sau khi xây dựng được vài năm (xây dựng năm 1637), chim trời tìm về nơi đây. Nhưng từ những năm 60 của thế kỷ trước, bom đạn chiến tranh khiến sân chùa vắng lặng, không tiếng chim.
Đến những năm 1990, chim cò mới lại kéo nhau về chùa Hang sinh sống. Từ vài chục con, rồi lên hàng trăm con, có thời điểm ước tính cả chục ngàn con.
Chùa rộng khoảng 7ha, có nhiều chủng loài thực vật đặc hữu như cây sao, dầu, tre, trúc, me... chen nhau thành nhiều tầng cao thấp khác nhau rất có giá trị về mặt sinh quyển. Nơi đây là mái nhà yên bình để chim trời làm tổ.
Vào mùa khô chim đi nơi khác kiếm ăn, số lượng ở lại chùa còn rất ít. Nhưng hễ mưa xuống, cây cối tốt tươi là đàn chim lũ lượt bay về. Chim trời tại đây chủ yếu là cò trắng, cò ngà, cồng cọc, vạc...lên đến hàng ngàn con.
Chim làm tổ mọi nơi, đậu trên các mái chùa, trên sân, trên cây...Những chú chim rất dạn người, đi lại trong khuôn viên chùa dù có người đến rất gần.
Các sư, phật tử ở đây cũng thường xuyên rải thức ăn cho chim. Nhà chùa đặt ra những quy định bảo vệ chim và bảo vệ cây rừng rất nghiêm ngặt, tạo ra môi trường tự nhiên an bình cho chim trời về trú ngụ.
Một số hình ảnh sống động của các loài chim được ghi nhận tại chùa Hang, tỉnh Vĩnh Long.