Mỗi khi bàn về cải tạo đô thị, nhiều người thường nghĩ đến việc thay thế chợ truyền thống bằng trung tâm thương mại, siêu thị hoặc các tổ hợp cao tầng hiện đại.
Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể bỏ qua giá trị lớn nhất của chợ: Đây không chỉ là nơi mua bán, mà còn là một hạ tầng dân sinh đặc biệt đã hình thành và phát triển cùng quá trình đô thị hóa của Việt Nam.
Rất nhiều khu dân cư hình thành xung quanh chợ chứ không phải ngược lại. Những nơi có bến sông, ngã ba đường hay tuyến giao thông đông đúc thường xuất hiện người bán hàng trước.
Khi hoạt động mua bán ngày càng nhộn nhịp, người dân mới đến sinh sống, hình thành làng xóm, thị tứ rồi phát triển thành đô thị. Có thể nói, chợ chính là một trong những “điểm vàng” đã được thị trường và cộng đồng lựa chọn qua nhiều thế hệ.
Khác với siêu thị, chợ không chỉ có những hộ kinh doanh cố định mà còn có người bán hàng theo ngày, theo mùa vụ, nông dân mang nông sản đến tiêu thụ trực tiếp hoặc những hộ kinh doanh nhỏ lẻ mới khởi nghiệp. Chính sự linh hoạt này giúp chợ tạo ra nhiều việc làm và cơ hội mưu sinh hơn rất nhiều so với các mô hình bán lẻ hiện đại.
Thực tế cho thấy một số dự án cải tạo chợ thất bại vì vô tình làm mất đi bản chất tồn tại dựa vào người lưu thông của chợ. Khi chợ bị đưa vào một khu vực khác lưu lượng người đi qua giảm mạnh. Người bán mất khách vãng lai, trong khi mô hình mua sắm lại không hiện đại bằng siêu thị. Kết quả là tiểu thương không muốn vào kinh doanh, còn người dân cũng không còn mặn mà mua sắm.
Theo tôi, thay vì xóa bỏ chợ truyền thống, chúng ta nên nâng cấp nó thành một tổ hợp đô thị đa chức năng lấy chợ làm hạt nhân phát triển. Đây sẽ là mô hình phát triển đô thị đa chức năng lấy chợ làm hạt nhân, tích hợp thương mại, nhà ở, dịch vụ công, không gian làm việc và tiện ích cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo động lực phát triển kinh tế địa phương.
Đối tượng phù hợp nhất để thí điểm là các chợ quy mô khoảng 3.000 – 5.000 m2 tại các xã, phường vùng ven thành phố lớn hoặc các khu vực nông thôn đang chuẩn bị đô thị hóa. Đây thường là những khu đất công nằm ở vị trí trung tâm, có lưu lượng người qua lại lớn nhưng hiện mới chỉ khai thác một tầng trong vài giờ hàng ngày.
Trong mô hình này, tầng hầm được sử dụng làm bãi xe và kho vận.
Tầng trệt vẫn là chợ dân sinh với các quầy thực phẩm tươi sống, chợ phiên cho nông dân và khu vực kinh doanh linh hoạt. Không gian được thiết kế thông thoáng như một khu phố thương mại có mái che, cho phép xe máy lưu thông chậm nhằm tạo thuận lợi cho việc tiếp cận mua bán nhanh và vận chuyển hàng hóa. Hoạt động cả sáng, chiều và đêm không nghỉ.
Tầng một có thể bố trí siêu thị, ngân hàng, dịch vụ kế toán, tư vấn pháp lý và điểm giao dịch hành chính công. Các tầng tiếp theo là văn phòng nhỏ, không gian làm việc chung, lớp học kỹ năng hoặc đào tạo nghề.
Phía trên là các căn hộ cho thuê với nhiều diện tích khác nhau, từ 25 m2 đến 75 m2. Người thu nhập thấp có thể thuê căn nhỏ, người có điều kiện hơn có thể thuê căn lớn. Bên cạnh hình thức thuê hàng năm, có thể nghiên cứu hợp đồng thuê dài hạn 50 năm với quyền chuyển nhượng đơn giản thông qua văn phòng giao dịch ngay trong tòa nhà.
Điều quan trọng là khu nhà ở này không chỉ dành cho người thu nhập thấp. Một cộng đồng cư dân đa dạng sẽ tạo ra nhu cầu tiêu dùng đa dạng. Người có thu nhập cao hơn sử dụng nhiều dịch vụ hơn, từ đó tạo thêm việc làm cho những người có thu nhập thấp. Đây là cách để hình thành một hệ sinh thái kinh tế bền vững ngay trong lòng khu dân cư.
Tầng mái có thể được khai thác thành không gian cộng đồng với sân sinh hoạt chung, khu vui chơi, nhà hàng, quán cà phê hoặc các hoạt động dịch vụ. Nhờ đó, một khu đất chợ chỉ khoảng 3.000 m2 có thể vận hành như một thị trấn thu nhỏ theo chiều đứng.
Mô hình này không chỉ là thay thế chợ bằng một công trình hiện đại hơn. Đó là sự tiến hóa của chợ truyền thống, giúp nâng cấp chức năng ban đầu của nó. Chợ vẫn là nơi tạo việc làm, tạo cơ hội kinh doanh và kết nối cộng đồng, nhưng đồng thời còn cung cấp nhà ở, dịch vụ công, văn phòng và các tiện ích đô thị khác.
Trong bối cảnh quỹ đất ngày càng hạn chế, việc tận dụng các khu chợ hiện hữu để phát triển mô hình này có thể là một hướng đi đáng cân nhắc. Thay vì xây dựng các trung tâm mới từ con số không, chúng ta có thể phát triển đô thị dựa trên những hạt nhân kinh tế – xã hội đã tồn tại và được cộng đồng lựa chọn qua nhiều thế hệ.
Tôi sống ở khu vực An Sương. Dù cùng nằm trong TP HCM nhưng gần như cả năm tôi không đi xuống quận 7 cũ.
Nếu chạy xe máy hoặc ôtô từ An Sương xuống quận 7, Thủ Thiêm hay khu vực phía Đông thành phố thì thường mất khoảng một giờ, chưa kể kẹt xe. Nhiều người sống ở phía Tây thành phố chắc cũng có cảm giác tương tự. Chúng ta vẫn ở chung một thành phố nhưng khoảng cách về thời gian khiến mỗi khu vực gần như trở thành một "thế giới riêng".
TP HCM đang quy hoạch một mạng lưới metro rất lớn. Đây là hướng đi đúng và cần thiết. Nhưng khi nhìn vào bản đồ quy hoạch, tôi có một băn khoăn: Nếu sau này mạng lưới metro hoàn thành, người dân từ An Sương, Tân Kiên hay Suối Tiên sẽ mất bao lâu để đi tới Thủ Thiêm?
Bởi phần lớn các tuyến metro hiện nay được thiết kế theo hướng đưa hành khách vào khu vực trung tâm rồi mới tỏa đi các hướng khác. Muốn đi từ cực này sang cực khác của thành phố, nhiều trường hợp vẫn phải đi qua trung tâm hoặc chuyển tuyến tại các ga lớn.
Điều đó có nghĩa là metro sẽ giúp người dân có thêm lựa chọn đi lại, nhưng chưa chắc giải quyết triệt để bài toán thời gian giữa các cực của thành phố.
Tôi lấy một ví dụ đơn giản. Trong tương lai, nếu tuyến đường sắt tốc độ cao TP HCM - Cần Thơ được xây dựng, người dân có thể chỉ mất khoảng một giờ để đi từ Cần Thơ đến Tân Kiên. Nhưng sau khi đến TP HCM, họ có thể lại mất thêm gần một giờ nữa để đi tiếp tới Thủ Thiêm hoặc khu vực phía Đông thành phố.
Hay nếu sau này có tuyến đường sắt tốc độ cao đi Cần Giờ, người dân ở An Sương hoặc Suối Tiên vẫn có thể phải mất gần một giờ để vào khu vực trung tâm rồi mới tiếp tục hành trình khoảng 30 phút tới Cần Giờ.
Một người đi từ Cần Thơ tới TP HCM chỉ mất khoảng một giờ, nhưng để đi từ phía Tây sang phía Đông của cùng một thành phố lại mất gần bằng từng đó thời gian?
Theo tôi, đó là khoảng trống mà quy hoạch hiện nay vẫn chưa giải quyết được.
TP HCM có thể cần thêm một lớp giao thông khác bên cạnh hệ thống metro: Một tuyến đường sắt tốc độ cao vành đai kết nối các cực lớn của thành phố như An Sương, Tân Kiên, Tân Thuận, Thủ Thiêm và Suối Tiên.
Tuyến này không cần quá nhiều ga. Mỗi khu vực chỉ cần một ga trung chuyển lớn kết nối với mạng metro hiện hữu. Người dân đi metro đến ga gần nhất rồi chuyển sang tuyến vành đai tốc độ cao để thực hiện những hành trình dài trong nội đô.
Nếu được thiết kế với mục tiêu kết nối nhanh giữa các cực phát triển của thành phố, tuyến vành đai dài khoảng 80 km hoàn toàn có thể rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển giữa An Sương, Tân Kiên, Thủ Thiêm hay Suối Tiên.
Khi đó, người ở An Sương muốn đến Thủ Thiêm không nhất thiết phải đi xuyên qua trung tâm. Người ở Suối Tiên muốn xuống khu vực phía Nam cũng không cần phải vòng qua Bến Thành. Thời gian di chuyển giữa các cực có thể giảm từ gần một giờ xuống còn khoảng 20-30 phút. Theo tôi, đây mới là điều quan trọng.
Bài toán giao thông của TP HCM không chỉ là làm sao đưa thêm người vào trung tâm nhanh hơn. Bài toán lớn hơn là làm sao giúp người dân đi từ nơi mình sống tới nơi mình cần đến nhanh hơn.
Nếu An Sương chỉ còn cách Thủ Thiêm khoảng 20-30 phút, nếu Tân Kiên chỉ còn cách Suối Tiên chưa đầy nửa giờ, rất nhiều thứ sẽ thay đổi. Doanh nghiệp sẽ không còn quá phụ thuộc vào khu vực trung tâm. Người lao động cũng có thêm lựa chọn việc làm mà không phải cân nhắc quá nhiều về khoảng cách.
Khi đó, An Sương, Tân Kiên, Tân Thuận hay Suối Tiên sẽ không chỉ là những cửa ngõ của thành phố, mà có thể trở thành những trung tâm mới của hoạt động kinh tế và dịch vụ.
Cuối cùng, điều người dân quan tâm không phải trên bản đồ có bao nhiêu tuyến metro hay bao nhiêu nhà ga. Điều họ quan tâm là sáng nay đi làm mất bao lâu, cuối tuần muốn sang phía bên kia thành phố có còn phải mất cả tiếng đồng hồ hay không?
Một hệ thống giao thông tốt không chỉ giúp thành phố phát triển, mà còn giúp người dân tiết kiệm thứ quý giá nhất của mình đó chính là thời gian.
Một đại biểu Quốc hội cho biết Việt Nam đang đối mặt với già hóa dân số nhanh và mức sinh giảm dưới ngưỡng thay thế. Bà đề xuất đẩy mạnh chính sách khuyến sinh, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con như một trách nhiệm xã hội, đồng thời cần đi kèm các hỗ trợ thiết thực về tài chính, nhà ở, việc làm và dịch vụ chăm sóc trẻ để người trẻ yên tâm lập gia đình và sinh con.
Nhiều độc giả nêu ý kiến cho rằng muốn khuyến sinh hiệu quả thì phải giải quyết trúng nút thắt lớn nhất là chỗ ở, chẳng hạn như được ưu tiên mua nhà ở xã hội.
Hôm trước tôi có đọc được bình luận của một bạn, rằng các anh chị em trong gia đình của bạn công việc ổn định, tạo dựng được tài sản riêng nhưng bố mẹ vẫn sống hết sức tiết kiệm không dám ăn dám mặc, chẳng dám đi đâu chơi.
Trước đây bố mẹ tôi cũng là hình mẫu của sự tiết kiệm như thế. Cả đời tần tảo, làm lụng vất vả để nuôi con khôn lớn nên dù cuộc sống hiện tại không còn thiếu thốn, ông bà vẫn giữ nguyên thói quen dè sẻn từng đồng.
Anh em tôi đều đã trưởng thành, có công việc ổn định và cuộc sống riêng. Mỗi tháng không riêng gì dịp lễ tết hay cuối tuần, chúng tôi thường gửi tiền, mua thực phẩm, bánh trái hoặc những món quà nhỏ về cho bố mẹ. Nhưng lần nào cũng vậy, ông bà đều rơi vào trạng thái bánh ngon không nỡ ăn, quần áo mới không nỡ mặc. Có những món đồ để đến khi gần hết hạn mới mang ra dùng.
Không ít lần tôi nghe bố mẹ nói "để dành cho con cháu", "tiền còn để phòng lúc đau ốm". Những suy nghĩ ấy xuất phát từ tình thương và sự lo xa của thế hệ đi trước. Nhưng đôi khi, sự tiết kiệm quá mức lại khiến họ tự tước đi những niềm vui đáng có trong những năm tháng tuổi già, nhất là sau những năm tháng nhọc nhằn.
Một ngày nọ, tôi và chị gái quyết định tổ chức cho cả gia đình đi chơi biển. Chúng tôi thuê một căn villa rộng rãi giá khoảng 11 triệu đồng một đêm, đủ chỗ cho hai gia đình, các cháu và bố mẹ cùng ở.
Ban đầu, bố mẹ phản đối kịch liệt. Ông bà liên tục hỏi giá phòng bao nhiêu, rồi trách con cái tiêu tiền như nước, ở một đêm bằng tiền ăn của bố mẹ trong mấy tháng trời, số tiền ấy có thể dùng được vào nhiều việc khác... Thậm chí đến lúc đã có mặt tại nơi nghỉ dưỡng, bà vẫn lẩm bẩm rằng ở khách sạn bình dân cũng được, đâu cần phải tốn kém như vậy.
Nhưng lúc chúng tôi đi là đang vào mùa hè cao điểm du lịch, phòng khách sạn tăng cao, chỗ đẹp kín phòng, lại ở gần chục người nên tính ra cũng không quá đắt đỏ.
Nhưng rồi chỉ sau một ngày, thái độ của ông bà bắt đầu thay đổi. Tôi còn nhớ buổi tối cả nhà quây quần ăn uống, trò chuyện và chụp ảnh, lâu lắm rồi tôi mới thấy bố mẹ cười nhiều đến thế.
Sau chuyến đi ấy, ông bà dường như thay đổi cách nhìn về việc chi tiêu, đã mạnh dạn dành tiền cho những niềm vui "hưởng thụ" hơn. Thỉnh thoảng ông bà rủ nhau đi ăn sáng bên ngoài, tham gia các chuyến du lịch, mua những món đồ thích đã lâu.
Tôi nhận ra rằng nhiều bậc cha mẹ thuộc thế hệ trước vẫn chọn sống kham khổ không hẳn thiếu tiền như chúng ta nghĩ. Thứ họ thiếu đôi khi là sự cho phép để được tận hưởng cuộc sống, không nỡ tiêu tiền, khi cả đời họ quen vun vén cho gia đình nên cảm thấy có lỗi khi chi tiêu cho bản thân.