Tôi năm nay 35 tuổi, đã lập gia đình và có hai con. Vợ chồng tôi đều là người lao động bình thường, tổng thu nhập mỗi tháng khoảng 35-40 triệu đồng ở TP HCM. Chúng tôi không giàu có, không sở hữu nhiều tài sản giá trị, nhưng cuộc sống tương đối ổn định, đủ chi tiêu và có một khoản tích lũy nhỏ cho tương lai.
Thú thật, khi còn trẻ, tôi từng nghĩ mình sẽ không lấy chồng sinh con. Khi ấy, tôi cho rằng hạnh phúc là được tự do sống theo ý mình, không bị ràng buộc bởi trách nhiệm gia đình. Tôi nhìn thấy nhiều người độc thân có thời gian cho bản thân, thích đi đâu thì đi, thích mua gì thì mua, cuối tuần cà phê, du lịch, tận hưởng cuộc sống. Nhiều bạn bè của tôi cũng theo đuổi xu hướng DINK (Double Income, No Kids – thu nhập kép, không sinh con) và xem đó là lựa chọn hiện đại.
Những năm tháng độc thân của tôi khá thoải mái. Tôi có thời gian cho công việc, cho sở thích cá nhân và những chuyến đi. Nhưng sau khi trải nghiệm đủ những điều mình mong muốn, tôi nhận ra cuộc sống một mình không phải lúc nào cũng vui như tưởng tượng. Có những ngày đi làm về, mở cửa bước vào căn phòng chỉ có một mình, tôi cảm thấy trống trải. Có những lúc mệt mỏi, ốm đau hay gặp áp lực trong công việc, tôi chỉ muốn có ai đó để chia sẻ. Những chuyến du lịch mang lại cảm giác hứng khởi, nhưng cũng kết thúc.
Rồi tôi quyết định kết hôn, sinh con và cuộc sống thay đổi hoàn toàn. Đúng là tôi bận hơn, vất vả hơn rất nhiều. Thu nhập cho một gia đình bốn người ở thành phố không phải dư dả. Chúng tôi vẫn phải cân nhắc chi tiêu, lo tiền học cho con, tiền sinh hoạt, tiền dự phòng khi có việc phát sinh. Có những tháng chi phí tăng cao, hai vợ chồng cũng phải tính toán khá kỹ. Nhưng điều thú vị là tôi không thấy mình khổ hơn những người bạn độc thân.
>> Tôi sinh hai con ‘cực nhưng đáng’
Ít nhất, mỗi ngày đi làm về, tôi có người cùng ăn bữa cơm tối. Trước khi ngủ có người để trò chuyện. Những lúc trái gió trở trời có người quan tâm, chăm sóc. Quan trọng hơn, tôi có hai đứa con để yêu thương và đồng hành. Nhìn con lớn lên từng ngày là một cảm giác rất đặc biệt. Từ những bước đi đầu tiên, những câu nói ngọng nghịu đến lúc con biết đọc, biết viết, biết quan tâm tới người khác, tôi đều được chứng kiến. Mỗi lần con đạt được một thành tích nhỏ hay trưởng thành hơn một chút, tôi lại thấy vui và tự hào.
Có người nói sống độc thân để hưởng thụ và trải nghiệm. Tôi hoàn toàn tôn trọng lựa chọn đó. Nhưng với riêng tôi, từ khi có gia đình nhỏ, khái niệm hưởng thụ cũng thay đổi. Một chuyến du lịch giờ đây không còn chỉ là để bản thân thư giãn mà là cơ hội để cả nhà cùng trải nghiệm. Nhìn các con háo hức khám phá điều mới, cùng nhau ăn một bữa ngon hay lưu lại những khoảnh khắc đáng nhớ khiến tôi cảm thấy chuyến đi ý nghĩa hơn rất nhiều.
Tôi không dám khẳng định hôn nhân luôn hạnh phúc hay ai cũng nên sinh con. Cuộc sống vốn không có công thức chung. Nhưng tôi cũng không còn tin rằng độc thân chắc chắn sẽ sướng hơn lập gia đình. Tiền bạc hay những chuyến du lịch có thể mang lại niềm vui, nhưng phần lớn chỉ đáp ứng nhu cầu của bản thân. Còn sự gắn kết gia đình, cảm giác được yêu thương, được cần đến và có người để sẻ chia mới là thứ giúp tôi cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn.
Hiện tại, tôi thấy quyết định lấy chồng và sinh hai con là một trong những lựa chọn đúng đắn nhất của cuộc đời mình. Dù thu nhập gia đình chỉ đủ sống, tôi vẫn cảm thấy mình giàu có theo một cách khác: giàu những tiếng cười, những bữa cơm đông đủ và những lý do để tôi cố gắng mỗi ngày.
Mấy năm nay, cứ mỗi dịp lễ Tết là rạp lại sôi động với phim Việt, doanh thu trăm tỷ đồng liên tiếp được công bố như một niềm tự hào. Nhưng với tôi, sự hào hứng ấy đã không còn.
Tôi vẫn đi xem phim, nhưng hiếm khi chọn phim Việt. Chẳng phải vì tôi quay lưng với điện ảnh nước nhà, mà vì tôi đã quá mệt mỏi với cảm giác... bị dẫn dắt rồi cảm giác như bị lừa.
Không thể phủ nhận, điện ảnh Việt Nam đã tiến bộ rõ rệt. Từ kỹ thuật quay dựng, âm thanh, ánh sáng cho đến quy mô sản xuất đều đã tiệm cận chuẩn quốc tế.
Nhưng song hành với sự phát triển đó là một cuộc đua quảng cáo trên các nền tảng mạng xã hội ngày càng phô trương, thậm chí lệch hướng. Quảng bá không còn là giới thiệu sản phẩm, mà dần trở thành một cuộc thổi phồng kỳ vọng.
Tôi từng là khán giả ủng hộ phim Việt. Tôi đã từng háo hức ra rạp, từng tự hào khi thấy những bộ phim trong nước làm tốt, chạm đến cảm xúc.
Nhưng rồi, cảm xúc đó bị bào mòn không phải bởi chất lượng phim đi xuống, mà bởi cách người ta nói về phim bằng những cụm từ như "tuyệt đối điện ảnh", "cỡ phim Oscar", "khóc lụt rạp", "bắt buộc phải xem phim này nha", "xứng đáng trăm tỉ"...
Điều đáng nói là không phải khán giả tự nói với nhau, mà phần lớn đến từ các KOLs, reviewer. Tôi đã vài lần mua vé chỉ vì đọc những lời khen đó. Và rồi bước ra khỏi rạp với cảm giác hụt hẫng. Phim thì không hẳn là dở nhưng hoàn toàn không xứng với những gì đã được tung hô.
Điều đáng tiếc là những người làm truyền thông quảng bá phim dường như không nhận ra hoặc không muốn nhận ra hệ quả lâu dài. Khán giả có thể bị thuyết phục một lần, hai lần. Nhưng khi niềm tin đã mất, họ sẽ không quay lại dễ dàng. Và khi đó, mọi chiến dịch PR dù rầm rộ đến đâu cũng chỉ là tiếng vang trong khoảng trống.
Một nền điện ảnh không thể phát triển bền vững nếu dựa vào sự cường điệu. Khán giả ngày nay không thiếu lựa chọn. Họ có thể xem phim từ khắp nơi trên thế giới, với đủ thể loại và chất lượng. Điều giữ họ ở lại với phim Việt không phải là những lời khen mà là sự chân thật từ chính bộ phim và cả cách bộ phim được giới thiệu.
Nếu cứ khen lấy khen để, các bạn chỉ "lừa" được những khán giả như tôi vài lần thôi, và rồi sau đó... không có sau đó nữa, vì bây giờ các bạn có khen như vậy chứ khen hơn nữa tôi cũng chẳng tin.
Có lẽ đã đến lúc ngành phim cần nhìn lại rằng khán giả không cần những "tuyệt phẩm", mà cần những bộ phim tử tế, được nói đúng với giá trị của nó.
Một câu chuyện khá bi hài gần đây: Một quán lẩu gà dược liệu ở Phật Sơn (Trung Quốc) bất ngờ trở thành điểm nóng khi lượng khách tăng vọt lên khoảng 3.000 người mỗi ngày. Chủ quán ông Mo, 62 tuổi vốn là một thầy thuốc Đông y, mở quán nhỏ tại quận Thuận Đức với lượng khách ban đầu chỉ vài chục người quen.
Mọi chuyện thay đổi khi một người có ảnh hưởng trên mạng ghé ăn và chia sẻ trải nghiệm. Chỉ trong thời gian ngắn, quán tăng từ khoảng 10 bàn lên đến 200 bàn mỗi ngày, quá tải đến mức chính chủ quán rơi vào tình trạng kiệt sức.
Đáng chú ý, thay vì tăng giá để giảm áp lực, ông lại chọn cách công khai công thức nấu ăn với hy vọng khách sẽ bớt đổ về hoặc nói món ăn dở để đuổi bớt khách.
Câu chuyện đặt ra một câu hỏi thú vị, trong kinh doanh, khi nhu cầu tăng đột biến, nên tận dụng cơ hội để tối đa lợi nhuận hay giữ nguyên giá trị ban đầu và chấp nhận áp lực?
"Lúc trước tôi trồng một cây hoa giấy, nó tạo thành một giàn hoa giấy từ dưới đất lên lầu 2 nhà tôi. Mỗi lần nó ra hoa là hồng rực rỡ, từ xa đã thấy đẹp rồi.
Nhưng có lẽ mình nhà tôi thấy đẹp hoặc 1-2 nhà cách xa nhà tôi.
Hàng xóm sát vách nhà tôi liên tục phàn nàn về hoa lá rụng, mặc dù sáng nào tôi cũng quét nhưng hễ có gió là nó rụng. Cuối cùng tôi phải chặt bỏ, mặc dù rất tiếc".
Đây là bình luận của một bạn trong bài viết Tôi phải chặt bỏ giàn nho tỏa bóng mát trước sân nhà.
Khi nói đến chặt một cái cây, phản ứng đầu tiên của nhiều người có lẽ là phản đối. Nhưng tôi có thể kể đến rất nhiều trường hợp những rắc rối với những cái cây:
- Rễ cây làm hư hỏng nhà hàng xóm.
- Lá cây rụng làm tắc nghẽn máng thoát nước...
Tôi cũng rơi vào hoàn cảnh đau đớn khi phải cưa bỏ hàng rào trồng bằng tre trước nhà. Ở quê tôi hay có thói quen trồng cây và tạo hình làm hàng rào. Rủi thay con đường phía trước là tôi là đường bê tông nông thôn nên không rộng.
Cho đến một buổi chiều, một người đi xe máy chạy ngang qua bị một nhánh tre chìa ra đường, do người này chạy khá nhanh nên nhánh tre "quật" vào mặt, mất thăng bằng rồi ngã xuống. Mọi chuyện diễn ra rất nhanh. Cũng may họ chỉ bị trầy xước nhẹ. Tôi hoảng hồn cáo lỗi với họ, người quen nên cũng không bắt chẹt nhau. Tôi cũng không hiểu sao lại có một nhánh chìa ra giữa đường như vậy.
Lúc trồng, tôi tự chừa "lộ giới", nhưng sau một thời gian, tre con ra, dường như chúng tự "di chuyển" ra bốn hướng, đây cũng là lý do tôi quyết định làm hàng rào gạch bê tông thay cho hàng rào tre.
Thực ra, những thứ như hàng rào cây, giàn hoa trước nhà, mái hiên che nắng... đều rất bình thường. Nhưng có một điều ít khi mình để ý chỉ cần nó "lấn" ra ngoài phạm vi nhà của mình, đất của mình một chút thôi, là câu chuyện đã không còn nằm gọn trong phạm vi nhà mình nữa.
Từ trước đến giờ, tôi thấy rất nhiều trường hợp lá rụng, nhánh cây làm phiền nhà hàng xóm nhưng rất ít người chủ động "dọn dẹp".
Nếu bắt đầu gây phiền hoặc tiềm ẩn rủi ro cho người khác, thì bỏ đi là việc phải làm, dù cho mình có đau, có tiếc cỡ nào chăng nữa.
Phúc Trường