Tôi có hai con trai đều theo học ngành kỹ thuật cơ khí tại một trường đại học quốc tế công lập trong nước. Đây là chương trình có bằng cấp được công nhận rộng rãi, học phí không hề thấp, nhưng đến hôm nay, tôi thấy lựa chọn đó hoàn toàn xứng đáng.
Năm 2018, con trai lớn của tôi vào đại học. Cùng thời điểm đó, người bạn thân nhất của con từ thời tiểu học đến hết THPT cũng đỗ đại học, nhưng chọn một ngành xã hội theo sở thích. Sau khi ra trường, cháu làm ở một công ty dịch vụ rồi học tiếp Thạc sĩ. Đến nay, dù đã có bằng cao học nhưng thu nhập của cháu chỉ khoảng 10 triệu đồng mỗi tháng. Cháu nói muốn nhảy việc nhưng rất khó vì ít nơi tuyển dụng đúng chuyên môn.
Trong khi đó, con trai tôi học kỹ thuật cơ khí. Tổng chi phí từ lúc nhập học đến khi tốt nghiệp vào khoảng 600 triệu đồng, gồm học phí, sinh hoạt phí và các khoản liên quan. Nhiều người nghe con số này sẽ thấy lớn, nhưng tôi luôn nghĩ đầu tư cho giáo dục cần nhìn vào hiệu quả lâu dài.
Hiện nay, con tôi làm cho một công ty của Mỹ, cách nhà khoảng 20 km. Thu nhập của con khá ổn, chế độ phúc lợi cũng tốt. Thậm chí, công ty còn thuê hẳn xe bảy chỗ cùng tài xế để đưa đón nhân viên kỹ thuật đi làm mỗi ngày. Tôi hiểu rằng doanh nghiệp không tự nhiên bỏ ra khoản chi phí như vậy nếu nhân sự không thật sự có giá trị và khó tuyển.
>> Tốn 600 triệu học đại học nhưng lương thua bạn xuất khẩu lao động
Từ trải nghiệm thực tế của con mình, tôi có quan điểm khá rõ ràng với con trai thứ hai rằng nếu không học đại học ngành kỹ thuật thì tôi sẽ cho học nghề ngay sau khi tốt nghiệp THPT. Tôi nghĩ những nghề như sửa ôtô, điện lạnh, tiện cơ khí, đầu bếp… đều rất thực tế. Quan trọng hơn, học nghề tại nơi làm việc trực tiếp thường được trả lương ngay từ lúc học việc. Sau 5-10 năm tích lũy tay nghề và kinh nghiệm, nếu có năng lực thì hoàn toàn có thể ra làm riêng.
Hiện nay, nhiều người vẫn quan niệm cứ phải để con học ngành mình yêu thích thì mới thành công. Tôi không phản đối điều đó, nhưng thực tế cuộc sống đôi khi khác xa suy nghĩ tuổi trẻ. Những ngành càng dễ học thì càng nhiều người học. Hệ quả là cung vượt cầu, nhiều người thất nghiệp hoặc có việc nhưng lương thấp.
Theo tôi, trước tiên nên chọn một nghề có khả năng tạo thu nhập ổn định, có nhu cầu tuyển dụng cao. Sau khi công việc vững vàng, tài chính ổn định rồi theo đuổi đam mê cũng chưa muộn. Cuộc sống thực tế vẫn cần cơm áo trước khi nói đến lý tưởng.
Tôi nói điều này không phải để đề cao ngành kỹ thuật hay phủ nhận giá trị của các ngành nghề khác. Nhưng với riêng con trai, tôi luôn khuyên nên theo các khối kỹ thuật như cơ khí, cơ điện tử, điện – điện tử… đồng thời học ngoại ngữ thật tốt. Đúng là những ngành này học khó, áp lực cao, nhưng đổi lại cơ hội việc làm rất rộng mở. Hiện nay, các công ty sản xuất, đặc biệt doanh nghiệp FDI, đang tuyển dụng kỹ sư kỹ thuật rất nhiều. Người có chuyên môn tốt và ngoại ngữ gần như không sợ thất nghiệp.
Nhà bê tông bị nung nóng ban ngày, ban đêm nhả nhiệt, trời vẫn hầm hập. Sau những trận mưa giải nhiệt, Hà Nội lại tiếp tục nắng nóng. Quạt tay, quạt máy, quạt hơi nước thổi không khí nóng vào người chẳng thấm vào đâu.
Máy lạnh nhà tôi mở hết ở các phòng. Trong phòng thì mát mẻ còn bên ngoài thì nóng. Những nhà san sát nhau trong ngõ, những cục nóng máy lạnh cứ thi nhau chạy hết công suất và phả khí nóng ra bên ngoài, làm không khí thêm phần ngột ngạt.
Mọi người bàn nhau về El Nino, về biến đổi khí hậu nóng lên từng năm. Tôi nhớ những bộ phim khoa học viễn tưởng kể về ngày con người phải đi tìm hành tinh mới vì Trái Đất không còn thích hợp để sinh sống.
Nhưng thực tế có lẽ không cần chờ đến một tương lai xa như vậy. Biến đổi khí hậu đang hiện diện ngay trong những ngày hè mà chúng ta trải qua. Khi tôi ngồi trong phòng điều hòa mát lạnh, ngoài kia vẫn có hàng triệu người không có lựa chọn đó.
Đó là những công nhân xây dựng đội nắng trên các công trường. Những người giao hàng chạy xe giữa mặt đường bỏng rát. Những người bán vé số, bán hàng rong, thu gom ve chai, công nhân môi trường, người lao động tự do. Trong khi nhiều người tìm cách tránh nắng thì công việc của họ lại bắt buộc phải đối mặt với nắng nóng nhiều giờ liền.
Nhiệt độ ngoài trời 39-40 độ C đo trong lều khí tượng chưa phải là điều đáng sợ nhất. Điều đáng sợ là nhiệt độ cảm nhận trên mặt đường bê tông, nhựa đường hay các khu vực ít cây xanh có thể cao hơn rất nhiều. Cơ thể liên tục mất nước, kiệt sức và đối mặt với nguy cơ sốc nhiệt. Một ngày làm việc dưới nắng gắt không chỉ là sự khó chịu mà còn là sự bào mòn sức khỏe theo thời gian.
Người có điều hòa, có xe hơi, có văn phòng làm việc sẽ chịu ảnh hưởng ít hơn. Người lao động ngoài trời, người thu nhập thấp, người già và trẻ nhỏ thường là những đối tượng chịu tác động nặng nề nhất. Nói cách khác, những người đóng góp ít nhất vào lượng phát thải gây nóng lên toàn cầu lại thường là những người phải gánh chịu hậu quả nhiều nhất.
Nghịch lý ấy khiến câu chuyện nắng nóng không còn đơn thuần là chuyện thời tiết. Nó là câu chuyện của quy hoạch đô thị, của môi trường sống và của trách nhiệm xã hội.
Trong nhiều năm, những khoảng đất trống dần được phủ kín bằng bê tông. Cây xanh bị thay thế bởi các tòa nhà. Ao hồ bị san lấp. Những khu dân cư ngày càng dày đặc nhưng không gian xanh lại không tăng tương ứng. Thành phố giống như một khối bê tông khổng lồ hấp thụ nhiệt vào ban ngày rồi âm thầm nhả nhiệt suốt đêm. Đó là lý do nhiều người có cảm giác Hà Nội ngày càng nóng hơn, kể cả khi mặt trời đã lặn.
Tất nhiên, không ai có thể một mình giải quyết biến đổi khí hậu. Việc tắt một bóng đèn hay trồng một cái cây sẽ không ngay lập tức làm nhiệt độ giảm xuống. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta bất lực.
Các thành phố cần nhiều cây xanh hơn, nhiều mặt nước hơn và những công trình tiết kiệm năng lượng hơn. Các khu dân cư cần được quy hoạch theo hướng giảm hấp thụ nhiệt. Người lao động ngoài trời cần được bảo vệ tốt hơn bằng những quy định về thời gian làm việc trong điều kiện nắng nóng cực đoan, các điểm nghỉ chân, nước uống và hỗ trợ y tế cần thiết.
Về phía mỗi cá nhân, sử dụng năng lượng tiết kiệm hơn, hạn chế lãng phí điện, trồng thêm cây xanh hay lựa chọn những phương tiện ít phát thải hơn có thể là những việc nhỏ nhưng không vô nghĩa. Mỗi hành động riêng lẻ có thể không tạo ra thay đổi lớn, nhưng hàng triệu hành động nhỏ cộng lại sẽ tạo nên khác biệt.
Những vấn đề nêu trên có lẽ là hình ảnh thu nhỏ của nhiều vấn đề môi trường hiện nay. Chúng ta thường tìm cách làm mát phần không gian của riêng mình mà quên mất cái giá mà cộng đồng phải trả.
Nếu một ngày nào đó những đợt nắng 40 độ C trở thành điều "bình thường mới", câu hỏi sẽ là làm thế nào để thành phố và cả Trái Đất này vẫn còn là nơi đáng sống cho tất cả mọi người e rằng đã quá trễ để trả lời.
Năm 33 tuổi, vợ chồng tôi quyết định rời TP HCM sau nhiều năm cố bám trụ. Đó không phải là một lựa chọn dễ dàng, càng không phải vì chúng tôi chán cuộc sống thị thành. Nhưng tôi hiểu rằng có những giới hạn mà nỗ lực thôi là chưa đủ.
Hai vợ chồng tôi đều là nhân viên văn phòng, tổng thu nhập khoảng 30 triệu đồng mỗi tháng. Nghe qua, nhiều người nghĩ mức này không đến nỗi tệ. Chính chúng tôi trước đây cũng từng tin như vậy. Nhưng thực tế ở Sài Gòn đã dạy chúng tôi một bài học khác.
Tiền thuê nhà chiếm gần một phần ba thu nhập của chúng tôi. Một căn hộ nhỏ đủ cho bốn người sống đã ngốn khoảng 8-10 triệu đồng mỗi tháng. Chưa kể điện, nước, phí quản lý, gửi xe... mọi thứ cộng lại không hề nhỏ. Hai đứa con tôi còn nhỏ, tiền học thêm, sữa, sinh hoạt là những khoản không thể cắt giảm. Có tháng, chỉ riêng chi phí liên quan đến con đã hơn 10 triệu.
Chúng tôi từng thử "thắt lưng buộc bụng". Cắt bớt ăn ngoài, hạn chế mua sắm, gần như không có giải trí. Nhưng càng tiết kiệm, chúng tôi càng thấy cuộc sống trở nên ngột ngạt. Cuối tháng vẫn không dư được bao nhiêu, thậm chí có lúc phải rút tiền tiết kiệm để bù vào.
>> Vợ chồng một năm tiết kiệm 350 triệu đồng từ lương 40 triệu
Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất là cảm giác không có tương lai. Với mức thu nhập như vậy, việc mua nhà ở TP HCM gần như là điều không tưởng với chúng tôi. Giá nhà cứ tăng, còn thu nhập của chúng tôi thì gần như đứng yên. Hai vợ chồng tôi thậm chí không dám ốm, không dám thất nghiệp, vì chỉ cần một biến cố nhỏ là mọi thứ có thể sụp đổ.
Sau nhiều đêm bàn bạc, chúng tôi quyết định chuyển về Bình Dương sống và làm việc. Quyết định này đi kèm với không ít lo lắng: thay đổi môi trường sống, công việc, trường học của con. Nhưng đổi lại, chúng tôi có thể thuê một căn nhà rộng rãi hơn với chi phí thấp hơn gần một nửa. Cuộc sống vì thế cũng "dễ thở" hơn. Ở đây, chúng tôi vẫn phải làm việc cật lực, vẫn phải nuôi con, vẫn có những áp lực riêng, nhưng ít nhất không còn cảm giác bị chi phí đè nặng mỗi ngày.
Nhiều người trẻ hiện nay than rằng chi phí sống quá cao, lương không đủ chi tiêu, nói gì đến tiết kiệm. Tôi từng nghĩ đó là sự bi quan. Nhưng khi trải qua rồi, tôi thấy đó là thực tế. Không phải ai cũng có điều kiện để "trụ lại" ở một thành phố đắt đỏ như TP HCM. Chúng tôi không xem việc rời đi là thất bại. Ngược lại, đó là một cách thích nghi. Bởi suy cho cùng, mục tiêu không phải là sống ở đâu, mà là sống thế nào để gia đình không phải chật vật từng ngày.
Tác giả cho rằng: Thay vì nghỉ 30 - 45 phút ăn trưa thì tốn từ 1h30 đến 2h đồng hồ để ăn trưa và ngủ. Dậy lúc 1h30 chiều thì tốn thêm 15 - 20 phút rửa mặt, đi vệ sinh, rửa tay. Thì 2h mới làm. Rồi đến 5h00 rục rịch về. Vậy là làm việc có 5 - 6h".
Tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm này bởi lập luận như vậy là đang đánh đồng giữa việc sử dụng thời gian thiếu hiệu quả với bản thân giấc ngủ trưa.
Ở nhiều công ty tại Việt Nam, ngày làm việc bắt đầu từ 7h30 sáng, thậm chí sớm hơn. Người lao động phải thức dậy từ 5h30 hoặc 6h để chuẩn bị, đưa con đi học, di chuyển đến nơi làm việc. Đến 11h30 trưa, họ đã trải qua khoảng 4 tiếng làm việc liên tục.
Trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, nhiệt độ ngoài trời có thể lên tới 35-40 độ C, việc cơ thể xuất hiện cảm giác mệt mỏi vào giữa ngày là điều bình thường. Một giấc ngủ ngắn 20-30 phút không phải biểu hiện của sự lười biếng mà là nhu cầu sinh lý tự nhiên giúp phục hồi sự tỉnh táo.
Thực tế, rất ít người ngủ đến 1h30 rồi mất thêm nửa tiếng để vệ sinh cá nhân như ví dụ được đưa ra. Phần lớn nhân viên ăn trưa, nghỉ ngơi một chút rồi trở lại làm việc đúng giờ.
Nếu có những nơi quản lý lỏng lẻo khiến thời gian nghỉ bị kéo dài quá mức, vấn đề nằm ở cách tổ chức lao động chứ không nằm ở giấc ngủ trưa. Nếu chỉ cần ngồi lâu là hiệu quả, những quốc gia làm việc nhiều giờ nhất thế giới đã phải là những nền kinh tế năng suất nhất thế giới.
Trong khi đó, nhiều nghiên cứu trong nhiều năm qua đều cho thấy sau một ngưỡng nhất định, thời gian làm việc tăng lên nhưng hiệu quả lại giảm xuống. Một nhân viên tỉnh táo, tập trung trong 6 giờ có thể tạo ra nhiều giá trị hơn một người ngồi đủ 8 tiếng nhưng liên tục mệt mỏi, mất tập trung hoặc xử lý công việc trong trạng thái uể oải.
Thêm vào đó, cũng cần nhìn vào bối cảnh địa lý cụ thể: Nhiều quốc gia châu Âu bắt đầu ngày làm việc lúc 9h sáng. Mùa đông, mặt trời mọc muộn. Điều kiện khí hậu ôn hòa hơn giúp cơ thể ít bị tiêu hao năng lượng bởi nhiệt độ cao.
Trong khi đó, Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới. Mặt trời mọc sớm, thời gian nắng kéo dài, độ ẩm cao. Nhịp sinh hoạt tự nhiên của người dân cũng khác.
Không phải ngẫu nhiên mà ở nhiều nước có khí hậu nóng như Tây Ban Nha, Italy hay một số quốc gia Mỹ Latin từng tồn tại văn hóa nghỉ trưa kéo dài. Tôi nghĩ đó là sự thích nghi với môi trường sống chứ không phải dấu hiệu của sự chậm phát triển.