Ông H.V.Q., 54 tuổi, vào Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai sau một thời gian thấy cơ thể mệt mỏi kéo dài.
Người bệnh có tiền sử viêm gan B hơn 10 năm nay. Trước đó, ông không ghi nhận những yếu tố nguy cơ đặc biệt từ lối sống, không thường xuyên sử dụng thực phẩm ôi thiu hay quá hạn.
Tuy nhiên, kết quả thăm khám lần này lại cho thấy một tổn thương u gan, nghi ngờ ung thư biểu mô tế bào gan.
Để làm rõ bản chất khối u, các bác sĩ chỉ định sinh thiết u gan. Kết quả giải phẫu bệnh sau đó xác định bệnh nhân mắc ung thư biểu mô tế bào gan. Sau khi có chẩn đoán xác định, trường hợp của ông Q. được đưa ra hội chẩn liên khoa với sự tham gia của các chuyên ngành tiêu hóa, chẩn đoán hình ảnh, ngoại khoa và ung bướu.
Cuối cùng, hội đồng thống nhất lựa chọn phương pháp đốt sóng cao tần cho người bệnh.
Theo BS Lưu Thị Minh Diệp, Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai, nhìn từ trường hợp của ông Q., điều khiến bác sĩ trăn trở không chỉ là một ca ung thư gan mới được phát hiện, mà là thực tế rất nhiều bệnh nhân mang viêm gan B trong nhiều năm nhưng không theo dõi sát, đến khi đi khám thì tổn thương đã hình thành.
Hơn 7 triệu người Việt mang loại virus là mầm mống ung thư gan
Theo BS Diệp, viêm gan B là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn tới ung thư gan.
Đây cũng là điều các bác sĩ tại Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật gặp thường xuyên trong thực tế khám chữa bệnh. Không ít bệnh nhân vào viện vì mệt mỏi, đau tức, chán ăn hoặc đi khám định kỳ mới phát hiện u gan trên nền viêm gan B đã có từ trước.
Ước tính khoảng 7,6 triệu người Việt Nam nhiễm virus viêm gan B, song đến nay chỉ hơn 1,6 triệu người chẩn đoán bệnh và khoảng 45.000 người được điều trị. Tương tự, chỉ khoảng 60.000 người được chẩn đoán viêm gan C và rất ít trường hợp tiếp cận điều trị trong số gần một triệu ca mắc.
Điều đáng lo là nhiều người bệnh biết mình mang viêm gan B nhưng không điều trị đều đặn hoặc không tái khám đúng hẹn.
“Có trường hợp vẫn uống thuốc, nhưng sau một thời gian thấy cơ thể ổn định thì chủ quan, không quay lại kiểm tra. Cũng có người bỏ điều trị giữa chừng, chuyển sang dùng thuốc nam, thuốc bắc hoặc các sản phẩm truyền miệng mà không có chỉ định rõ ràng.
Đến khi mệt mỏi tăng lên, khối u lớn dần, thậm chí đã di căn, người bệnh mới quay lại bệnh viện”, BS Diệp cho hay.
Theo BS Diệp, đây là lý do nhiều ca ung thư gan không được phát hiện ở giai đoạn còn thuận lợi cho điều trị. Người bệnh thường không có biểu hiện quá rầm rộ ngay từ đầu.
Không ít người vẫn sinh hoạt bình thường, chỉ thấy hơi mệt, ăn uống kém hơn hoặc tức nhẹ vùng gan nên nghĩ đơn giản là cơ thể suy nhược, rối loạn tiêu hóa hay làm việc quá sức. Chính sự chủ quan ấy khiến cơ hội phát hiện sớm bị bỏ lỡ.
Trong trường hợp của ông Q., yếu tố nguy cơ nổi bật nhất mà bác sĩ nghĩ tới chính là tiền sử viêm gan B kéo dài. Từ biểu hiện mệt mỏi ban đầu, quá trình thăm khám, sinh thiết và hội chẩn đã giúp làm rõ bản chất tổn thương, từ đó đưa ra hướng xử trí phù hợp cho người bệnh.
BS Diệp cho biết, viêm gan B không đồng nghĩa chắc chắn sẽ dẫn đến ung thư gan, nhưng đây là nhóm bệnh nhân cần được theo dõi lâu dài và chặt chẽ.
Điều quan trọng không phải chỉ là phát hiện mình có virus, mà còn là theo dõi tải lượng virus, đánh giá chức năng gan, phát hiện sớm các tổn thương bất thường và can thiệp đúng thời điểm.
Điều bác sĩ lo nhất là người bệnh bỏ tái khám
Theo BS Diệp, tại đơn vị, với những bệnh nhân viêm gan B, bác sĩ luôn có chương trình theo dõi và khuyến cáo tái khám định kỳ. Thông thường, người bệnh cần quay lại theo lịch hẹn để làm các xét nghiệm chức năng gan, xét nghiệm liên quan đến ung thư gan và siêu âm đánh giá, nhằm phát hiện sớm các tổn thương nghi ngờ.
Vấn đề là không phải ai cũng tuân thủ được việc này. Có người ở xa, có người chủ quan vì chưa thấy triệu chứng, có người cho rằng chỉ cần uống thuốc là đủ. Nhưng với viêm gan B, việc không tái khám đều có thể khiến những thay đổi bất thường trong gan diễn ra âm thầm mà người bệnh không biết.
BS Diệp cho biết trong số các ca ung thư gan có nền viêm gan B mà trung tâm tiếp nhận, nhiều bệnh nhân đến viện khá muộn. Khi đó, khối u đã lớn, việc điều trị trở nên khó khăn hơn nhiều so với các trường hợp phát hiện ở giai đoạn sớm.
Nếu tổn thương được nhận diện khi còn nhỏ, người bệnh có thể có thêm cơ hội với các phương pháp can thiệp ít xâm lấn như đốt sóng cao tần. Ngược lại, khi khối u phát triển lớn hoặc lan rộng, lựa chọn điều trị sẽ thu hẹp hơn.
Từ thực tế này, BS Diệp nhấn mạnh người mắc viêm gan B tuyệt đối không nên nghĩ rằng không đau tức là không có vấn đề. Gan là cơ quan có khả năng bù trừ tốt, vì thế nhiều tổn thương có thể tiến triển trong thời gian dài mà không gây biểu hiện rõ rệt. Đó cũng là lý do người bệnh không thể chờ cơ thể lên tiếng mới đi kiểm tra.
Bác sĩ cũng lưu ý thêm rằng không nên tự ý thay thế điều trị chuẩn bằng các phương pháp chưa được kiểm chứng. Với bệnh gan mạn tính nói chung và viêm gan B nói riêng, điều người bệnh cần nhất là theo dõi có hệ thống, đúng chuyên khoa, đúng lịch hẹn và đúng chỉ định.
Theo BS Lưu Thị Minh Diệp, với người mang viêm gan B, tái khám định kỳ không chỉ để kiểm tra tình trạng viêm gan, mà còn là cách quan trọng để sàng lọc, phát hiện sớm ung thư gan.
Khi bệnh được phát hiện sớm, cơ hội điều trị sẽ khác rất nhiều so với lúc tổn thương đã tiến xa. Và trong cuộc đua với ung thư gan, sự chủ động của người bệnh luôn là yếu tố không thể thay thế.
Ngày 31/3, đại diện Bệnh viện Từ Dũ (TPHCM) cho biết, vừa qua các bác sĩ nơi này đã phối hợp cùng ê-kíp Bệnh viện Chợ Rẫy phẫu thuật cứu sống một sản phụ mang thai trong ổ bụng ở vị trí cực kỳ hiếm gặp và nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến tính mạng.
Bệnh nhân là chị L.T.T. (36 tuổi, ngụ tỉnh Đồng Nai) có tiền sử hai lần sinh thường và một lần mang thai ngoài tử cung, đã phẫu thuật nội soi cắt tai vòi tử cung trái cách đây hơn 11 năm. Lần này, chị quên sử dụng biện pháp dự phòng và có thai ngoài ý muốn.
Gần đây, do xuất hiện tình trạng đau bụng tăng dần, người phụ nữ đến khám tại bệnh viện địa phương và được nghi ngờ có thai trong ổ bụng khoảng 10 tuần. Ngay sau đó, bệnh nhân được chuyển tuyến khẩn cấp đến Bệnh viện Từ Dũ.
Tại khoa Cấp cứu, các bác sĩ nhanh chóng thăm khám, hội chẩn và chỉ định thực hiện các cận lâm sàng chuyên sâu. Kết quả cho thấy bệnh nhân có thai nằm sau phúc mạc, ngay sát động mạch chủ bụng.
Khối thai ở ngay dưới vị trí phân nhánh của động mạch thận trái, có dấu hiệu dính vào thành động mạch chủ bụng một đoạn khoảng 10mm, xung quanh có nhiều dịch, nghi xuất huyết tiến triển.
Đây là một trong những thể thai ngoài tử cung rất hiếm gặp, nguy cơ vỡ mạch máu lớn gây nguy cơ tử vong nếu không can thiệp kịp thời. Trước tính chất phức tạp và nguy hiểm của ca bệnh, trưởng tua trực đã quyết định kích hoạt báo động đỏ liên viện, mời ê-kíp phẫu thuật mạch máu từ Bệnh viện Chợ Rẫy sang phối hợp xử trí.
Các chuyên gia hai phía đã cùng hội chẩn, xây dựng phương án phẫu thuật tối ưu nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho người bệnh.
3 giờ cân não cứu thai phụ
Ca phẫu thuật được tiến hành lúc 23h45 ngày 26/3. Khi mở bụng bệnh nhân, ê-kíp ghi nhận tình trạng xuất huyết lan tỏa vùng sau phúc mạc. Khối thai nằm sát hàng loạt mạch máu quan trọng ở bụng, thận trái và niệu quản trái.
Các bác sĩ phải tiến hành bóc tách tỉ mỉ khối thai, để tránh tổn thương và bảo tồn được những mạch máu lớn ở thận, động mạch chủ bụng, bảo vệ niệu quản bên trái. Đáng chú ý, khối thai còn chèn ép động mạch sinh dục trái, gây tổn thương vị trí này trong quá trình bóc tách, khiến ê-kíp phải kiên nhẫn xử trí và phục hồi bảo tồn.
Cuối cùng, khối thai và bánh nhau bám sát vùng thận bên trái được lấy trọn vẹn. Sau gần 3 giờ cân não, ca mổ kết thúc thành công. Bệnh nhân mất khoảng 500ml máu và không cần truyền thêm.
Hậu phẫu 2 ngày, chị T. hoàn toàn tỉnh táo, sinh hiệu ổn định, vết mổ khô, có thể đi lại và ăn uống gần như bình thường. Đến sáng 31/3, chị T. hồi phục gần như hoàn toàn, đủ điều kiện xuất viện.
Theo Bệnh viện Từ Dũ, thành công của ca phẫu thuật không chỉ thể hiện trình độ chuyên môn cao của 2 đơn vị y tế tuyến cuối, mà còn cho thấy hiệu quả của mô hình phối hợp liên viện trong xử trí các ca bệnh nguy kịch, tưởng chừng không thể can thiệp.
Bác sĩ Yoko Okayama tốt nghiệp Đại học Y khoa tỉnh Kyoto năm 1996, từng làm bác sĩ gây mê tại bệnh viện này và Bệnh viện Nishijin trước khi chuyển sang lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tại nhà. Năm 2015, bà mở Phòng khám Chăm sóc tại nhà Okayama ở thành phố Kyoto, chuyên hỗ trợ thăm khám tận nơi, chăm sóc giảm nhẹ và điều trị sa sút trí tuệ. Là một bác sĩ chuyên về chăm sóc cuối đời, bà Okayama không chỉ thực hành y khoa tại cộng đồng mà còn chủ trì các nhóm nghiên cứu về vấn đề này.
Theo bác sĩ, có 11 dấu hiệu báo hiệu một người đang bước vào "những giây phút cuối đời". Vậy những cơ quan nào vẫn tiếp tục duy trì hoạt động cho đến tận giây phút cuối cùng, ngay cả khi mọi chức năng cơ thể dần đình trệ? Bà Okayama đã chia sẻ điều này trong bài viết đăng trên tờ President Online trích từ cuốn sách của bà, do Nhà xuất bản Discover Twenty-One phát hành.
Chuyên gia cho biết cơ thể con người sẽ trải qua những trạng thái biến đổi sinh lý đặc trưng trước khi nhắm mắt xuôi tay. Là bác sĩ đồng hành cùng bệnh nhân ở giai đoạn cuối, bà thường sử dụng những ghi chép chuyên môn để giải thích tình trạng của người bệnh cho gia quyến, giúp họ chuẩn bị tâm lý và tránh rơi vào trạng thái hoảng loạn, sợ hãi hay lo âu quá mức. Những thay đổi này không nhất thiết xảy ra ở mọi người và trình tự có thể khác nhau nhưng là những dấu hiệu phổ biến nhất.
Bà Okayama cho hay một trong những dấu hiệu đầu tiên thường xuất hiện trước khi một người qua đời là chán ăn hoặc ăn uống kém đi đáng kể. Khi một người gần như không còn ăn uống được gì, đó thường là tín hiệu cho thấy sự sống chỉ còn tính bằng ngày.
Tiếp đó, giọng nói của họ sẽ dần mất đi năng lượng và độ vang, đôi khi chỉ còn là những tiếng thào thào, báo hiệu thời gian còn lại thậm chí chỉ có thể tính bằng giờ. Trong giai đoạn này, người bệnh thường rơi vào trạng thái ngủ thiếp đi và thường thức giấc giữa chừng.
Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là thính giác của họ còn rất nhạy bén, vẫn có thể nghe thấy mọi chuyện ngay cả khi trông như đang ngủ sâu, vì vậy gia đình nên tránh nói những điều có thể gây đau lòng.
Về mặt nhận thức, người bệnh dễ bị nhầm lẫn về không gian, thời gian, thậm chí không nhận ra người thân. Đôi khi họ có thể la hét hoặc có những hành động bất thường như cởi đồ do rơi vào trạng thái mê sảng, lúc này cần có sự can thiệp y tế để hỗ trợ.
Về mặt thể chất, phần thân dưới và mu bàn tay của người bệnh có thể xuất hiện tình trạng phù nề, đôi khi có thể được xoa dịu bằng cách massage nhẹ nhàng, chậm rãi. Hiện tượng phù nề thường có xu hướng trầm trọng hơn sau khi bệnh nhân được truyền dịch.
Bên cạnh đó, hơi thở cũng trở nên nặng nề hơn với những tiếng lọc xọc do nước bọt hoặc nước dãi tích tụ trong cổ họng. Nếu bệnh nhân đang được truyền dịch tĩnh mạch, lượng dịch tiết này có thể tăng lên, làm cho tình trạng khó chịu trở nên trầm trọng hơn.
Đồng thời, bàn tay và bàn chân sẽ dần trở nên lạnh và nhợt nhạt do cơ thể ưu tiên đưa máu về các cơ quan nội tạng quan trọng để duy trì sự sống cuối cùng, dẫn đến tình trạng mất nước và giảm thiểu (hoặc mất hẳn) lượng nước tiểu. Cơn sốt cũng có thể xuất hiện trong giai đoạn này và thường không đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường.
Càng gần thời khắc cuối cùng, nhịp thở của người bệnh càng trở nên bất ổn. Có thể xuất hiện kiểu thở Cheyne-Stokes, trong đó nhịp thở chậm dần rồi ngưng hẳn khoảng 30 giây trước khi bắt đầu lại dồn dập. Sau đó là kiểu "thở cơ hàm" (mandibular breathing), dấu hiệu cận tử rõ rệt nhất, khi người bệnh há miệng thở dốc, hàm dưới chuyển động lên xuống. Đây là phản ứng sinh lý tự nhiên diễn ra vài giờ trước khi ra đi.
Khi cái chết thực sự đến, việc xác định "hơi thở cuối cùng" đôi khi khó khăn ngay cả với các chuyên gia y tế nếu không có máy điện tâm đồ (EGC) hỗ trợ. Sau khi tim ngừng đập, máy móc có thể vẫn hiển thị những dạng sóng điện học nhưng đó không phải là dấu hiệu của sự hồi sinh. Một số hiện tượng tự nhiên khác như bài tiết không tự chủ hoặc những âm thanh phát ra khi dịch chuyển thi thể do không khí thoát ra từ phổi cũng có thể xảy ra.
Dù cơ thể có trải qua bao nhiêu biến đổi về mặt sinh lý (như tim ngừng đập, hơi thở lọc xọc hay mất ý thức), thì vẫn có một thứ không hề thay đổi, đó chính là khả năng nghe của người bệnh. Điều này ngụ ý người bệnh vẫn có thể nghe thấy lời nói của người thân ngay cả khi họ có vẻ như đã hôn mê hoặc sắp ra đi.
Nhận định này đồng nhất với nghiên cứu của Đại học British Columbia (Canada) công bố trên tạp chí khoa học Scientific Reports năm 2020. Nghiên cứu sử dụng điện não đồ chứng minh não bộ của bệnh nhân vô thức vẫn ghi nhận phản ứng với âm thanh trong những giờ cuối đời, tương đương với não của người khỏe mạnh.
Vì vậy, thay vì hoảng loạn gọi bác sĩ ngay lập tức khi thấy người thân ngừng thở, gia đình nên dành những khoảnh khắc tĩnh lặng đó để trò chuyện và gửi gắm những lời yêu thương cuối cùng, bởi tiếng nói của những người quen thuộc chính là sự an ủi lớn nhất đối với họ trong hành trình đi về cõi vĩnh hằng.
Sáng 19/5, Bộ Y tế chính thức khởi động Chiến dịch thi đua xây dựng cơ sở y tế không khói thuốc lần hai. Điểm mới nhất của chương trình năm nay là trao quyền đánh giá cho chính người bệnh, lấy ý kiến bình chọn trực tiếp để đo lường mức độ tuân thủ của các bệnh viện quy mô từ 100 giường trở lên, thay vì chỉ dựa vào báo cáo nội bộ.
Thứ trưởng Y tế Trần Văn Thuấn yêu cầu các bệnh viện không dừng lại ở việc treo biển cấm. Đội ngũ y bác sĩ phải trực tiếp giám sát, nhắc nhở mọi hành vi vi phạm và hỗ trợ bệnh nhân cai nghiện. Ông nhấn mạnh mỗi điếu thuốc cháy lên đang tàn phá sức khỏe người hút lẫn người xung quanh, đồng thời chất thêm gánh nặng tài chính lên gia đình và xã hội.
Nhìn từ góc độ dịch tễ và kinh tế, khói thuốc chứa 70 chất gây ung thư đang rút của Việt Nam khoảng 108.000 tỷ đồng mỗi năm cho chi phí chữa bệnh và suy giảm năng suất lao động. Mỗi ngày trôi qua, có gần 300 sinh mạng bị lấy đi, gấp hàng chục lần tổng số nạn nhân thiệt mạng vì tai nạn giao thông.
Tỷ lệ tử vong kéo theo khoản thiệt hại kinh tế lên tới 108.000 tỷ đồng, đẩy hệ thống bệnh viện vào tình trạng kẹt cứng. Đội ngũ y bác sĩ tuyến cuối liên tục căng mình gánh vác hàng triệu ca ung thư phổi, tắc nghẽn mạn tính hay nhồi máu cơ tim - biến chứng từ thói quen hút thuốc.
Thuốc lá thường quật ngã nam giới trong độ tuổi lao động, những người giữ vai trò trụ cột tài chính, bằng một quá trình tàn phá cơ thể kéo dài nhiều năm. Người bệnh buộc dốc sạch tài sản tích cóp cho các phác đồ hóa trị ung thư đắt đỏ khiến kinh tế gia đình suy sụp. Không những vậy, nhiều phụ nữ, trẻ em cũng mang án tử ung thư hoặc chịu đựng những cơn suy hô hấp cấp tính chỉ vì hít phải luồng khói từ người thân.
Hiện cả nước mạng lưới hơn 2.100 bệnh viện công lẫn tư, mỗi năm tiếp nhận gần 20 triệu lượt người khám. Với mật độ bệnh nhân ken đặc, Cục trưởng Quản lý Khám chữa bệnh Hà Anh Đức khẳng định "việc triệt tiêu khói độc thụ động chính là thước đo năng lực quản lý và uy tín của từng đơn vị".
Năm 2025, chiến dịch tương tự từng thu hút gần 300 đơn vị tham gia. Những cơ sở kiểm soát tốt như Bệnh viện Chợ Rẫy, Đại học Y Dược TP HCM hay Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí đã chứng minh hiệu quả thực tế khi tạo ra không gian dưỡng bệnh trong lành, cắt đứt hoàn toàn nguồn phơi nhiễm khói thuốc cho bệnh nhân và nhân viên y tế.