“Bố tôi đang bị bệnh Alzheimer giai đoạn cuối, cũng phải có người thân chăm sóc 24/24h. Từ một người đàn ông rất phong độ, luôn chăm chút cho bản thân, giờ bố như một cái xác không hồn. Ăn uống, ngủ nghỉ, đi vệ sinh đều là vấn đề. Tôi thương bố đến phát khóc.
Nhà tôi có bốn anh chị em. Anh trai tôi trước khi xuất khẩu lao động nước ngoài ở với bố mẹ, vừa rồi anh cũng phải nghỉ việc về nước để chăm cha già. Từ đó đến giờ, anh hầu như cũng không làm ăn được gì. Mấy chị em tôi phải thay nhau chăm sóc bố, người góp tiền, người góp sức.
Bản thân tôi có hai con trai đã lớn. Nhìn bố nên tôi luôn quý trọng cuộc sống, bảo vệ sức khỏe mình ngay từ bây giờ: luyện tập, ăn uống, bổ sung vi chất… Tôi luôn cầu mong mình sống phải khỏe để đỡ làm khổ con cái, người thân”.
Đó là chia sẻ của độc giả Thuyquangcao về câu chuyện chăm sóc cha mẹ già sau bài viết “Tôi mất việc lương 20 triệu vì chăm bố nằm liệt giường”. “Thế hệ bánh mỳ kẹp” (Sandwich Generation) là thuật ngữ do nhà xã hội học người Mỹ Dorothy Miller đặt ra, chỉ nhóm người trung niên (40-50 tuổi) vừa phải chăm sóc bố mẹ già, vừa nuôi dạy con cái. Hiện chưa có số liệu thống kê về số người “bánh mỳ kẹp” ở Việt Nam nhưng đây cũng là thực trạng phổ biến và tất yếu. Tổng điều tra dân số 2019 cho biết, tỷ lệ dân số phụ thuộc (dưới 15 tuổi và trên 65 tuổi) ở Việt Nam chiếm khoảng 45%. Trong khi đó, dân số trong độ tuổi thanh niên (từ 16 đến 30 tuổi) ở Việt Nam đang có xu hướng giảm dần qua từng năm, còn nhóm 60 tuổi trở lên đang gia tăng.
Tuổi thọ người dân ngày một tăng, người trẻ sinh đẻ ít đi nên khi chỉ có một hoặc hai con thì gánh nặng lo toan nhiều hơn. Trong khi đó, nhiều người già ở Việt Nam không có lương hưu. Người 80 tuổi trở lên mới được hưởng trợ cấp xã hội và cũng không đủ sống nên họ trông đợi cả vào con. Không chỉ phải bỏ công sức, nhiều người “bánh mỳ kẹp” phải từ bỏ công việc phù hợp hoặc vị trí cao để ưu tiên chăm sóc cha mẹ già, con nhỏ.
>> Tôi mất việc lương 20 triệu vì chăm bố nằm liệt giường
Cũng có cùng cảm giác kiệt sức khi phải gánh trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ già, bạn đọc Anh Phuong bình luận: “Mẹ tôi bị bại liệt, nằm một chỗ đến nay đã gần 40 năm. Ba chị em tôi và bố phải thay nhau chăm mẹ, nhưng chủ yếu là cô út do ở gần nhất. Em tôi vừa đi dạy, vừa lo việc nhà chồng, lại phải chăm mẹ nên vô cùng vất vả. Gần một năm nay, mẹ tôi chính thức sống thực vật, nên mọi người trong nhà đều mệt mỏi cả về tinh thần, thể chất và vật chất. Tính sơ, vài đợt mẹ nằm ICU, mỗi đợt vài ba tháng cũng đã tốn chi phí trung bình 7-8 triệu đồng mỗi ngày.
Giờ mẹ tôi đã được đưa về nhà, phải có người trông coi 24/24h. Chúng tôi từng tính thuê người giúp việc, trả lương cao nhưng cũng không ai chịu làm vì quá vất vả, phải thức gần như xuyên đêm để hút đờm liên tục 20-30 phút một lần cho mẹ. Người trẻ khỏe thì không muốn làm, người có tuổi thì không đủ sức khỏe, nên cuối cùng vẫn là chúng tôi tự tay chăm mẹ. Cái cảm xúc ‘nhiều khi muốn ngủ và không tỉnh lại nữa’ có lẽ chỉ những người trong cuộc mới hiểu”.
Trong khi đó, chọn cách chuẩn bị sớm cho tuổi già của bản thân để không làm gánh nặng cho con cái, độc giả Ftwane nhấn mạnh: “Chúng ta thường lo về tương lai chưa đến, nhớ mãi quá khứ nên ngày nào cũng lo âu. Mỗi người tự tạo cho mình gánh nặng trong suy nghĩ chứ thực tế thì mỗi người đều phải gánh chịu những gì mình tạo ra trong lúc còn trẻ tới khi già.
Cha mẹ tôi 85 tuổi, có 10 người con kinh tế đủ đầy, nhưng cũng không dễ dàng gì khi bệnh tật kéo dài. Thay vì tích góp tiền bạc, bắt người thân chăm sóc khi về già thì điều thực tế nhất chính là giữ sức khỏe ngay từ khi 40 tuổi. Tôi muốn là một người già mạnh khỏe về thể xác, vui vẻ trong tâm hồn và độc lập về tình cảm.
Tôi ăn chay, đi bộ, phơi nắng và thấy đó là cách giữ sức khỏe thực sự hiệu quả. Còn tinh thần thì tôi không muốn lệ thuộc vào tình cảm của người thân. Tôi không muốn trở thành một gánh nặng cho người khác, nhất là với những người trong gia đình”.
Tôi năm nay 49 tuổi. Hồi đầu năm, tôi được nhận vào làm Trưởng phòng truyền thông cho một công ty khởi nghiệp công nghệ. Vấn đề là chỉ hơn một năm trước, tôi từng rơi vào cảm giác tuyệt vọng khi bị sa thải khỏi công ty nơi mình đã cống hiến suốt nhiều năm, trong thời điểm đầu đã hai thứ tóc. Ngày nhận quyết định nghỉ việc, tôi sốc vì lần đầu tiên cảm nhận rõ ràng sự tàn nhẫn của thị trường lao động với người trung niên.
Sau hơn 20 năm làm việc, trải qua đủ những chiến dịch lớn nhỏ, những giai đoạn công ty tăng trưởng mạnh rồi suy thoái, tôi từng tin kinh nghiệm là tài sản lớn nhất của mình. Nhưng rồi, tôi nhận ra ở thời đại này, kinh nghiệm nếu không đi cùng khả năng thích nghi rất dễ trở thành thứ lỗi thời. Người thay thế tôi trẻ hơn, lương thấp hơn và nhanh hơn trong việc cập nhật xu hướng mới. Công ty không sai. Họ cần hiệu quả và tốc độ. Nhưng điều khiến tôi chạnh lòng là cảm giác mình bị đẩy ra bên lề chỉ sau một thời gian ngắn trở nên "không còn hợp thời".
Ở tuổi này, nhiều người bắt đầu sống trong nỗi sợ thất nghiệp âm thầm. Chúng tôi không còn trẻ để dễ dàng bắt đầu lại, nhưng cũng chưa già để được phép nghỉ ngơi. Với đàn ông trung niên, mất việc đôi khi không chỉ là mất thu nhập, mà còn là mất giá trị bản thân. Tôi từng gửi hàng chục bộ hồ sơ xin việc trong vô vọng. Thị trường lao động hiện nay nói nhiều về bình đẳng, nhưng tuổi tác vẫn là một rào cản rất lớn.
Thế hệ 7X như tôi từng lớn lên trong một giai đoạn ổn định hơn rất nhiều. Một kỹ năng có thể dùng hàng chục năm. Một công việc có thể làm đến lúc nghỉ hưu. Nhưng thế giới hiện nay thay đổi chỉ trong vài năm ngắn ngủi. Từ báo in sang báo điện tử, từ truyền hình sang YouTube, từ Facebook sang TikTok, từ thiết kế thủ công sang AI tạo nội dung. Những gì từng là lợi thế hôm nay có thể trở nên lạc hậu rất nhanh.
Nhiều người trung niên thất nghiệp không phải vì họ lười biếng hay kém cỏi, mà vì họ mắc kẹt trong "quán tính kinh nghiệm". Chúng tôi quen làm việc theo cách cũ, quen với tư duy cũ và tin rằng bề dày kinh nghiệm sẽ đủ để giữ mình an toàn. Nhưng công nghệ không quan tâm bạn đã làm nghề bao lâu?
>> Cử nhân Quản trị kinh doanh phải đứng bán mì tôm, nước ngọt
Sau cú sốc mất việc, tôi từng nghĩ AI là thứ đáng sợ nhất. Tôi nhìn thấy hàng loạt công việc sáng tạo bị thay thế nhanh chóng. Những thứ trước đây cần cả nhóm nhân sự làm nhiều ngày thì giờ chỉ cần vài cú nhấp chuột. Tôi từng oán trách công nghệ, cho rằng AI đang cướp đi việc làm của con người. Nhưng rồi tôi nhận ra thứ khiến mình tụt lại chính là sự sợ hãi thay đổi của bản thân.
Tôi bắt đầu học lại từ đầu như một sinh viên mới ra trường. Một người gần 50 tuổi ngồi xem video hướng dẫn dùng AI, hỏi han những đồng nghiệp trẻ hơn mình hàng chục tuổi, loay hoay tập viết câu lệnh, dựng video, tạo hình ảnh, tối ưu nội dung. Có những hôm tôi thấy mình thật lạc lõng. Nhưng càng học, tôi càng nhận ra AI không phải "kẻ thay thế", mà là công cụ khuếch đại năng lực của con người. Khi biết dùng AI như một trợ lý, tôi làm việc nhanh hơn rất nhiều. Ý tưởng được triển khai nhanh hơn, video được dựng hiệu quả hơn, nội dung được tối ưu tốt hơn.
Đầu năm nay, tôi được một người quen giới thiệu vào công ty công nghệ hiện tại. Họ không cần một người trẻ nhất, mà cần một người vừa có kinh nghiệm chiến lược, vừa biết ứng dụng AI để tạo hiệu quả công việc. Lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi nhận ra giá trị của lao động trung niên nằm ở khả năng kết hợp trải nghiệm với công nghệ mới.
Công nghệ sẽ còn tiếp tục phát triển nhanh hơn nữa. Những công việc hôm nay ổn định có thể vài năm nữa sẽ biến mất. Không ai có thể đứng yên. Nhưng tuổi tác không phải dấu chấm hết nếu con người còn sẵn sàng học hỏi. Ở tuổi này, tôi không còn nhanh như người trẻ, nhưng tôi học được cách linh hoạt hơn, cởi mở hơn và chấp nhận rằng muốn tồn tại, mình phải thay đổi liên tục. Thị trường lao động hiện đại rất khắc nghiệt, nhưng nó cũng công bằng theo một cách nào đó. Nó không loại bỏ người lớn tuổi, mà loại bỏ những ai ngừng cập nhật chính mình.
Những ngày cuối tháng 5, đầu tháng 6, nền nhiệt tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung liên tục chạm ngưỡng 40 độ C, có nơi vượt qua kỷ lục do hiệu ứng đô thị và gió Lào.
Giữa cái lò lửa hầm hập ấy, hàng triệu học sinh phổ thông lại phải căng mình, vắt kiệt những giọt mồ hôi cuối cùng để chạy đua trong các kỳ thi chuyển cấp và tốt nghiệp THPT.
Nhìn những gương mặt phờ phạc, những chiếc áo ướt đầm đìa của các cháu tôi lại nhớ về mùa thi đại học năm 2000 của thế hệ mình. Hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, dù phòng thi nay đã có thêm cây quạt, chiếc điều hòa, nhưng con cái chúng ta vẫn đang phải đối chọi với thiên tai khí hậu bằng một lịch trình xơ cứng từ thế kỷ trước.
Tại sao chúng ta không chủ động điều chỉnh lịch trình giáo dục để bảo vệ sức khỏe của học sinh?
Tôi nghĩ đã đến lúc cần thay đổi tư duy quản lý vĩ mô: "Quản lý đồng bộ không có nghĩa là bắt buộc phải đồng loạt". Việc áp một cái khuôn duy nhất về thời gian học, thời gian thi và tuyển sinh cho cả 34 tỉnh thành bất chấp sự khác biệt lớn về địa lý và khí hậu đang gây khó khăn cho thí sinh và sức khỏe xã hội.
Vì vậy tôi để xuất một số giải pháp sau:
- Đẩy lịch thi lên sớm để "tránh nắng" cho học sinh
Việt Nam có đặc điểm khí hậu phân hóa rất rõ rệt theo vĩ độ. Giai đoạn tháng 6 - 7 là đỉnh điểm nắng nóng ở phía Bắc và miền Trung, nhưng lại là mùa mưa mát mẻ ở Nam Bộ. Việc bắt tất cả học sinh cả nước phải bước vào phòng thi cùng một ngày là một sự cào bằng cơ học.
Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, quản trị số và ngân hàng đề thi chuẩn hóa, rào cản "phải thi chung một ngày" hoàn toàn có thể xóa bỏ. Chúng ta hoàn toàn có thể tổ chức thi tốt nghiệp, thi đánh giá năng lực thành nhiều đợt trong năm trên máy tính như cách các chứng chỉ quốc tế đang làm.
Giải pháp căn cơ nhất hiện nay là mạnh dạn giao quyền tự chủ cho các địa phương tự quyết định khung thời gian phù hợp với thời tiết vùng mình:
- Các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra miền Bắc: Cần đẩy tiến độ năm học lên sớm để kết thúc toàn bộ các kỳ thi học kỳ, thi tuyển sinh lớp 10 và tốt nghiệp THPT trước ngày 15/5.
Việc dịch chuyển này giúp các cháu được làm bài trong thời tiết cuối xuân dịu mát, giải phóng áp lực sinh tồn cho cả học sinh lẫn phụ huynh. Các tỉnh này có thể khai giảng sớm vào cuối tháng 7, nhưng khung năm học sẽ tự động thiết lập một "quỹ dự phòng 4 tuần" để học sinh nghỉ an toàn tại nhà mỗi khi có bão lũ thiên tai mà không sợ trễ chương trình.
- Các tỉnh miền Nam và Cao nguyên Trung Bộ: Thời tiết ít cực đoan, hoàn toàn có thể duy trì việc học xuyên mùa hè (mùa mưa mát mẻ) và kéo dài kỳ nghỉ vào mùa khô nắng nóng đỉnh điểm trước và sau Tết Nguyên Đán.- Đào tạo theo tín chỉ tại sao phải nhập học đồng loạt?
Sự xơ cứng của tư duy "đồng loạt" không chỉ dừng lại ở bậc phổ thông mà còn đang trói buộc cả hệ thống giáo dục đại học. Bản chất của đào tạo đại học hiện nay là theo hệ thống tín chỉ và quản lý chất lượng dựa trên chuẩn đầu ra, nghĩa là thời gian và không gian học tập vốn dĩ rất linh hoạt.
Vậy tại sao trường Đại học ở các vùng kinh tế khác nhau vẫn phải bắt buộc nhập học đồng loạt vào cuối tháng 8 và tốt nghiệp đồng loạt vào tháng 6?
Nghịch lý hiện nay là khi hàng trăm ngàn sinh viên, cùng tốt nghiệp ồ ạt vào tháng 6, thị trường lao động rơi vào trạng thái quá tải cục bộ.
Trong khi hầu hết các doanh nghiệp không có nhu cầu tuyển dụng lớn vào thời điểm giữa năm, dẫn đến việc cử nhân ra trường phải trải qua một giai đoạn "thất nghiệp kỹ thuật", mòn mỏi chờ đợi việc làm, gây lãng phí nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nếu các trường Đại học được trao quyền tự chủ xây dựng chương trình tuyển sinh và đào tạo phù hợp với lịch trình thời tiết và nhịp sống kinh tế của vùng mình, bài toán này sẽ được giải quyết triệt để:
- Các trường Đại học có thể mở nhiều kỳ tuyển sinh và tốt nghiệp trong năm (kỳ mùa thu, kỳ mùa xuân) để tiếp nhận học sinh từ các vùng miền có lịch tốt nghiệp phổ thông khác nhau.
- Các trường được quyền bố trí cho sinh viên tốt nghiệp các ngành nghề có nhu cầu cao tại địa phương trước mùa tuyển dụng của ngành nghề đó khoảng 30 ngày. Sự đồng bộ này sẽ giúp thị trường lao động luôn có nguồn cung tươi mới, doanh nghiệp tuyển được người ngay, và sinh viên ra trường là có việc làm, giảm thiểu tối đa lãng phí của xã hội.
Khi được tinh chỉnh để đồng bộ một cách khoa học, giáo dục và kinh tế địa phương sẽ ăn khớp với nhau giúp thúc đẩy phát triển kinh tế giảm thiểu chi phí và lãng phí.
Quản lý theo kiểu "đồng loạt" là cách làm dễ nhất cho cơ quan quản lý, nhưng lại là cách làm gây hao tổn tài lực, vật lực và sức khỏe nhất của nhân dân. Đã đến lúc phải trả lại cho giáo dục sự linh hoạt vốn có của nó.
Khi TP HCM đưa ra đề xuất miễn phí vé xe buýt cho toàn dân, phản ứng ban đầu của nhiều người là dè dặt: "Nghe rất hay, nhưng liệu có thực tế không?". Cá nhân tôi cho rằng điều đáng trân trọng ở đề xuất này không nằm ở chỗ "miễn phí", mà là dám thay đổi tư duy. Bao năm qua, chúng ta loay hoay mở thêm đường, tăng thêm chuyến, đầu tư thêm phương tiện... nhưng lại chưa đủ mạnh để khiến người dân muốn rời bỏ xe cá nhân.
Khi nghe TP HCM tính đến chuyện miễn phí vé xe buýt, tôi chợt nghĩ: nếu hệ thống đủ thuận tiện, đủ phủ rộng và đủ đáng tin, thì việc rời xe máy không phải là điều quá xa vời. Ngược lại, nó có thể trở thành một lựa chọn rất tự nhiên. Tôi hình dung mình đi làm bằng xe buýt, con tôi đi học bằng xe buýt, những chuyến đi ngắn trong thành phố cũng không cần đến xe cá nhân.
Có một sự thật mà ai sống lâu ở đô thị cũng hiểu, nhưng ít khi nói thẳng: nhiều năm qua, xe buýt ở Hà Nội hay TP HCM vẫn ở một vị trí khá chênh vênh - không tệ đến mức bị quay lưng hoàn toàn, nhưng cũng chưa đủ tốt để người ta chủ động bước lên. Nó giống như một phương án dự phòng khi không còn lựa chọn nào khác thì mới nghĩ tới.
Thực lòng mà nói, 7.000 đồng tiền vé xe buýt chưa bao giờ là lý do khiến tôi bận tâm. Điều tôi và có lẽ nhiều người khác mong muốn hơn, là một cảm giác dễ chịu khi di chuyển: không phải căng mình giữa dòng xe, không phải loay hoay tìm chỗ gửi, không phải mang theo sự mệt mỏi ngay từ khi chưa bắt đầu một ngày làm việc.
>> Đi làm 30 km bằng xe máy vì không dám lái ôtô vào nội thành Hà Nội
Nếu xe buýt thực sự trở thành một lựa chọn dễ chịu, tôi sẵn sàng cùng con mình đi lại bằng xe buýt mỗi ngày. Không phải vì vài nghìn đồng tiền vé, mà vì cảm giác yên tâm khi không phải chen chúc, không phải căng thẳng giữa dòng xe, và biết rằng mình đang góp một phần nhỏ để thành phố bớt ngột ngạt hơn.
Thế giới đã đi con đường này từ lâu. Nhiều đô thị không xem việc trợ giá hay miễn phí giao thông công cộng là "nuôi một hệ thống tốn kém", mà là khoản chi cần thiết để "mua lại" một thứ quý hơn rất nhiều: một thành phố đáng sống. Một nơi mà người ta không phải trả giá bằng sức khỏe, thời gian và sự căng thẳng chỉ để di chuyển vài cây số.
Nhìn sang Hà Nội, câu chuyện miễn phí xe buýt không còn là "có nên làm hay không?" nữa. Câu hỏi đúng lúc này phải là: bao giờ bắt đầu? Bởi những gì đang diễn ra mỗi ngày trên đường phố đã nói rất rõ - mật độ phương tiện ngày càng dày, không khí ngày càng ngột ngạt, còn hạ tầng thì gần như đã chạm ngưỡng. Nếu cứ đi theo cách cũ, chúng ta chỉ đang kéo dài một trạng thái quá tải vốn đã hiện hữu.
Từ câu chuyện của TP HCM, tôi thực lòng mong Hà Nội và các đô thị lớn khác cũng sẽ cân nhắc nghiêm túc. Không cần làm ngay một bước thật lớn, nhưng cần một quyết định đủ dũng cảm để bắt đầu. Bởi đôi khi, điều khó nhất không phải là tiền bạc hay kỹ thuật, mà là dám thay đổi cách nghĩ. Và một khi đã bắt đầu đúng hướng, phần còn lại sẽ là câu chuyện của thời gian và của niềm tin.
Vũ Thị Minh HuyềnCấm xe máy xăng 'đại phẫu' giao thông Hà Nội
5 triệu đồng đổi xe máy xăng sang xe điện: có thật sự là cú hích?
Rục rịch đổi xe máy điện vì 'dự kiến được hỗ trợ 5 triệu đồng'
Tôi cắm xe máy để mừng đám cưới bạn thân một triệu đồng
Ranh giới an toàn mong manh khi hoán cải xe xăng thành xe điện
'Hoán cải sang xe điện là bước chuyển cần thiết để cấm xe xăng'