Tôi năm nay 49 tuổi. Hồi đầu năm, tôi được nhận vào làm Trưởng phòng truyền thông cho một công ty khởi nghiệp công nghệ. Vấn đề là chỉ hơn một năm trước, tôi từng rơi vào cảm giác tuyệt vọng khi bị sa thải khỏi công ty nơi mình đã cống hiến suốt nhiều năm, trong thời điểm đầu đã hai thứ tóc. Ngày nhận quyết định nghỉ việc, tôi sốc vì lần đầu tiên cảm nhận rõ ràng sự tàn nhẫn của thị trường lao động với người trung niên.
Sau hơn 20 năm làm việc, trải qua đủ những chiến dịch lớn nhỏ, những giai đoạn công ty tăng trưởng mạnh rồi suy thoái, tôi từng tin kinh nghiệm là tài sản lớn nhất của mình. Nhưng rồi, tôi nhận ra ở thời đại này, kinh nghiệm nếu không đi cùng khả năng thích nghi rất dễ trở thành thứ lỗi thời. Người thay thế tôi trẻ hơn, lương thấp hơn và nhanh hơn trong việc cập nhật xu hướng mới. Công ty không sai. Họ cần hiệu quả và tốc độ. Nhưng điều khiến tôi chạnh lòng là cảm giác mình bị đẩy ra bên lề chỉ sau một thời gian ngắn trở nên “không còn hợp thời”.
Ở tuổi này, nhiều người bắt đầu sống trong nỗi sợ thất nghiệp âm thầm. Chúng tôi không còn trẻ để dễ dàng bắt đầu lại, nhưng cũng chưa già để được phép nghỉ ngơi. Với đàn ông trung niên, mất việc đôi khi không chỉ là mất thu nhập, mà còn là mất giá trị bản thân. Tôi từng gửi hàng chục bộ hồ sơ xin việc trong vô vọng. Thị trường lao động hiện nay nói nhiều về bình đẳng, nhưng tuổi tác vẫn là một rào cản rất lớn.
Thế hệ 7X như tôi từng lớn lên trong một giai đoạn ổn định hơn rất nhiều. Một kỹ năng có thể dùng hàng chục năm. Một công việc có thể làm đến lúc nghỉ hưu. Nhưng thế giới hiện nay thay đổi chỉ trong vài năm ngắn ngủi. Từ báo in sang báo điện tử, từ truyền hình sang YouTube, từ Facebook sang TikTok, từ thiết kế thủ công sang AI tạo nội dung. Những gì từng là lợi thế hôm nay có thể trở nên lạc hậu rất nhanh.
Nhiều người trung niên thất nghiệp không phải vì họ lười biếng hay kém cỏi, mà vì họ mắc kẹt trong “quán tính kinh nghiệm”. Chúng tôi quen làm việc theo cách cũ, quen với tư duy cũ và tin rằng bề dày kinh nghiệm sẽ đủ để giữ mình an toàn. Nhưng công nghệ không quan tâm bạn đã làm nghề bao lâu?
>> Cử nhân Quản trị kinh doanh phải đứng bán mì tôm, nước ngọt
Sau cú sốc mất việc, tôi từng nghĩ AI là thứ đáng sợ nhất. Tôi nhìn thấy hàng loạt công việc sáng tạo bị thay thế nhanh chóng. Những thứ trước đây cần cả nhóm nhân sự làm nhiều ngày thì giờ chỉ cần vài cú nhấp chuột. Tôi từng oán trách công nghệ, cho rằng AI đang cướp đi việc làm của con người. Nhưng rồi tôi nhận ra thứ khiến mình tụt lại chính là sự sợ hãi thay đổi của bản thân.
Tôi bắt đầu học lại từ đầu như một sinh viên mới ra trường. Một người gần 50 tuổi ngồi xem video hướng dẫn dùng AI, hỏi han những đồng nghiệp trẻ hơn mình hàng chục tuổi, loay hoay tập viết câu lệnh, dựng video, tạo hình ảnh, tối ưu nội dung. Có những hôm tôi thấy mình thật lạc lõng. Nhưng càng học, tôi càng nhận ra AI không phải “kẻ thay thế”, mà là công cụ khuếch đại năng lực của con người. Khi biết dùng AI như một trợ lý, tôi làm việc nhanh hơn rất nhiều. Ý tưởng được triển khai nhanh hơn, video được dựng hiệu quả hơn, nội dung được tối ưu tốt hơn.
Đầu năm nay, tôi được một người quen giới thiệu vào công ty công nghệ hiện tại. Họ không cần một người trẻ nhất, mà cần một người vừa có kinh nghiệm chiến lược, vừa biết ứng dụng AI để tạo hiệu quả công việc. Lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi nhận ra giá trị của lao động trung niên nằm ở khả năng kết hợp trải nghiệm với công nghệ mới.
Công nghệ sẽ còn tiếp tục phát triển nhanh hơn nữa. Những công việc hôm nay ổn định có thể vài năm nữa sẽ biến mất. Không ai có thể đứng yên. Nhưng tuổi tác không phải dấu chấm hết nếu con người còn sẵn sàng học hỏi. Ở tuổi này, tôi không còn nhanh như người trẻ, nhưng tôi học được cách linh hoạt hơn, cởi mở hơn và chấp nhận rằng muốn tồn tại, mình phải thay đổi liên tục. Thị trường lao động hiện đại rất khắc nghiệt, nhưng nó cũng công bằng theo một cách nào đó. Nó không loại bỏ người lớn tuổi, mà loại bỏ những ai ngừng cập nhật chính mình.
Chỉ trong vài ngày sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố điểm thi tốt nghiệp THPT, tôi thấy trên mạng xã hội ngập tràn các dòng tin về thủ khoa khối A00, thủ khoa khối B00, thủ khoa khối C00, thủ khoa môn Toán, thủ khoa môn Ngữ văn, thủ khoa môn Tiếng Anh, thủ khoa toàn quốc, thủ khoa của tỉnh, thủ khoa của trường chuyên...
Chưa hết, khi các trường đại học bắt đầu công bố danh sách xét tuyển thẳng, công bố những sinh viên đầu tiên trúng tuyển, người ta lại tiếp tục nói về thủ khoa đầu vào, á khoa đầu vào, thí sinh có điểm xét tuyển cao nhất của trường này, trường kia. Những câu chuyện về thành tích học tập luôn có giá trị truyền cảm hứng. Xã hội cần ghi nhận nỗ lực của những học sinh xuất sắc. Không ai phủ nhận điều đó.
Nhưng khi việc tôn vinh diễn ra với tần suất dày đặc, phạm vi ngày càng mở rộng và mức độ chú ý ngày càng lớn, một câu hỏi đáng suy ngẫm xuất hiện: Liệu chúng ta đang khích lệ người trẻ vươn lên, hay đang vô tình tạo ra một môi trường nơi thành tích thi cử được đặt lên quá cao so với giá trị thực của sự trưởng thành? Đó không chỉ là câu chuyện của một mùa thi. Đó là câu chuyện về cách xã hội nhìn nhận thành công.
Mỗi khi mùa thi đến, xã hội thường chỉ nhìn thấy niềm vui của những người đứng đầu. Nhưng phía sau đó là hàng triệu học sinh bình thường khác đang lặng lẽ đối diện với những cảm xúc rất khác. Các em có thể đạt 24 điểm, 25 điểm, thậm chí 27 điểm. Đó là kết quả không hề thấp. Thế nhưng khi mở điện thoại, bật TV, điều các em nhìn thấy lại là những câu chuyện về những thí sinh đạt 29 điểm, 30 điểm.
Hiệu ứng so sánh bắt đầu xuất hiện. Nhiều học sinh cảm thấy thành tích của mình trở nên nhỏ bé. Không ít em vừa vượt qua một kỳ thi đầy áp lực nhưng lại không cảm nhận được niềm vui vì luôn thấy mình thua kém ai đó. Đây là một hệ quả tâm lý mà xã hội ít khi nhắc tới.
>> 'Đời tôi rẽ hướng không ngờ sau khi trượt đại học vì thiếu 0,2 điểm'
Khi người ta chỉ tập trung vào nhóm xuất sắc nhất, phần đông học sinh còn lại rất dễ có cảm giác mình không đủ giỏi, không đủ nổi bật, không đủ đáng được ghi nhận. Trong khi thực tế, một nền giáo dục lành mạnh không thể chỉ phục vụ cho nhóm đứng đầu. Nó phải giúp đa số người học cảm nhận được giá trị của chính mình.
Quan sát các nền giáo dục phát triển trên thế giới, có thể thấy một xu hướng khá rõ. Họ vẫn ghi nhận học sinh xuất sắc nhưng không đặt quá nhiều sự chú ý vào việc tìm kiếm và tôn vinh người đứng đầu. Ở nhiều trường phổ thông tại châu Âu, việc công khai xếp hạng học sinh thậm chí còn được hạn chế nhằm tránh tạo áp lực cạnh tranh không cần thiết. Các trường đại học hàng đầu thế giới khi tuyển sinh cũng không chỉ nhìn vào điểm số. Họ quan tâm đến hoạt động xã hội, kỹ năng lãnh đạo, khả năng sáng tạo, cá tính và tiềm năng phát triển...
Điểm số quan trọng nhưng không phải tất cả. Một học sinh có thể giỏi Toán nhưng chưa chắc giỏi làm việc nhóm. Một học sinh có thể đạt điểm tuyệt đối nhưng chưa chắc có khả năng thích nghi với môi trường mới. Một học sinh có thể là thủ khoa nhưng chưa chắc là người có năng lực lãnh đạo tốt. Bởi vậy, thay vì cố gắng xác định ai là người xuất sắc nhất, nhiều quốc gia chuyển trọng tâm sang việc giúp mỗi học sinh phát huy tối đa điểm mạnh riêng của mình. Đó là cách tiếp cận nhân văn và cũng thực tế hơn.
Tôi từng gặp nhiều sinh viên đạt thành tích rất cao khi còn học phổ thông. Các em thông minh, chăm chỉ và hoàn toàn xứng đáng với kết quả đạt được. Nhưng điều khiến tôi ấn tượng nhất lại không phải bảng điểm, mà là thái độ của các em đối với thành công. Những người tiến xa nhất thường không dành quá nhiều thời gian để tận hưởng hào quang. Họ hiểu rằng một kỳ thi chỉ là một cột mốc, không phải đích đến. Họ hiểu rằng phía trước còn rất nhiều thử thách lớn hơn.
Thành tích học tập là điều đáng trân trọng. Những học sinh đạt điểm cao xứng đáng nhận được sự ghi nhận của cộng đồng. Nhưng sự ghi nhận ấy cần đi kèm với sự tỉnh táo. Chúng ta không nên biến một kỳ thi thành thước đo duy nhất của tương lai. Không nên biến những người trẻ vừa bước qua tuổi 18 thành biểu tượng hoàn hảo của thành công. Càng không nên khiến các em mang cảm giác rằng mình phải sống cả đời dưới cái bóng của một danh hiệu đạt được trong vài ngày thi cử.
Có lần, một đối tác đến công ty tôi vào giờ nghỉ trưa. Trong lúc mọi người xuống canteen hoặc gọi đồ ăn ngoài, tôi mở chiếc túi vải nhỏ mang theo đi làm, lấy ra hộp cơm được chuẩn bị từ tối hôm trước. Người đó nhìn tôi rồi bật cười: "Làm sếp, ở biệt thự mà vẫn mang cơm hộp đi làm à?". Tôi cũng chỉ cười trừ. Câu nói ấy không làm tôi khó chịu, bởi suốt hơn mười năm qua, tôi đã quen với ánh mắt ngạc nhiên của người khác mỗi khi thấy một người đàn ông điều hành công ty vẫn đều đặn mang cơm nhà đi làm mỗi ngày.
Tôi năm nay 46 tuổi, làm chủ một công ty tại Hà Nội đã 13 năm. Mỗi sáng, tôi mang theo chiếc hộp cơm nhỏ đi làm. Nhưng nhiều người lại thấy lạ vì họ mặc định rằng càng có tiền thì càng phải tiêu xài phóng khoáng. Một người làm sếp mà mang cơm đi làm có khi lại bị xem là "keo kiệt".
Ở công ty, tôi chứng kiến không ít người thu nhập chục triệu đồng mỗi tháng nhưng ngày nào cũng gọi đồ ăn giao tận nơi, uống trà sữa, cà phê thương hiệu và ăn ngoài liên tục. Cuối tháng hết tiền, họ lại than vật giá leo thang hay lương không đủ sống. Trong khi đó, sự ổn định tài chính không đến từ việc kiếm được bao nhiêu tiền, mà từ cách tiêu tiền như thế nào?
Tôi mang cơm đi làm trước hết vì sức khỏe. Sau nhiều năm kinh doanh, tôi hiểu không có tài sản nào đáng giá hơn một cơ thể khỏe mạnh. Những bữa ăn ngoài tiện lợi thật, ngon miệng thật, nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều vấn đề. Thực phẩm không rõ nguồn gốc, dầu chiên đi chiên lại, gia vị đậm để kích thích vị giác và thói quen ăn uống thất thường khiến nhiều người trẻ mắc bệnh sớm hơn họ tưởng.
Tôi từng có một nhân viên mới ngoài 20 tuổi nhưng đã đau dạ dày mãn tính. Có hôm cậu ấy ôm bụng trong giờ làm việc, mặt tái nhợt vì đau. Điều đó khiến tôi càng tin rằng nhiều người đang đánh đổi sức khỏe lấy sự tiện lợi mà không nhận ra. Không ít người nhầm lẫn giữa tiết kiệm và nghèo khổ, giữa giản dị và kém sang.
>> Tôi mua được đất ven Sài Gòn bắt đầu từ mỗi tháng tiết kiệm 270.000 đồng
Chúng ta đang sống trong thời đại mạng xã hội, nơi người ta dễ bị cuốn vào áp lực phải thể hiện một cuộc sống hào nhoáng. Nhiều người sẵn sàng chi rất nhiều tiền cho những thứ bên ngoài nhìn có vẻ "đẳng cấp", dù khả năng tài chính chưa cho phép. Có người mới đi làm nhưng mỗi ngày đều đặt đồ ăn bên ngoài, có người vay trả góp để mua điện thoại mới, quần áo hàng hiệu hay những bữa ăn đắt tiền. Điều đáng buồn là xã hội đôi khi cũng cổ vũ cho lối sống ấy. Người sống tiết kiệm thường bị xem là tính toán, còn người tiêu xài mạnh tay lại dễ được khen là "biết hưởng thụ".
Tôi từng trải qua giai đoạn khó khăn khi mới khởi nghiệp. Có thời điểm công ty thiếu tiền vận hành, tôi phải tính toán từng khoản chi để duy trì bộ máy. Chính những năm tháng ấy khiến tôi hiểu giá trị của đồng tiền không nằm ở việc tiêu thật nhiều, mà ở việc dùng nó đúng chỗ. Đến hôm nay, dù điều kiện kinh tế đã tốt hơn, tôi vẫn giữ thói quen mang cơm đi làm. Không phải vì tôi không đủ khả năng ăn ngoài, mà vì tôi hiểu rõ mình cần gì?
Tôi sẵn sàng chi tiền cho những chuyến du lịch cùng gia đình, cho việc học của con hay giúp đỡ người khó khăn. Nhưng tôi không thấy cần thiết phải tiêu tiền chỉ để chứng minh mình giàu có. Điều khiến tôi lo lắng hơn là nhiều người trẻ đang mất dần khả năng sống có kế hoạch. Cuộc sống nhanh khiến con người ngày càng thiếu kiên nhẫn với những việc nhỏ như tự nấu ăn hay chuẩn bị cho ngày mai. Nhưng chính những thói quen nhỏ ấy mới tạo nên tính kỷ luật và sự ổn định lâu dài.
Ở tuổi 46, điều tôi muốn hướng tới không còn là sự hào nhoáng bên ngoài, mà là một cuộc sống cân bằng, chủ động và bền vững. Và nếu một người làm sếp, ở biệt thự mà vẫn mang cơm đi làm mỗi ngày có thể khiến ai đó suy nghĩ lại về cách tiêu tiền và chăm sóc bản thân, thì chiếc hộp cơm nhỏ ấy có lẽ còn ý nghĩa hơn rất nhiều so với một bữa trưa sang trọng ngoài nhà hàng.
"Tôi đang làm cha. Có thể tôi may mắn khi hai đứa con trai của mình đều có hai bằng đại học, có việc làm ổn định, rất ngoan và hiếu thảo. Từ nhỏ đến giờ, tôi luôn nhỏ nhẹ tâm sự cùng con, chưa bao giờ la mắng hay dùng đòn roi với các con. Lúc nhỏ, có khi con bị điểm hơi thấp, tôi và vợ chỉ động viên và nói 'không sao đâu, lần sau sẽ tốt hơn' thế là chúng tự biết phấn đấu.
Tôi rất hiểu, đồng cảm và chia sẻ những khó xử của các bậc làm cha mẹ khi có con 'nổi loạn'. Tuy nhiên, tôi phản đối việc sử dụng biện pháp lắp camera để theo dõi con vì sẽ làm trẻ dễ bị ức chế và đôi khi cấp độ nổi loạn sẽ càng tăng lên.
Tại sao không thể dùng tình cảm cha mẹ để cảm hóa chúng? Nếu không thể trực tiếp nói chuyện với con được thì có thể viết thư, lời nhắn. Việc cảm hóa con không gì bằng tình cảm chân thành của cha mẹ. Chỉ có những người bất lực trong việc dạy con mới phải dùng đến biện pháp lắp camera để theo dõi, giám sát con mình".
Đó là chia sẻ của độc giả Phtqyt xung quanh câu chuyện cha mẹ dạy con bằng cách lắp camera giám sát. Trong các gia đình châu Á, việc kiểm soát con cái từ lâu được xem như một "chuẩn mực nuôi dạy", kỳ vọng con phải vâng lời và tuân theo định hướng của cha mẹ. Nghiên cứu" Mối quan hệ giữa sự kiểm soát tâm lý từ cha mẹ và bản sắc cá nhân của thanh niên" của tác giả Vũ Huyền Châu (Đại học Eötvös Loránd Budapest, Hungary) cho thấy không ít phụ huynh châu Á đặt nặng sự phục tùng, coi đó như biểu hiện của lòng biết ơn và đạo hiếu.
Nghiên cứu năm 2021 của Đại học Stanford (Mỹ) chỉ ra, trẻ em có cha mẹ giám sát quá mức thường dễ lo âu, trầm cảm và mất tự tin. Chúng có xu hướng tin rằng mình không thể đối mặt với các thách thức trong cuộc sống mà không có sự giúp đỡ từ cha mẹ.
>> 'Steve Jobs của Việt Nam' bị bố mắng vì tháo tung đồ chơi
Cũng phản đối việc lắp camera giám sát con trẻ, bạn đọc Nguoixala bình luận: "Con trai tôi 18 tuổi, sống ở Đức. Nhà tôi không có camera. Phòng của con tôi là một thế giới riêng. Chỉ có tôi thỉnh thoảng vào để thu gom quần áo mang đi giặt. Đứa em út muốn vào phòng anh cũng phải xin phép trước (theo văn hóa ở Đức). Khi con đóng cửa phòng, tôi phải gõ cửa hỏi ý kiến chứ không tự ý đẩy cửa vào.
Không chỉ là việc phòng ốc, tất cả vấn đề khác từ ăn uống, sở thích, học hành, quần áo... cha mẹ cũng phải tôn trọng ý con. Đó là cách dạy con tính tự lập: tự quyết định và chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Con tôi tự lập hết mọi việc. 14 tuổi con đã tự xách vali ra sân bay về Việt Nam thăm ông bà ngoại. 15 tuổi con tự lên thành phố lớn để tham quan trường chuyên, tự nộp đơn vào cấp ba lớp chuyên Toán. 16 tuổi con tự đi tàu đến trường mỗi ngày từ 5h30 dù mùa đông ngập tuyết.
17 tuổi con tự đến Sở Ngoại kiều ở thành phố khác để nộp đơn xin nhập quốc tịch, làm hồ sơ học lái xe, đạt học bổng Tiếng Anh đi Ba Lan một tuần. 18 tuổi con thi đậu bằng lái xe, đạt thủ khoa Toán lớp chuyên, đạt học bổng Tiếng Anh lần hai, tự đăng ký vào trường Đại học Quân Đội, học Sĩ quan ngành Hải quân, tự đến buổi phỏng vấn một mình, sẽ tự đến Hà Lan tham dự sự kiện vào tháng sau...
Tóm lại, mọi thứ của con tôi không can thiệp hay kiểm soát. Tôi chỉ đứng sau ủng hộ tinh thần và con cũng chỉ cần có vậy. Con tôi nói: 'Con cái tự biết đường bơi ra biển nếu được cha mẹ đứng sau ủng hộ'".