Chiều 17/6, làm việc với Thường trực Ban Chỉ đạo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930-2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030-2130) và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh việc xác định tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước cho 100 năm tới là một trong những nội dung quan trọng nhất của đợt tổng kết lần này.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, việc tổng kết phải bám sát sự thật lịch sử, tôn trọng lịch sử và xuất phát từ lịch sử, nhưng không dừng ở việc kể lại lịch sử hay liệt kê sự kiện theo lối biên niên. Điều quan trọng hơn là phải đúc kết được những bài học lớn, những quy luật xuyên suốt để làm sáng rõ con đường cách mạng Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tương lai phát triển của đất nước.
Công tác tổng kết phải tạo ra những giá trị mới về nhận thức và lý luận, trả lời được các câu hỏi về sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng qua 100 năm, những bài học được khái quát ở tầm cao hơn, các vấn đề lý luận cần tiếp tục bổ sung, phát triển và những định hướng chiến lược cho thế kỷ tiếp theo.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước cũng lưu ý cần làm rõ mối quan hệ giữa tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là hai nội dung có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất, không thể tách rời cũng không thể lồng ghép một cách cơ học.
Theo đó, tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh phải được đặt trong dòng chảy 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đồng thời tập trung đánh giá những nội dung đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, phát triển và những lĩnh vực lý luận cần đi trước, dẫn đường cho thực tiễn.
Ông yêu cầu tổng kết phải làm nổi bật những thành tựu có ý nghĩa lịch sử qua một thế kỷ Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại và nâng cao vị thế đất nước.
Bên cạnh đó, việc tổng kết cũng phải thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, những vấn đề chưa thành công và các điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới. Đồng thời, các cơ quan phải làm rõ những vấn đề mang tính cốt lõi, xuyên suốt trong 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam như lựa chọn và kiên định con đường phát triển; phát huy sức mạnh nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
“Phải trả lời được vì sao Đảng ta có thể lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong những điều kiện hết sức khó khăn, phức tạp”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.
Nhấn mạnh ý nghĩa của việc xây dựng tầm nhìn cho thế kỷ tới, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cho rằng đây là nhiệm vụ đặc biệt khó khăn bởi thế giới đang biến đổi nhanh chóng dưới tác động của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh cùng những biến động địa chính trị và các thách thức an ninh mới.
Ông yêu cầu tầm nhìn 100 năm phải thể hiện được khát vọng phát triển của dân tộc, đồng thời trả lời những câu hỏi lớn: Việt Nam muốn trở thành quốc gia phát triển như thế nào trong thế kỷ tới; những nền tảng nào cần giữ vững; động lực tăng trưởng mới là gì; những đột phá chiến lược nào phải tạo dựng; những nguy cơ nào cần ứng phó và những giá trị nào phải được bảo vệ, phát huy.
“Tầm nhìn phải có chiều cao của khát vọng, chiều sâu của lý luận, bám sát thực tiễn đất nước và xu thế của thời đại, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện”, Tổng Bí thư nhấn mạnh, yêu cầu các nhóm tổng kết triển khai công việc ngay, chủ động xây dựng kế hoạch, xác định rõ sản phẩm, tiến độ, trách nhiệm và cơ chế phối hợp; đồng thời coi trọng công tác tư liệu, dữ liệu, nhân chứng lịch sử và các nguồn thông tin có giá trị, phục vụ xây dựng báo cáo tổng kết có chất lượng.
>>> Nội dung bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Theo Tổng LĐLĐ Việt Nam, những ngày qua, nhiều công đoàn cơ sở, người lao động và cả cán bộ, công chức đã kiến nghị xem xét phương án hoán đổi ngày làm việc để kéo dài kỳ nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương và lễ 30.4 - 1.5 liền mạch, không bị ngắt quãng.
Trên cơ sở đó, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam phát hành phiếu thăm dò ý kiến nhằm tổng hợp, đánh giá mức độ đồng thuận trước khi đề xuất phương án cụ thể. Thời gian lấy ý kiến trên Fanpage Công đoàn Việt Nam đến 10 giờ ngày 9.4.2026.
Trong phiếu khảo sát lần này, Tổng LĐLĐ Việt Nam tập trung vào việc đo lường nhu cầu thực tế của người lao động đối với việc hoán đổi ngày nghỉ. Theo đó, người tham gia được lựa chọn các mức độ từ "rất mong muốn", "mong muốn", "bình thường" đến "không mong muốn".
Bên cạnh đó, khảo sát cũng phân loại đối tượng theo hình thức làm việc, gồm: làm 5 ngày/tuần, làm 6 ngày/tuần và lao động làm việc theo ca kíp hoặc đặc thù khác. Đây là yếu tố quan trọng bởi mỗi nhóm lao động sẽ chịu tác động khác nhau nếu thực hiện hoán đổi ngày làm việc.
Phiếu thăm dò đưa ra 3 phương án chính để người lao động lựa chọn.
Phương án 1: giữ nguyên lịch nghỉ theo quy định, không thực hiện hoán đổi, với ngày nghỉ bù vào 27.4.
Phương án 2: đề xuất hoán đổi ngày 27.4 sang 29.4, qua đó giúp người lao động có thể nghỉ liên tục 3 hoặc 5 ngày, tùy theo lịch làm việc từng đơn vị.
Phương án 3: hoán đổi ngày 27.4 sang 2.5, nhằm tạo điều kiện cho nhóm làm việc 6 ngày/tuần có thể nghỉ liền 4 ngày.
Ngoài ra, người tham gia khảo sát có thể nêu thêm ý kiến khác, giúp mở rộng thêm các kịch bản xem xét.
Việc đưa ra nhiều phương án cho thấy cơ quan tổ chức đang tính toán để hài hòa lợi ích giữa các nhóm lao động. Trong đó, phương án hoán đổi sang 29.4 được đánh giá phù hợp với số đông, nhất là người làm việc theo chế độ 5 ngày/tuần, khi có thể tận dụng kỳ nghỉ dài để nghỉ ngơi, du lịch.
Trong khi đó, phương án hoán đổi sang 2.5 lại hướng đến nhóm lao động làm việc 6 ngày/tuần, vốn ít có cơ hội nghỉ dài ngày.
Theo Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, việc lấy ý kiến lần này nhằm có thêm cơ sở thực tiễn, đồng thời đối chiếu với quy định pháp luật để trao đổi với các cơ quan chức năng về phương án hoán đổi phù hợp.
Kết quả khảo sát được kỳ vọng sẽ phản ánh sát nhu cầu của người lao động, qua đó góp phần đề xuất lịch nghỉ lễ tháng 4.2026 linh hoạt hơn, nhưng vẫn đảm bảo không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trước đó, ngày 7.4, trao đổi với Thanh Niên, ông Ngọ Duy Hiểu, Phó chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, chia sẻ nhiều công đoàn cơ sở, người lao động và cả cán bộ, công chức đã có kiến nghị với Tổng LĐLĐ Việt Nam nên nghiên cứu về việc hoán đổi để tạo kỳ nghỉ liền mạch giữa nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương và dịp lễ 30.4 - 1.5.
"Tổng LĐLĐ Việt Nam sẽ lắng nghe ý kiến từ phía người lao động, đồng thời nghiên cứu quy định của pháp luật và trao đổi với Bộ Nội vụ trước khi đưa ra đề xuất chính thức", ông Hiểu nói.
Ông Hiểu cũng cho hay, để đưa ra đề xuất chính thức Tổng LĐLĐ Việt Nam cũng phải cân nhắc đồng thời 3 yếu tố, gồm: nguyện vọng của người lao động, quy định của pháp luật và sự hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan.
Một trong những vướng mắc theo ông Hiểu đó là là quy định nghỉ bù phải liền kề ngay sau ngày nghỉ lễ. Điều này khiến việc "nối" 2 kỳ nghỉ gần nhau trở nên khó khăn. Đây là tình huống đặc biệt mà luật chưa tính đến.
"Đây là vấn đề cần bàn bạc kỹ, bởi hiện chưa có sửa đổi luật, nên mọi phương án đều phải cân nhắc thận trọng", ông Hiểu nói thêm.
Ngày 3/6, lãnh đạo UBND tỉnh Khánh Hòa xác nhận địa phương đã có văn bản gửi Bộ Xây dựng đề nghị nghiên cứu điều chỉnh hướng tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam ra ngoài phạm vi khu vực bảo vệ II của di tích quốc gia đặc biệt tháp Hòa Lai.
Theo UBND tỉnh Khánh Hòa, di tích kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ tháp Hòa Lai (xã Thuận Bắc, tỉnh Khánh Hòa) được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2016. Đây là một trong những quần thể kiến trúc Chăm cổ tiêu biểu còn được bảo tồn tương đối nguyên vẹn ở khu vực Nam Trung Bộ.
Trong quá trình lập quy hoạch, UBND tỉnh Khánh Hòa đã rà soát hồ sơ báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Kết quả cho thấy đoạn tuyến đi qua xã Thuận Bắc nằm trong khu vực bảo vệ II của tháp Hòa Lai, tức khu vực bao quanh hoặc tiếp giáp vùng chứa đựng các yếu tố gốc cấu thành di tích.
Theo đánh giá của tỉnh Khánh Hòa, việc bố trí công trình hạ tầng giao thông quy mô lớn trong khu vực phụ cận có nguy cơ tác động đến không gian văn hóa - lịch sử, cảnh quan, trục nhìn kiến trúc và tính toàn vẹn của di tích. Ngoài ra, hoạt động thi công, xử lý nền móng, khoan cọc và vận hành công trình cũng có thể ảnh hưởng đến môi trường khảo cổ học, địa tầng khảo cổ chưa được phát lộ cùng các yếu tố gốc cấu thành di tích.
Bên cạnh đó, với đặc thù tải trọng động lớn, tần suất khai thác cao và vận tốc vận hành lớn, tuyến đường sắt tốc độ cao có thể phát sinh rung chấn, tiếng ồn và các tác động kỹ thuật kéo dài trong suốt quá trình thi công, khai thác.
Theo UBND tỉnh Khánh Hòa, những yếu tố trên có nguy cơ ảnh hưởng đến độ ổn định kết cấu, độ bền vật liệu và môi trường bảo tồn của công trình kiến trúc cổ với niên đại lâu đời như tháp Hòa Lai.
Dẫn quy định của Luật Di sản văn hóa về việc các di tích được xếp hạng phải được khoanh vùng 2 khu vực bảo vệ, UBND tỉnh Khánh Hòa kiến nghị Bộ Xây dựng xem xét điều chỉnh hướng tuyến nhằm hạn chế tác động đến tháp Hòa Lai.
Theo Trung tâm Bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Khánh Hòa, cụm di tích tháp Hòa Lai (Ba Tháp) tại thôn Ba Tháp, xã Thuận Bắc, tỉnh Khánh Hòa được xây dựng vào khoảng thế kỷ VIII-IX. Đây là một trong những quần thể kiến trúc tháp Chăm cổ nhất và đẹp nhất còn tồn tại đến ngày nay.
TAND tối cao mới có hướng dẫn triển khai thực hiện quyết định của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2026, trong đó có trường hợp đặc biệt đối với người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù không đủ điều kiện đặc xá hoặc người đang được hoãn chấp hành án phạt tù để đáp ứng yêu cầu về đối nội hoặc đối ngoại của Nhà nước.
Theo hướng dẫn, để được xem xét đề nghị đặc xá thuộc diện nêu trên, người được xem xét phải đáp ứng một trong 3 điều kiện: có văn bản thông báo ý kiến của Chủ tịch nước yêu cầu đặc xá; có văn bản của cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế đề nghị đặc xá; có văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ, các ban Đảng ở Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị đặc xá.
Hồ sơ đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt tương tự với trường hợp đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, gồm các biểu mẫu, tài liệu (phiếu đề nghị xét đặc xá, đơn đề nghị đặc xá, bản cam kết, các bản sao về quyết định thi hành án, bản án đang chấp hành, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù…) kèm theo văn bản về việc yêu cầu hoặc đề nghị đặc xá.
Về trình tự, khi nhận được văn bản thông báo ý kiến của Chủ tịch nước yêu cầu đặc xá hoặc văn bản đề nghị đặc xá của các cơ quan, tổ chức theo quy định, TAND cấp tỉnh, tòa án quân sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ, danh sách đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt thuộc quyền quản lý của tòa án mình.
Tiếp đó, chánh án TAND cấp tỉnh, chánh án tòa án quân sự cấp quân khu thông báo bằng văn bản cho viện kiểm sát cùng cấp về kết quả lập danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt để kiểm sát.
Sau khi nhận được kết quả kiểm sát bằng văn bản của viện kiểm sát cùng cấp, TAND cấp tỉnh, tòa án quân sự cấp quân khu tổng hợp và gửi danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt về TAND tối cao (qua Vụ Giám đốc, kiểm tra về hình sự) trước ngày 10.5.2026 để TAND tối cao tổng hợp, xin ý kiến các cơ quan có liên quan, báo cáo Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
Hôm 7.4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký quyết định về đặc xá năm 2026. Để triển khai quyết định này, Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá, đã ký ban hành hướng dẫn chi tiết.
Theo hướng dẫn, từ ngày 22.4 - 2.5, các tổ thẩm định liên ngành đến trực tiếp các đơn vị, địa phương để kiểm tra, thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị xét đặc xá.
Từ ngày 26.4 - 10.5, Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá tổng hợp hồ sơ, danh sách chuyển đến các thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá nghiên cứu, thẩm tra.
Từ ngày 10 - 20.5, Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá, TAND tối cao tổng hợp ý kiến của các thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá và chuẩn bị hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện đề nghị đặc xá, danh sách người không đủ điều kiện đề nghị đặc xá để trình Hội đồng tư vấn họp xét duyệt.
Từ ngày 24 - 26.5, Hội đồng tư vấn đặc xá họp xét duyệt danh sách đặc xá.
Từ ngày 27 - 28.5, Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá tổng hợp, hoàn chỉnh danh sách đặc xá trình Chủ tịch nước quyết định.
Tổ chức họp báo công bố quyết định đặc xá của Chủ tịch nước vào ngày 30.5. Ngày 1.6, sẽ tổ chức tha người được đặc xá theo quyết định của Chủ tịch nước.