Người tiền nhiệm của ông Phát là ông Nguyễn Văn Hiếu xin nghỉ công tác theo nguyện vọng cá nhân.
Tân Giám đốc Sở sinh năm 1977, là phó giáo sư, tiến sĩ kinh tế. Từ năm 2003 đến tháng 10/2019, ông giảng dạy và trải qua nhiều vị trí ở trường Đại học Giao thông Vận tải TP HCM, Kinh tế – Luật và Đại học Quốc gia TP HCM. Cuối năm 2019, ông được bổ nhiệm Giám đốc Học viện Cán bộ TP HCM.
Hồi tháng 7 năm ngoái, ông Phát được chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy phường Sài Gòn sau sáp nhập.
TP HCM hiện là siêu đô thị giáo dục của cả nước với khoảng 1,6 triệu học sinh và hơn 3.500 trường học.
Ngoài ông Phát, Ban giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo có 9 phó giám đốc là bà Nguyễn Thị Nhật Hằng, Trần Thị Ngọc Châu, Lê Thụy Mỵ Châu, Huỳnh Lê Như Trang, Trương Hải Thanh và ông Nguyễn Bảo Quốc, Nguyễn Văn Phong, Dương Trí Dũng, Nguyễn Kế Toại.
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Từng mở rộng xét tuyển lớp 10 ở 9 quận, huyện, TP.HCM vì sao quay lại thi tuyển?

Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Huỳnh Công Minh - cựu giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, người từng trực tiếp điều hành ngành giáo dục thành phố trong giai đoạn này - cho biết:
- Tôi cho rằng bản chất của kỳ thi lớp 10 là để xếp lớp chứ không phải đánh giá năng lực học sinh. Các em đã học hết lớp 9 và được thầy cô giáo đánh giá hoàn thành chương trình THCS là coi như đã đạt chuẩn của chương trình rồi. Thế thì học sinh đã tốt nghiệp lớp 9 đương nhiên có quyền vào học lớp 10.
Với suy nghĩ đó nên năm học 2007-2008, Sở GD-ĐT TP.HCM đã xin ý kiến UBND TP và được chấp thuận thực hiện thí điểm xét tuyển lớp 10 tại ba huyện Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi.
Những quận, huyện còn lại vẫn tổ chức thi tuyển. Sau đó việc xét tuyển mở rộng dần dần, đến năm học 2011-2012 TP.HCM có chín quận, huyện thực hiện xét tuyển vào lớp 10 là huyện Bình Chánh, Củ Chi, Cần Giờ, Hóc Môn, Thủ Đức, Bình Tân, quận 9, 2, 6.
* Thưa ông, vậy sau này vì sao TP.HCM lại bỏ hình thức xét tuyển vào lớp 10?
- Tôi đã nghỉ hưu từ năm 2011 nên sẽ không bình luận hoặc lý giải vấn đề này.
Tuy nhiên tôi muốn chia sẻ một góc nhìn khác. Hiện nay nhiều người lo ngại rằng nếu không tổ chức thi lớp 10 thì học sinh sẽ lơ là việc học, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Theo tôi, điều quan trọng hơn là chúng ta cần thay đổi cách nhìn về việc học.
Học không phải để thi mà học để biết, học để làm, học để chung sống và hoàn thiện bản thân. Đây là bốn trụ cột giáo dục cốt lõi do UNESCO đề xướng, hướng đến việc giúp người học phát triển toàn diện: có kiến thức nền tảng, biết vận dụng vào thực tiễn, thấu hiểu xã hội và không ngừng hoàn thiện nhân cách.
Lâu nay chúng ta vẫn còn chịu ảnh hưởng của quan niệm "học để thi", thậm chí có tâm lý "không thi thì không học". Điều đó dẫn đến tình trạng dạy và học mang tính đối phó, học chỉ để vượt qua kỳ thi, thi xong rồi có khi trong đầu không đọng lại được điều gì.
Vấn đề đáng suy nghĩ là có những học sinh chỉ tập trung vào điểm số, xem việc học là để làm hài lòng cha mẹ. Vì vậy, khi gặp khó khăn là nhiều em sẽ chùn bước. Từ đó tạo ra thực trạng học sinh phải trải qua quá trình học tập vất vả, áp lực thi cử lớn, thi xong đạt điểm rất cao nhưng khi bước vào cuộc sống có em lại thiếu tự tin, lúng túng trong ứng xử, khó thích nghi với những hoàn cảnh mới, thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề…
Còn nếu đã xác định học để biết thì người học sẽ có động lực mạnh mẽ hơn. Tức là cái gì chưa biết thì phải học để biết. Yếu tố này sẽ làm cho học sinh tò mò, khát khao khám phá và chủ động tìm kiếm tri thức.
* Như vậy quan điểm của ông là bỏ thi lớp 10?
- Đúng như vậy. Quan điểm của tôi là nên giảm những kỳ thi không cần thiết như kỳ thi vào lớp 10 công lập. Nếu muốn tiến tới bỏ kỳ thi, các địa phương cần có một "hệ sinh thái" giáo dục phù hợp đi kèm. Điều đó không chỉ là điều kiện về cơ sở vật chất mà quan trọng hơn là sự thay đổi trong nhận thức của giáo viên, phụ huynh và học sinh về mục tiêu thực sự của việc học.
Bên cạnh đó nhà quản lý giáo dục và đội ngũ giáo viên cũng cần thay đổi quan niệm về dạy học. Việc đánh giá học sinh không nên chỉ phụ thuộc vào kết quả của một kỳ thi mà cần nhìn vào cả quá trình học tập, rèn luyện và phát triển của các em: từ thái độ học tập, khả năng tương tác với thầy cô, bạn bè đến năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn…
Và trước hết, vai trò dẫn dắt cần đến từ Bộ GD-ĐT thông qua việc đổi mới đào tạo ngành sư phạm, cải tiến phương pháp kiểm tra - đánh giá học sinh, thay đổi cách ra đề thi, tôn vinh và nhân rộng những mô hình, địa phương thực hiện hiệu quả…
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

GS. TS Trần Xuân Nam, Phó giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự (MTA), cho biết thông tin trên tại hội thảo "Đào tạo tài năng - Giải pháp đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại", ngày 29/4.
Cụ thể, Học viện đặt mục tiêu đào tạo được 100-150 kỹ sư quân sự tài năng, 60-75 thạc sĩ tài năng và 30 tiến sĩ chất lượng cao, từ nay đến 2030. Đây là nhóm có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức quân sự chung, kiến thức chuyên môn sâu, năng lực vượt trội, có thể dẫn dắt đổi mới sáng tạo, tạo ra tri thức và công nghệ mới.
Chương trình ưu tiên một số lĩnh vực then chốt, chiến lược mà quân đội và xã hội có nhu cầu cao, cấp thiết như Khoa học máy tính, Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông, Kỹ thuật Ra đa dẫn đường, Kỹ thuật Cơ khí động lực, Kỹ thuật Cơ khí, Kỹ thuật Cơ điện tử, Kỹ thuật Điều khiển và Tự động hóa.
Học viện sẽ triển khai nhiều giải pháp, gồm khâu tuyển chọn. Như với hệ kỹ sư tài năng, trường dự kiến ba nhóm. Một là học viên của học viện đoạt ba các kỳ thi Olympic quốc gia, quốc tế trở lên các môn Toán, Lý, Hóa, Tin học.
Hai là những học viên có đầu vào thuộc top 20% cao nhất toàn quốc, đạt loạt giỏi hai năm đầu, có tố chất nổi bật trong học tập, nghiên cứu, ngoại ngữ B1 trở lên.
Cuối cùng, MTA dự kiến tuyển chọn sinh viên xuất sắc từ các trường ngoài quân đội, có lý lịch rõ ràng, phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có đủ sức khỏe, năng lực đặc biệt và có điểm đỗ đại học tương đương hệ kỹ sư quân sự tài năng.
Ông Nam cho biết dự kiến học viên chương trình này được cấp bằng kỹ sư quân sự tài năng bậc 7/8 (tương đương thạc sĩ, các trường khác thường là 6/8). Nếu tốt nghiệp giỏi, học viên được phong quân hàm Thượng úy (thông thường là thiếu úy, trung úy). Nhóm này cũng có cơ hội học chuyển tiếp chương trình tiến sĩ chất lượng cao.
Các học viên tốt nghiệp chương trình thạc sĩ tài năng và tiến sĩ chất lượng cao sẽ được xem xét thăng quân hàm trước niên hạn.
Với cả ba chương trình, học viên còn được hưởng nhiều quyền lợi như thực tập và làm đồ án tốt nghiệp tại doanh nghiệp công nghệ, nhà máy quốc phòng, thực tập ngắn hạn ở nước ngoài, nhưng phải đáp ứng các chuẩn đầu ra cao hơn so với thông thường.
Học viện Kỹ thuật quân sự là trường trọng điểm quốc gia, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu phát triển, sản xuất chế thử, chuyển giao công nghệ tiên tiến và hội nhập quốc tế, góp phần phát triển ngành khoa học công nghệ quân sự Việt Nam.
Học viện hiện có gần 2.000 cán bộ, giảng viên, đào tạo hơn 120 chương trình trình độ từ đại học đến tiến sĩ.
Tin Gốc: Vnexpress

Năm nay, Hà Nội có 119 trường THPT công lập không chuyên, chỉ tiêu lớp 10 là hơn 78.300, tương đương 55% học sinh hoàn thành chương trình THCS.
Phụ huynh và các em đăng ký nguyện vọng từ ngày 10 đến 17/4. Điểm mới là học sinh có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Dưới đây là điểm chuẩn lớp 10 ở Hà Nội trong ba năm 2023-2025, tính theo trung bình môn để phụ huynh, học sinh tham khảo:
STT
Trường
2023
2024
2025
1
THPT Phan Đình Phùng
8,55
8,35
8,42
2
THPT Phạm Hồng Thái
8,15
7,5
7,58
3
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình
7,95
7,7
6,75
4
THPT Tây Hồ
7,75
7,55
7,25
5
THPT Trần Phú - Hoàn Kiếm
8,35
7,9
7,72
6
THPT Việt Đức
8,6
8,25
8,42
7
THPT Thăng Long
8,2
8,45
8,08
8
THPT Trần Nhân Tông
7,95
7,95
7,5
9
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng
8
4,75
6,92
10
THPT Đống Đa
7,9
7,3
7,33
11
THPT Kim Liên
8,65
8,35
8,5
12
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa
8,2
7,95
7,92
13
THPT Quang Trung - Đống Đa
8
7,55
7,58
14
THPT Nhân Chính
8,2
8,25
8
15
THPT Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân
7,6
7,65
6,83
16
THPT Khương Đình
7,65
7,35
6,75
17
THPT Khương Hạ
7,5
7,2
6,75
18
THPT Cầu Giấy
8,3
8
7,92
19
THPT Yên Hòa
8,45
8,5
8,33
20
THPT Hoàng Văn Thụ
7,45
7,65
6,83
21
THPT Trương Định
7,7
7,45
7,08
22
THPT Việt Nam - Ba Lan
7,55
7,8
7,08
23
THPT Ngô Thì Nhậm
7,4
6,85
7,08
24
THPT Ngọc Hồi
6,4
7,55
6,67
25
THPT Đông Mỹ
7,1
6,6
5,83
26
THPT Nguyễn Quốc Trinh
7
6,25
6,17
27
THPT Nguyễn Gia Thiều
8,35
8,35
8,33
28
THPT Lý Thường Kiệt
7,75
7,3
7
29
THPT Thạch Bàn
7,3
7,3
5,75
30
THPT Phúc Lợi
7,55
7,55
4,83
31
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
7,65
7,15
7,17
32
THPT Dương Xá
7
7,25
6,25
33
THPT Nguyễn Văn Cừ
7,15
7
6,25
34
THPT Yên Viên
7,35
7,2
6,42
35
THPT Đa Phúc
6,45
7,25
6,25
36
THPT Kim Anh
6,2
6,4
5,67
37
THPT Minh Phú
5,8
5,95
5,17
38
THPT Sóc Sơn
6,85
6,95
6,58
39
THPT Trung Giã
6,5
5,95
5,75
40
THPT Xuân Giang
6,1
6,25
5,5
41
THPT Bắc Thăng Long
7,05
7,05
6,92
42
THPT Cổ Loa
7,35
7
6,75
43
THPT Đông Anh
6,85
6,8
6,17
44
THPT Liên Hà
7,5
7,1
6,75
45
THPT Vân Nội
6,8
6,8
6,33
46
THPT Mê Linh
7
7,1
6,25
47
THPT Quang Minh
6,1
5,9
5,58
48
THPT Tiền Phong
6,3
6,2
5,5
49
THPT Tiến Thịnh
5,4
5,2
4,92
50
THPT Tự Lập
5,2
5,65
4,5
51
THPT Yên Lãng
6,55
6,2
6,25
52
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
8,2
8,25
8,25
53
THPT Xuân Đỉnh
7,95
8,05
7,83
54
THPT Thượng Cát
7,25
7,45
6,33
55
THPT Đại Mỗ
6,95
7,05
6,25
56
THPT Trung Văn
7,55
7,35
6,67
57
THPT Xuân Phương
7,45
7,55
6,67
58
THPT Mỹ Đình
8
7,9
7,67
59
THPT Hoài Đức A
6,9
7,25
6,33
60
THPT Hoài Đức B
6,65
6,95
6,42
61
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức
6,3
6,65
5,67
62
THPT Hoài Đức C
6,05
6,45
5,92
63
THPT Đan Phượng
6,85
6,8
6,83
64
THPT Hồng Thái
6,05
5,9
5,58
65
THPT Tân Lập
6,6
6,8
5,58
66
THPT Thọ Xuân
5,1
6,15
3,33
67
THPT Ngọc Tảo
5,8
5,25
5,17
68
THPT Phúc Thọ
5,7
5,8
5,33
69
THPT Vân Cốc
4,95
5,3
4,83
70
THPT Tùng Thiện
6,6
6,75
6,83
71
THPT Xuân Khanh
4,45
4,9
4,33
72
THPT Ba Vì
4,9
4,5
4,67
73
THPT Bất Bạt
3,4
5
4
74
Trường Phổ thông Dân tộc nội trú
5,85
6,6
5,58
75
THPT Ngô Quyền - Ba Vì
5,55
5,95
5,42
76
THPT Quảng Oai
6,15
6,05
5,83
77
THPT Minh Quang
3,4
3,6
3,33
78
THPT Bắc Lương Sơn
3,4
4
3,33
79
THPT Hai Bà Trưng - Thạch Thất
5
5,2
4,42
80
THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất
5,75
5,55
4,58
81
THPT Thạch Thất
6,6
6,25
5,75
82
THPT Minh Hà
5,15
4,95
4,67
83
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai
5,75
5,6
5,33
84
THPT Minh Khai
5,5
5,3
5,08
85
THPT Quốc Oai
7,25
7,15
7
86
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai
5,55
5,45
5
87
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông
8,45
8,5
8,5
88
THPT Quang Trung - Hà Đông
8
7,85
7,75
89
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông
7
7,4
6,92
90
THPT Chúc Động
5,95
6,05
5,42
91
THPT Chương Mỹ A
7,4
7,2
7
92
THPT Chương Mỹ B
5,2
5,45
4,67
93
THPT Xuân Mai
6
6
5,33
94
THPT Nguyễn Văn Trỗi
4,5
5,25
4,5
95
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai
6,05
6,15
5,33
96
THPT Thanh Oai A
5,75
6,25
5,17
97
THPT Thanh Oai B
6,4
6,8
5,5
98
THPT Thường Tín
6,8
6,4
6,67
99
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín
6,4
5,95
5
100
THPT Lý Tử Tấn
5,3
5,6
4,67
101
THPT Tô Hiệu - Thường Tín
5,45
5,35
5
102
THPT Vân Tảo
6,1
5,7
5,25
103
THPT Đồng Quan
5,75
5,6
4,67
104
THPT Phú Xuyên A
5,55
5,65
5,08
105
THPT Phú Xuyên B
5,15
4,6
4,67
106
THPT Tân Dân
4,9
5,05
4,5
107
THPT Hợp Thanh
4,8
4,6
4,58
108
THPT Mỹ Đức A
6,35
6,35
5,17
109
THPT Mỹ Đức B
5,4
5,5
5,5
110
THPT Mỹ Đức C
4,4
3,8
4,17
111
THPT Đại Cường
4,4
4,2
3,33
112
THPT Lưu Hoàng
3,4
4
3,33
113
THPT Trần Đăng Ninh
5,45
5,5
4,92
114
THPT Ứng Hòa A
5,8
5,85
4
115
THPT Ứng Hòa B
4,6
4,6
3,33
116
THPT Đỗ Mười
-
-
4,9
117
THPT Phúc Thịnh
-
-
5,5
Xem biến động tỷ lệ chọi lớp 10 trong ba năm 2023-2025
Nhìn chung, các trường top đầu giữ vững vị thế, với điểm chuẩn không dưới 8 mỗi môn, như Phan Đình Phùng, Việt Đức, Thăng Long, Kim Liên, Yên Hòa, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Thị Minh Khai...
Nhóm lấy điểm chuẩn 3-4 mỗi môn cũng không có nhiều xáo trộn, hầu hết là trường ở ngoại thành, như Đại Cường, Lưu Hoàng, Ứng Hòa A, Ứng Hòa B...
Trong khi đó, nhóm trường top giữa có nhiều biến động qua các năm. Chẳng hạn, trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng lấy tới 8 điểm mỗi môn vào năm 2023, nhưng giảm gần một nửa, còn 4,75 trong năm 2024, sau đó tăng lên gần 7 điểm vào năm 2025.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 công lập năm 2026
Kỳ thi vào lớp 10 ở Hà Nội năm nay diễn ra trong hai ngày 30-31/5. Những học sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào 1/6. Điểm xét tuyển là tổng ba môn Toán, Văn, Tiếng Anh không nhân hệ số.
Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Thanh Hằng

