Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong những năm qua tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng dần theo các năm. Đến nay, tuổi thọ trung bình đã đạt khoảng 74,5 tuổi, tăng gần 1 tuổi so với năm 2022. Trong đó, đàn ông Việt tăng 1 tuổi, còn nữ tăng 0,8 tuổi.
Tuy nhiên, Bộ Y tế nhận định mặc dù tuổi thọ người Việt tăng nhưng số năm sống có bệnh tật lại cao hơn. Cơ quan này đánh giá số năm sống khỏe mạnh của người Việt còn khiêm tốn, chỉ 65 tuổi. Mỗi người Việt Nam trung bình có tới 10 năm phải sống với bệnh tật.
Nguyên nhân ngoài dinh dưỡng, lối sống chưa hợp lý và môi trường ô nhiễm, còn có việc gia tăng bệnh không lây nhiễm. Trong các nguyên nhân gây ra các bệnh không lây nhiễm, 2 nguyên nhân hàng đầu được chỉ ra là hút thuốc lá và thừa cân, béo phì.
Bên cạnh đó, hơn một nửa người trưởng thành ăn thiếu rau và trái cây. Trong khi đó, người dân ăn muối nhiều gần gấp 2 lần so với khuyến nghị; khoảng 1/5 dân số thiếu hoạt động thể lực và tỷ lệ thừa cân béo phì chiếm gần 20% dân số trưởng thành.
Ngoài nguyên nhân chủ quan, biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan như nắng nóng, hạn hán, bão lụt… ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều cộng đồng dân cư, góp phần làm gia tăng các trường hợp nhập viện.
Theo Thượng Tá, TS.BS.CKII Vũ Sơn Giang, Chủ Nhiệm Chính trị, Bệnh viện Quân Y 175, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển đặc biệt. Nếu như ba thập niên trước, ưu tiên của chúng ta là giảm đói nghèo, nâng cao tuổi thọ và mở rộng cơ hội tiếp cận y tế, thì hôm nay câu hỏi đã khác:
Làm sao để giúp người dân sống khỏe hơn, hạnh phúc hơn trong những năm tháng cao niên ? Có thể thấy rằng, tuổi thọ chỉ là điểm khởi đầu. Theo dự báo của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), đến năm 2036, nước ta chính thức trở thành quốc gia có dân số già.
“Tôi cho rằng đây chính là bài toán phát triển quan trọng nhất của Việt Nam trong giai đoạn tới. Tín hiệu tích cực là nhận thức của người Việt đang thay đổi.
Khi nhắc đến chất lượng sống thọ, các quốc gia Bắc Âu, Nhật Bản, Singapore là những mô hình tham khảo hữu ích. Ở những nước này, tỷ lệ lớn người cao tuổi vẫn duy trì được khả năng vận động, tự chăm sóc bản thân, tham gia hoạt động xã hội và giữ được niềm vui sống.
Phân tích sâu hơn, tôi nhận thấy họ không chỉ có hệ thống y tế tiên tiến hay mức sống cao, mà nền tảng căn bản là dinh dưỡng và nhận thức sớm về chăm sóc sức khỏe chủ động. Họ có thói quen dinh dưỡng hợp lý, vận động thường xuyên, ngủ đủ, khám sức khỏe định kỳ, duy trì các mối quan hệ xã hội tích cực.
Đó là lý do vì sao nhiều quốc gia phát triển không còn nói nhiều về “sống lâu” mà chuyển sang “sống khỏe dài lâu”. Đây cũng là định hướng mà Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Liên Hợp Quốc đang thúc đẩy thông qua Thập kỷ Sống khỏe mạnh 2021-2030″, TS.BS Giang nhấn mạnh.
TS.BS Giang nhận định có một tín hiệu tích cực đang xuất hiện trong xã hội Việt Nam. Trước đây, khi chuẩn bị cho tuổi già, nhiều người thường nghĩ đến tiền tiết kiệm, nhà cửa hoặc sự hỗ trợ của con cháu. Ngày nay, ngày càng nhiều người bắt đầu chuẩn bị thêm một tài sản khác: Sức khỏe.
“Chúng ta chứng kiến số lượng người tham gia chạy bộ tăng mạnh. Các câu lạc bộ thể thao, yoga, đạp xe phát triển ở nhiều địa phương. Khám sức khỏe định kỳ dần trở thành thói quen của một bộ phận người dân. Nhu cầu tìm hiểu về dinh dưỡng khoa học, thực phẩm lành mạnh và chăm sóc sức khỏe chủ động cũng ngày càng tăng. Đó là những chuyển dịch tích cực cần được lan tỏa mạnh mẽ hơn trong cộng đồng.
Già hóa dân số là bài toán thực trạng quốc gia, cần sự chung tay của toàn xã hội. Nhà nước xây dựng chính sách, ngành y tế nâng cao năng lực chăm sóc sức khỏe. Song song đó, Việt Nam cũng cần đẩy mạnh các mô hình hợp tác công – tư nhằm tận dụng hiệu quả nguồn lực, chuyên môn và thế mạnh của các bên liên quan”, TS.BS Giang nhấn mạnh.
Thời gian qua Bộ Y tế đã phối hợp tổ chức hàng loạt các hoạt động như giải chạy hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân; khám, tư vấn sức khỏe miễn phí; tư vấn dinh dưỡng miễn phí;….
Đặc biệt, Bộ Y tế đã xây dựng kế hoạch triển khai tầm soát sức khỏe, hướng tới mỗi người dân đều được khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1 lần/năm. Đến nay, đã nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước thực hiện kế hoạch này. Bên cạnh đó, công tác truyền thông y tế cũng được đẩy mạnh, từ việc chăm sóc sức khỏe hằng ngày, dinh dưỡng, tập luyện cho đến phát hiện, theo dõi các bệnh lý mạn tính. Tất cả hướng tới Vì một Việt Nam khỏe mạnh.
Và để có một cơ thể khỏe mạnh, người cao tuổi sống thọ, sống khỏe, những hành động cần được bắt đầu ngay từ ngày hôm nay. Qua từng bữa ăn, từng bước chân tập luyện.
TS.BS Giang cho hay Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia và Viện Sức Khỏe Nutrilite đã thực hiện những nghiên cứu chuyên sâu, đánh giá thực trạng dinh dưỡng, khẩu phần và tiêu thụ thực phẩm của người Việt, từ đó thúc đẩy quá trình xây dựng các giải pháp khoa học, thiết thực và phù hợp với nhu cầu của cộng đồng.
“Và hơn hết mỗi người dân chủ động nâng cao nhận thức về dinh dưỡng và lối sống khoa học, duy trình thói quen lành mạnh mỗi ngày. Có như vậy, chúng ta đã sẵn sàng nguồn lực, nền tảng đối mặt với áp lực già hóa dân số đang ngày càng đến gần”, TS.BS Giang nhấn mạnh.
Sáng 11-4, Sở Y tế TP.HCM cho biết tính đến sáng cùng ngày, các cơ sở y tế đã ghi nhận 184 ca bệnh nghi ngộ độc thực phẩm tại Trường tiểu học Bình Quới Tây.
Trong tổng số 184 ca bệnh nghi ngộ độc thực phẩm được ghi nhận từ 5 cơ sở y tế, có 141 ca đang theo dõi điều trị ngoại trú và 43 ca đang được điều trị nội trú.
Bệnh viện Nhân dân Gia Định ghi nhận 50 ca (có 28 ca còn điều trị nội trú trong tình trạng ổn định, 22 ca theo dõi ngoại trú).
Bệnh viện Nhi đồng 2 ghi nhận 36 ca (trong đó 13 ca còn điều trị nội trú, tình trạng các ca ổn định, 23 ca điều trị ngoại trú).
Bệnh viện Đa khoa Bình Thạnh ghi nhận 84 ca (trong đó 2 ca còn điều trị nội trú, tình trạng các ca ổn định, 82 ca điều trị ngoại trú).
Bệnh viện Đa khoa Tân Định ghi nhận 1 ca (điều trị nội trú, tình trạng ổn định và đã xuất viện, tiếp tục theo dõi ngoại trú) và Trạm y tế phường Bình Quới ghi nhận 13 ca, tất cả đều được kê đơn thuốc điều trị ngoại trú.
Kết quả phân tích cho thấy 7/10 mẫu phân (chiếm 70%) dương tính với vi khuẩn Salmonella.
Theo các chuyên gia y tế, đây là tác nhân gây nhiễm khuẩn đường tiêu hóa phổ biến liên quan đến thực phẩm.
Sở Y tế đã ra văn bản chỉ đạo các bệnh viện đảm bảo nguồn lực thuốc và các phương tiện phục vụ cho công tác tiếp nhận, cấp cứu và điều trị; phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan để thực hiện xét nghiệm phục vụ công tác điều trị và xác định nguyên nhân, nếu có ca bệnh có dấu hiệu bất thường hoặc diễn tiến nặng phải tổ chức hội chẩn và chuyển tuyến điều trị phù hợp và kịp thời khi cần.
Cơ quan chức năng vẫn đang tiếp tục theo dõi sát các ca bệnh còn lại và phối hợp điều tra nguồn gốc thực phẩm để ngăn ngừa sự cố tương tự.
TS.BS.CK2. Trà Anh Duy, Trung tâm Sức khỏe Nam giới Men's Health, cho biết khi quyết định "thả", nhiều cặp đôi dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, người thì canh ngày quá kỹ, người lại lo quan hệ nhiều sẽ làm "yếu" tinh trùng. Thực tế, điều quan trọng không phải dồn vào một thời điểm, mà là duy trì tần suất phù hợp, đều đặn và đúng nhịp sinh học.
Theo bác sĩ Duy, cơ hội có thai phụ thuộc lớn vào việc quan hệ có rơi vào "cửa sổ thụ thai" hay không. Khoảng thời gian này kéo dài khoảng 6 ngày, kết thúc vào ngày rụng trứng.
Tinh trùng có thể sống trong cơ thể người nữ 3-5 ngày, trong khi trứng chỉ tồn tại 12-24 giờ sau khi rụng. Vì vậy, quan hệ trước rụng trứng vài ngày vẫn có thể dẫn đến thụ thai. Chiến lược hiệu quả là đảm bảo luôn có tinh trùng "chờ sẵn" trong những ngày này, thay vì chỉ tập trung vào một thời điểm.
Về tần suất, các khuyến cáo y khoa cho thấy tối ưu là quan hệ mỗi ngày hoặc cách ngày trong cửa sổ thụ thai. Thực tế, việc quan hệ đều 2-3 lần mỗi tuần vẫn cho hiệu quả gần tương đương với nhiều cặp đôi. Điểm mấu chốt là chọn nhịp độ có thể duy trì lâu dài, không tạo áp lực.
Trong thực hành, có hai cách tiếp cận đơn giản, dễ áp dụng mà vẫn bám sát khuyến cáo chuyên môn. Cách thứ nhất là quan hệ đều 2-3 lần mỗi tuần, phù hợp với người bận rộn hoặc chu kỳ không đều. Cách hai là gần ngày rụng trứng, tăng lên mỗi ngày hoặc cách ngày trong 5-6 ngày. Cả hai cách đều giúp "phủ" được giai đoạn dễ thụ thai mà không cần canh quá chi li.
Một số người có tâm lý kiêng để "tinh trùng dày" rồi mới quan hệ. Đây là hiểu lầm rất phổ biến. Kiêng vài ngày có thể làm tăng lượng tinh dịch, nhưng không đồng nghĩa tăng khả năng có thai. Ngược lại, việc "kiêng dài rồi dồn một lần" dễ khiến lệch thời điểm rụng trứng, tăng áp lực tâm lý, giảm cơ hội nếu lỡ nhịp.
Khi quan hệ trở thành "nhiệm vụ", áp lực dễ khiến nam giới lo lắng, ảnh hưởng khả năng cương; nữ giới căng thẳng, khó chịu khi quan hệ. Hệ quả là tần suất giảm hoặc chất lượng quan hệ không tốt. Do đó, duy trì sự thoải mái và tự nhiên mới là yếu tố giúp duy trì đều đặn.
Trên thực tế, nhiều cặp đôi có thói quen kiêng dài ngày, chỉ quan hệ khi que thử rụng trứng báo đậm. Điều này vô tình tạo áp lực lớn và dễ "trượt" cơ hội nếu lệch thời điểm. Bác sĩ thường khuyên chuyển sang nhịp ổn định hơn, duy trì 2-3 lần mỗi tuần, tăng tần suất nhẹ vào giai đoạn nghi ngờ rụng trứng, đồng thời điều chỉnh lối sống.
Nếu hai vợ chồng quan hệ đều, không tránh thai mà sau 12 tháng chưa có thai, nên đi khám. Người vợ trên 35 tuổi hoặc chu kỳ không đều, thường nên đi sớm hơn. Ngoài ra, nếu nam giới có rối loạn cương, xuất tinh kéo dài, đau nặng bìu, tiền sử quai bị biến chứng tinh hoàn, tinh hoàn ẩn... thì việc "tối ưu tần suất" chỉ là một phần; cần kiểm tra nguyên nhân để không mất thời gian.
Tổn thương thận cấp hay suy thận cấp là một tình trạng lâm sàng rất phổ biến, đặc biệt ở những người đang mắc bệnh lý nặng. Bác sĩ Nguyễn Văn Thanh, phó trưởng Khoa Nội Thận - Tiết niệu Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho biết một số loại thuốc điều trị có thể là nguyên nhân trực tiếp gây ra hoặc làm diễn tiến tổn thương thận cấp trở nên trầm trọng hơn.
Đối với những người bệnh đang có tổn thương thận hoặc đang trong quá trình điều trị, việc lựa chọn và kết hợp thuốc cần được cân nhắc kỹ lưỡng để hạn chế phối hợp các thuốc có chung nguy cơ gây độc. Việc nhận diện sớm và kịp thời ngừng sử dụng các tác nhân gây độc này có thể cải thiện đáng kể kết quả điều trị.
Theo bác sĩ, nguy cơ tổn thương thận cấp do thuốc sẽ gia tăng ở các nhóm, như:
Người đang trong tình trạng mất nước (bao gồm người cao tuổi uống không đủ nước, hoặc người đang bị nôn, sốt, tiêu chảy), nhiễm trùng huyết hoặc hạ huyết áp. Người bệnh đã có tiền sử mắc bệnh thận từ trước.
Người đang sử dụng phác đồ phối hợp nhiều loại thuốc có khả năng gây độc cho thận như: thuốc giảm đau chống viêm không steroid, kháng sinh, thuốc kháng nấm, lợi tiểu, thuốc hạ axit uric máu (allopurinol), thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể.
Một số loại thuốc gây tổn thương thận cấp phổ biển:
1: Kháng sinh nhóm minoglycoside (gentamicin, amikacin, tobramycin, ...): Thuốc gây độc trực tiếp lên ống lượn gần dẫn đến hoại tử ống thận cấp tính. Nguy cơ tăng lên khi điều trị kéo dài trên 5–7 ngày, nồng độ thuốc trong huyết thanh cao. Thuốc có thể gây suy thận cấp mà không có thiểu niệu (đái ít) và thường tăng creatinin huyết tương sau vài ngày dùng thuốc.
Phòng ngừa: chỉ định sử dụng ngắn ngày, theo dõi nồng độ thuốc huyết thanh, ùng 1 lần/ngày hơn là chia liều. Trường hợp có suy thận mà phải dùng thuốc, cần điều chỉnh liều theo mức lọc cầu thận.
2: Vancomycin: Gây tổn thương trực tiếp ống lượn gần, tăng gốc oxy hóa, viêm kẽ thận, đôi khi tổn thương cầu thận. Nguy cơ cao hơn khi dùng liều cao, kéo dài, hoặc kết hợp với aminoglycosid. Để phòng ngừa cần duy trì nồng độ vancomycin trong mục tiêu điều trị.
3: Thuốc chống viêm không steroid gây giảm tổng hợp prostaglandin dẫn đến co mạch tiểu động mạch đến ở cầu thận, viêm ống‑kẽ thận do phản ứng quá mẫn, thậm chí gây độc tế bào, rối loạn chức năng ống thận. Tình trạng thường gặp ở người bệnh có mất nước, cao tuổi, có bệnh thận nền, suy tim, xơ gan hoặc kết hợp với các thuốc giãn mạch đi của cầu thận và/hoặc thuốc lợi tiểu.
4: Thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể angiotensin gây giãn tiểu động mạch đi, làm giảm áp lực lọc cầu thận. Nguy cơ cao hơn ở người bị hẹp động mạch thận hai bên, hạ huyết áp nghiêm trọng, thiếu dịch hoặc kết hợp lợi tiểu và/hoặc thuốc gây co mạch đến của cầu thận. Đề phòng ngừa, cần dùng liều thấp và tăng dần theo đáp ứng và dung nạp thuốc.
5: Allopurinol chủ yếu dùng để giảm axit uric trong máu và điều trị bệnh gút. Thuốc có thể gây tổn thương thận cấp do tổn thương ống thận, phản ứng quá mẫn với thuốc. Nguy cơ tăng lên nếu người bệnh đã có suy thận từ trước và cần điều chỉnh liều thuốc theo chức năng thận.
Đề phòng ngừa, cần đảm bảo đủ dịch, uống liều thấp tăng dần theo đáp ứng và dung nạp, giảm liều theo mức lọc cầu thận. Xét nghiệm sàng lọc người mang gen HLA‑B58:01 trước khi dùng allopurinol kéo dài có thể giúp giảm nguy cơ phản ứng quá mẫn nặng.
6: Thuốc cản quang tĩnh mạch gây ra bệnh thận do thuốc cản quang. Cơ chế thuốc gây co mạch thận, độc tính trực tiếp lên ống thận gây hoại tử ống thận cấp. Nguy cơ cao ở người mắc đái tháo đường, suy thận mạn, mất nước, dùng đồng thời thuốc khác (chống viêm không steroid, thuốc lợi tiểu, ức chế men chuyển, chẹn thụ thể).
Bác sĩ thường bù dịch đầy đủ trước và sau chụp phim có thuốc, tránh sử dụng thuốc cản quang không cần thiết hoặc hạn chế liều thuốc cản quang tối thiểu. Tránh dùng chống viêm không steroid trong 24–48 giờ trước/sau tiêm thuốc, ngưng hoặc điều chỉnh liều thuốc lợi tiểu,
7: Thuốc kháng nấm Amphotericin B gây co mạch thận và độc tính lên ống thận. Tuy nhiên thuốc dạng liposome (liposomal amphotericin B) gây độc thận ít hơn dạng deoxycholate. Đề phòng ngừa: Sử dụng dạng liposome nếu có điều kiện, bù dịch đủ trước truyền, điều chỉnh liều nếu có dấu hiệu suy thận.
8: Thuốc ức chế calcineurin (Cyclosporine, Tacrolimus) gây co mạch thận, tổn thương ống thận. Thuốc có thể gây suy thận mạn tính. Cần theo dõi nồng độ thuốc trong máu, giữ nồng độ trong mục tiêu, tránh liều cao kéo dài. Kết hợp đảm bảo đủ dịch, tránh kết hợp các thuốc khác có nguy cơ gây độc.
9: Thuốc lợi tiểu quai (nguy cơ tổn thương thận gián tiếp) nếu sử dụng quá liều gây lợi tiểu quá mức, giảm thể tích tuần hoàn.
10: Propofol (hiếm gặp nhưng quan trọng): Propofol là một thuốc gây mê tĩnh mạch tác dụng nhanh có thể gây suy thận cấp thông qua hội chứng truyền Propofol, liên quan đến tiêu cơ vân, nhiễm toan chuyển hóa, tổn thương cơ tim do truyền liều cao và kéo dài.
Một số biện pháp phòng ngừa chung:
- Đánh giá chức năng thận trước khi dùng các thuốc đặc biệt là các thuốc có nguy cơ gây tổn thương thận.
- Đánh giá các thuốc điều trị hàng ngày, tránh kết hợp nhiều thuốc cùng có nguy cơ gây độc cho thận, ưu tiên thuốc ít độc hơn nếu có lựa chọn.
- Đảm bảo đủ dịch (uống, truyền tĩnh mạch nếu cần), duy trì áp lực tưới máu đến thận đầy đủ.
- Theo dõi chức năng thận, gồm nước tiểu, cân nặng (hàng ngày), creatinine, mức lọc cầu thận và điện giải đồ huyết thanh (có thể 2-3 ngày/lần hoặc khoảng cách tùy từng trường hợp bệnh).
"Luôn nghĩ đến tổn thương thận cấp do thuốc khi thấy creatinine huyết thanh tăng trong vòng 48-72 giờ sau khi bắt đầu dùng thuốc mới", bác sĩ khuyên.