1 Có lẽ, nhân vật “đinh” đặc biệt nhất trong đời làm báo của tôi là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Không phải chỉ vì những vị trí ông từng đảm nhận hay vì ông là tác giả bài Đất nước nổi tiếng, mà bởi ông là con trai của Hải Triều. Ông trở thành nhân vật “nặng ký” nhất trong loạt bài Theo dấu nhà báo Hải Triều mà tôi theo đuổi nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21.6.2025). Chính ông đã giúp tôi bước qua lớp vỏ tư liệu khô cứng để chạm vào phần đời sống phía sau một tên tuổi lớn của nền báo chí cách mạng.
Tôi còn nhớ ngày mưa ở Vỹ Dạ cuối năm 2024, trong căn nhà cũ nơi Hải Triều từng sống cùng gia đình, Nguyễn Khoa Điềm chậm rãi kể chuyện cha mình bằng giọng Huế đầy khiêm nhường. Ông bảo mình không được ở gần cha nhiều vì Hải Triều sớm thoát ly theo kháng chiến chống Pháp. Việc hiểu về cha, với ông, cũng bắt đầu từ cách như một người học trò tìm đọc tư liệu, nghe người thân kể lại rồi tự lần theo dấu vết cuộc đời của một nhà báo cách mạng lớn.
Nhà thơ kể chuyện gia đình nhiều đời làm báo, làm văn hóa; chuyện bà nội ông là Đạm Phương nữ sử, một trong những nữ ký giả đầu tiên của đất nước; chuyện ông cố gắng bổ sung thêm tư liệu cho cuốn Hải Triều toàn tập in năm 2014. Nhưng điều khiến tôi nhớ nhất là lúc ánh mắt ông chùng xuống khi nói: “Muốn hiểu thêm về cụ, chắc phải tiếp tục nghiên cứu, phải có thêm phát hiện…”.
Chính câu nói ấy đã giữ tôi ở lại rất lâu với loạt bài này. Càng lần theo cuộc đời Hải Triều, tôi càng đối diện với khoảng trống tư liệu rất lớn về những người làm báo cách mạng buổi đầu. Nhiều bài viết thất lạc, nhiều dấu vết chỉ còn nằm trong ký ức người thân và những cuộc trò chuyện hiếm hoi như thế này. Và nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chính là người đã giúp tôi nối lại những mảnh ký ức rời rạc ấy.
Tôi vẫn nhớ cảm giác đứng trên sân khấu nhận giải nhất Giải báo chí Hải Triều năm 2025 tại Huế. Người trao chiếc cúp cho tôi hôm ấy lại chính là ông Nguyễn Khoa Điềm – người mà trước đó tôi đã nhiều lần lặn lội tìm gặp để nghe kể chuyện về cha của ông. Một vòng tròn khép lại đầy duyên nợ!
2 Một trong những nhân vật “đinh” mà tôi nhớ nhất là thượng tọa Thích Huệ Vinh, trụ trì chùa Quán Thế Âm (Đà Nẵng) trong loạt bài Bí ẩn Ngũ Hành Sơn (đoạt giải nhì Giải báo chí Đà Nẵng năm 2023). Tôi vẫn nhớ những ngày rong ruổi dưới chân ngọn Kim Sơn, lần theo những câu chuyện nửa thực nửa huyền hoặc tồn tại hàng trăm năm quanh danh thắng này.
Đó là dạng đề tài rất khó viết. Nếu chỉ sa vào truyền thuyết, bài báo sẽ dễ thành chuyện kể dân gian. Nhưng nếu chỉ nhìn bằng con mắt khảo cứu, toàn bộ hơi thở đời sống và tín ngưỡng của vùng đất sẽ “chết” ngay trên mặt giấy.
Và rồi tôi gặp thượng tọa Thích Huệ Vinh… Ở ông có sự pha trộn rất lạ giữa một nhà tu hành và một người lưu giữ ký ức văn hóa bản địa. Những cuộc trò chuyện thường bắt đầu rất nhẹ nhàng bên hiên chùa Quán Thế Âm, giữa tiếng chuông và mùi nhang trầm thoang thoảng. Nhưng càng nghe, tôi càng nhận ra phía sau dáng vẻ điềm đạm ấy là cả một kho tư liệu về lịch sử, tín ngưỡng và đời sống dân gian quanh Ngũ Hành Sơn.
Ông kể tôi nghe chuyện chọn người vào vai Quán Thế Âm trong lễ hội cùng tên. Một cô gái được tìm kiếm trước cả năm trời, phải ăn chay, học thiền, rèn dáng đi, thần thái chỉ để xuất hiện đúng một giờ đồng hồ trong lễ hóa trang giữa hàng vạn người. Có hôm, ông dẫn tôi ra bờ sông Cổ Cò trước chùa Quán Thế Âm để chỉ nơi tương truyền từng là bến ngự của vua Minh Mạng.
Có lúc, giữa câu chuyện về Huyền Trân công chúa, ông lại trầm xuống. Ông bảo bao đời nay dân ở đây vẫn gọi miếu thờ là miếu Bà thì khó mà nói không tồn tại câu chuyện công chúa từng ghé chân. Đó không hẳn là sử liệu mà là ký ức dân gian được truyền qua nhiều thế hệ. Chính cách nhìn ấy đã giúp tôi hiểu ra điều quan trọng nhất của loạt bài Bí ẩn Ngũ Hành Sơn: đôi khi thứ cần ghi lại không chỉ là “đúng – sai” của lịch sử mà còn là cách cộng đồng lưu giữ niềm tin và ký ức.
3 Trong những nhân vật “đinh” tôi từng gặp, Ra Pát Ngọc Hà, cậu thanh niên người Tà Ôi ở A Lưới (Huế), khá kiệm lời. Phần lớn thời gian gặp nhau, Hà chỉ cúi xuống đẽo nứa, mài lưỡi đồng hoặc ngồi lặng giữa căn nhà sàn ám khói bếp để thổi khèn.
Tôi gặp Hà trong loạt bài Chuyện nghệ nhân gen Z giữa lúc vẫn mang trong lòng nỗi băn khoăn rằng liệu văn hóa truyền thống vùng cao rồi sẽ đi về đâu khi lớp nghệ nhân già lần lượt mất đi. Có những loại nhạc cụ chỉ còn tồn tại trong lời kể. Có những thanh âm đại ngàn tưởng đã biến mất hẳn khỏi Trường Sơn.
Rồi tôi gặp Hà…
Chiều hôm ấy ở A Lưới, sương núi xuống rất nhanh. Tôi vẫn nhớ cảm giác khi nhìn một chàng trai sinh năm 2000 ngồi giữa đại ngàn, tay nâng thứ nhạc cụ từng được xem là khó chơi, khó chế tác bậc nhất của người Tà Ôi. Càng nghe Hà kể chuyện tự tháo chiếc khèn cũ của nghệ nhân để nghiên cứu, chuyện lặn lội sang tận các bản làng bên Lào tìm loại đồng phù hợp làm lưỡi gà, tôi càng hiểu đây không còn là sở thích bình thường của chàng trai trẻ. Đó là một cách giữ lấy ký ức.
Tôi nhớ mãi câu chuyện Hà phục dựng chiếc tù và karyok ayon vốn chỉ còn trong trí nhớ của các già làng. Hôm cậu thổi thử cho một cụ già hơn 80 tuổi nghe, ông đã bật khóc vì quá lâu rồi mới được nghe lại âm thanh của núi rừng năm xưa. Khoảnh khắc ấy khiến tôi hiểu mình đã gặp nhân vật “đinh” của cả loạt bài.
Bởi nếu không có Hà, tuyến bài về những nghệ nhân gen Z rất dễ chỉ dừng lại ở những câu chuyện người trẻ làm nghề truyền thống. Hà xuất hiện như một chỉ dấu rằng mạch ngầm văn hóa đại ngàn vẫn chưa đứt. Giữa thời buổi mà nhiều người trẻ rời bản làng, rời tiếng khèn, rời lễ hội cũ để bước vào đời sống hiện đại, vẫn có một chàng trai lặng lẽ ngồi mài từng chiếc lưỡi đồng để giữ đúng âm sắc của núi rừng.
Dịp 21.6 lại về, tôi lại nghĩ về những nhân vật “đinh” mà mình từng gặp. Họ – những con người không hiện diện trên mặt báo với tư cách tác giả nhưng âm thầm trao cho bài báo điều quan trọng nhất: sự tin cậy và hồn cốt của tác phẩm. Có lẽ cũng chính từ những cuộc gặp gỡ như thế mà tôi vẫn muốn tiếp tục lên đường, tiếp tục đi tìm những con người và những câu chuyện mới cho nghề báo của mình…
Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến 2035 do Thủ tướng ban hành ngày 11/5 đặt mục tiêu xây dựng Việt Nam thành quốc gia số phát triển toàn diện, bền vững.
Theo đề án, đến năm 2030, các nền tảng và tiện ích số cốt lõi sẽ được hoàn thiện để người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ công nhanh hơn, thuận tiện hơn và an toàn hơn. Hệ sinh thái dữ liệu dân cư quốc gia được kết nối với nhiều ngành, lĩnh vực để phục vụ điều hành và phát triển kinh tế số, xã hội số.
Đến năm 2035, dữ liệu dân cư cùng các cơ sở dữ liệu quốc gia khác được kết nối, chia sẻ đồng bộ, phục vụ điều hành trên dữ liệu thời gian thực. Người dân có thể sử dụng các dịch vụ số tự động, cá nhân hóa theo từng nhu cầu trong cuộc sống.
Dữ liệu và công nghệ số sẽ được ứng dụng sâu rộng trong y tế, giáo dục, giao thông, nông nghiệp, tư pháp, an ninh. Chính phủ đặt mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 50 quốc gia dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Để thực hiện mục tiêu này, Thủ tướng yêu cầu sớm tích hợp một tài khoản duy nhất để người dân đăng nhập, sử dụng xuyên suốt các hệ thống và dịch vụ công. Các cơ quan phải công khai dữ liệu đã có để người dân, doanh nghiệp không phải kê khai lại.
Bộ Công an và Văn phòng Chính phủ được giao hoàn thành tích hợp tài khoản định danh điện tử, gồm tài khoản của tổ chức và người nước ngoài phục vụ giải quyết thủ tục hành chính trong tháng 12 năm nay.
Trong tháng 9, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Văn phòng Chính phủ sẽ triển khai AI và trợ lý ảo hỗ trợ thực hiện dịch vụ công trực tuyến.
Từ năm 2027, các địa phương nghiên cứu xây dựng "trạm công dân số" tại nơi công cộng, cơ quan hành chính và trung tâm dịch vụ. Nhiều giải pháp thành phố thông minh như "bản sao số", "mô hình địa điểm số" cũng được triển khai trên nền dữ liệu dân cư và định danh điện tử.
Ứng dụng VNeID được định hướng trở thành nền tảng số quốc gia đa tiện ích, cho phép lưu trữ dữ liệu cá nhân, xác thực điện tử, thực hiện dịch vụ công và tích hợp thanh toán điện tử, chi trả an sinh xã hội.
Từ tháng 10/2025, nhiều thủ tục đã bắt buộc thực hiện trực tuyến như đăng ký thường trú, tạm trú, khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn, cấp đổi căn cước công dân, cấp hộ chiếu, đổi giấy phép lái xe, cấp phiếu lý lịch tư pháp hay đăng ký biển số xe máy.
Ngày 25/5, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh cho biết, đơn vị vừa phối hợp với các lực lượng chức năng kiểm tra một cơ sở kinh doanh chim cảnh, phát hiện gần 300 cá thể chim các loại chưa chứng minh được nguồn gốc hợp pháp.
Trước đó, ngày 22/5, tổ công tác liên ngành kiểm tra cơ sở Chim cảnh Phương Nam tại chợ Thạnh Hóa, xã Thạnh Hóa, tỉnh Tây Ninh, do ông L.T.P. làm chủ.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện cơ sở đang nuôi nhốt 295 cá thể chim thuộc 19 loài như chào mào, chích chòe cùng nhiều loài chim cảnh khác.
Tại thời điểm làm việc, chủ cơ sở chưa xuất trình được hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số chim nói trên theo quy định. Tổ công tác đã lập biên bản, tạm giữ tang vật để tiếp tục xác minh, xử lý.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh, đợt kiểm tra được thực hiện theo kế hoạch tăng cường ngăn chặn tình trạng mua bán, vận chuyển động vật hoang dã trái pháp luật và các hành vi vi phạm về lâm nghiệp.
Thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh đã phối hợp với các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi săn bắt, mua bán, vận chuyển, nuôi nhốt động vật hoang dã trái phép.
Cơ quan chức năng khuyến cáo các tổ chức, cá nhân kinh doanh, nuôi nhốt chim cảnh và động vật hoang dã phải thực hiện đầy đủ quy định về hồ sơ nguồn gốc, quản lý và truy xuất lâm sản; không tiếp tay cho hoạt động săn bắt, mua bán động vật hoang dã trái phép dưới mọi hình thức.
Thời gian tới, lực lượng kiểm lâm tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường tuần tra, kiểm tra tại các khu vực chợ, điểm kinh doanh sinh vật cảnh và các tuyến giao thông có nguy cơ phát sinh vi phạm để kịp thời xử lý.
Chiều 2/6, Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì cuộc họp về việc tiếp tục triển khai hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Trung tâm tài chính đã có khuôn khổ pháp lý riêng theo mô hình "một trung tâm, hai điểm đến" với Nghị quyết 222 của Quốc hội và 8 nghị định của Chính phủ hướng dẫn triển khai. Đây là các văn bản nền tảng quy định nguyên tắc, chính sách khung, các cơ chế đặc thù thu hút nhà đầu tư chiến lược; cơ chế giải quyết tranh chấp và quản lý giám sát.
Trên cơ sở khung pháp lý đã được ban hành, các bộ, ngành, TPHCM và Đà Nẵng đã tích cực triển khai nhiều hoạt động.
Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính tại hai thành phố đã được thành lập, từng bước kiện toàn bộ máy, bố trí nhân sự, xác định chức năng, nhiệm vụ, xây dựng quy chế làm việc nội bộ và định hướng phát triển.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định chủ trương của Đảng về phát triển Trung tâm tài chính đã rất rõ và vừa qua, chúng ta đã đi được một chặng đường dài, hoàn thành khối lượng công việc lớn, khó, phức tạp.
Người đứng đầu Chính phủ đề cập Kết luận số 18 của Trung ương, trong đó nhấn mạnh yêu cầu khẩn trương đưa Trung tâm tài chính vào hoạt động với mục tiêu xuyên suốt là thiết lập Trung tâm với hành lang pháp lý minh bạch, rõ ràng để thu hút các nhà đầu tư quốc tế.
Đây là một trong những giải pháp quan trọng để huy động dòng vốn trung và dài hạn phục vụ phát triển nhanh, bền vững.
Theo Thủ tướng, thách thức trong phát triển Trung tâm tài chính còn rất nhiều, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế phức tạp, các trung tâm trong khu vực và trên thế giới cạnh tranh gay gắt để thu hút dòng vốn.
Thủ tướng lưu ý Việt Nam đi sau nên phải có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút nhà đầu tư nhưng vẫn quản lý được, kiểm soát rủi ro, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm tăng trưởng bền vững.
Về các nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới, người đứng đầu Chính phủ giao Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng làm Chủ tịch Hội đồng Điều hành Trung tâm tài chính và trực tiếp chỉ đạo, nếu phát sinh vấn đề vượt thẩm quyền thì báo cáo Thủ tướng.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo Hội đồng Điều hành khẩn trương phối hợp với hai thành phố nghiên cứu mô hình chuẩn về cơ quan điều hành, kiến nghị lựa chọn phương án khả thi, phù hợp, tối ưu, vì công việc chung.
Nhấn mạnh các sản phẩm, dịch vụ tài chính là yếu tố quyết định hoạt động hiệu quả của Trung tâm tài chính, trong khi TPHCM và Đà Nẵng cũng là 2 động lực tăng trưởng của đất nước, Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan và hai thành phố kiến nghị, xác định danh mục các sản phẩm, dịch vụ tài chính của Trung tâm tài chính.
Trước hết, Thủ tướng định hướng các sản phẩm, dịch vụ gắn với thương mại, đầu tư để thu hút nguồn lực phát triển cho hai thành phố, phục vụ các công trình hạ tầng trọng điểm trên địa bàn.
Theo Thủ tướng, việc phát triển các sản phẩm này đều đã có chủ trương, cần triển khai với tinh thần không cầu toàn, ngoài 8 nghị định đã có, cần tiếp tục nghiên cứu các quy định mới trong tháng 6 nhằm tạo cơ chế đột phá để nhanh chóng có một số sản phẩm, dịch vụ tài chính mới chủ chốt cho Trung tâm tài chính.
Người đứng đầu Chính phủ đồng thời đề nghị nghiên cứu cơ chế thanh tra giám sát trực thuộc các cơ quan Trung ương, thực hiện thanh tra, giám sát theo lĩnh vực được giao quản lý.
Nhấn mạnh khi Trung tâm tài chính đã hình thành khá rõ thì phải có chiến lược cụ thể hơn, Thủ tướng chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu, kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan để thúc đẩy hơn nữa hoạt động của các trung tâm này.