Anh J.A. (38 tuổi, quốc tịch Mỹ) từng điều trị viêm thùy phổi dạng nang hóa tại Bệnh viện FV năm 2018. Thời điểm đó, các bác sĩ thực hiện chọc hút dịch dưới hướng dẫn CT scan, đặt ống dẫn lưu kết hợp điều trị kháng sinh. Sau can thiệp, tình trạng cải thiện tốt và bệnh nhân được theo dõi định kỳ trong một thời gian.
Đến cuối tháng 3.2026, anh J.A. quay lại FV với các triệu chứng giống hệt nhiều năm trước: sốt, đau ngực, ho nhiều và viêm hô hấp kéo dài.
Theo ThS-BS.CKII Lương Ngọc Trung – Trưởng khoa Mạch máu & Can thiệp nội mạch, chuyên gia phẫu thuật lồng ngực, Bệnh viện FV, kết quả CT scan cho bệnh nhân ghi nhận tổn thương cũ tái phát tại thùy dưới phổi phải với kích thước lớn, chiếm gần 1/3 khoang ngực. Bên trong hình thành nhiều khoang chứa khí và dịch giống các “bong bóng” trong phổi.
Đáng lo ngại hơn, vùng tổn thương này còn thông với đường thở, khiến dịch tiết dễ ứ đọng và gây viêm nhiễm tái đi tái lại. “Với các trường hợp tái phát lâu năm như này, điều trị nội khoa chỉ giúp kiểm soát tạm thời. Nếu không xử lý triệt để phần phổi bệnh, nguy cơ nhiễm trùng tái diễn là rất cao”, bác sĩ Trung nhận định.
Ban đầu, bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh kết hợp vật lý trị liệu hô hấp, Ê-kíp cũng trao đổi về khả năng phẫu thuật cắt bỏ phần phổi bị tổn thương. Do tâm lý e ngại phẫu thuật, anh J.A. mong muốn tiếp tục điều trị nội khoa trước.
Sau vài ngày dùng thuốc, tình trạng tạm thời cải thiện và bệnh nhân dự định xuất viện để sắp xếp mổ sau. Nhưng ngay trước ngày ra viện, mọi thứ bất ngờ chuyển biến xấu: đau ngực nhiều hơn, ho liên tục và bắt đầu ho ra máu.
Bác sĩ Trung nhận định, đây là dấu hiệu cho thấy ổ viêm bên trong đã xuất hiện biến chứng xuất huyết, do vậy điều trị nội khoa không còn đủ hiệu quả để kiểm soát bệnh.
“Phẫu thuật gần như là lựa chọn bắt buộc để xử lý tận gốc ổ nhiễm trùng cũng như tránh biến chứng dịch, máu chảy sang qua phổi bên trái”, bác sĩ Trung cho biết.
Sau khi được giải thích kỹ về tình trạng bệnh và các phương án điều trị, bệnh nhân quyết định thực hiện phẫu thuật bằng hệ thống robot da Vinci Xi – thế hệ robot hiện đại bậc nhất Đông Nam Á hiện nay.
Ngày 6.4, ca mổ được tiến hành bởi ThS-BS.CKII Lương Ngọc Trung cùng ê-kíp phẫu thuật lồng ngực tại FV. Mục tiêu của ca mổ là cắt bỏ hoàn toàn phần thùy dưới phổi phải – khu vực đã gần như mất chức năng sau nhiều năm viêm nhiễm tái phát.
Thông qua 4 đường rạch nhỏ chỉ khoảng 8 mm, các cánh tay robot được đưa vào khoang ngực để tiếp cận vùng tổn thương. Khi vào bên trong, ê-kíp ghi nhận tình trạng viêm dính rất nặng, các mô phổi bám chặt vào mô xung quanh do quá trình nhiễm trùng kéo dài nhiều năm.
Đây là một trong những khó khăn lớn nhất của phẫu thuật lồng ngực, bởi việc bóc tách mô viêm dính trong không gian hẹp đòi hỏi độ chính xác rất cao để tránh tổn thương các cấu trúc quan trọng và hạn chế chảy máu.
Robot da Vinci Xi đặc biệt phát huy hiệu quả trong các ca phẫu thuật phức tạp nhờ hình ảnh phóng đại rõ nét cùng các cánh tay robot có độ linh hoạt cao, giúp bác sĩ tiếp cận những vùng sâu hẹp trong khoang ngực và bóc tách chính xác hơn.
Sau khi xử lý toàn bộ vùng dính, ê-kíp cắt rời phần thùy phổi tổn thương bằng hệ thống stapler tự động tích hợp trên cánh tay robot và đưa phần phổi bệnh ra ngoài.
Ca phẫu thuật kéo dài gần 3 giờ và diễn ra thành công. Toàn bộ vùng phổi mất chức năng đã được loại bỏ hoàn toàn thông qua kỹ thuật xâm lấn tối thiểu.
Sau phẫu thuật, bệnh nhân phục hồi rất nhanh: Ngay ngày hôm sau, anh đã có thể tự ngồi dậy, đứng lên và đi lại trong phòng, các chỉ số hô hấp đều ở mức tốt. Đặc biệt triệu chứng đau sâu trong lồng ngực biến mất hoàn toàn. 3 ngày sau ca mổ, bệnh nhân được xuất viện.
Điều khiến anh bất ngờ nhất là quá trình hậu phẫu nhẹ nhàng hơn nhiều so với tưởng tượng trước đó. “Biết vậy tôi đã mổ sớm hơn”, anh J.A. chia sẻ sau khi hồi phục.
Hiện nay, phẫu thuật robot đang được Bệnh viện FV ứng dụng trong nhiều chuyên khoa như ngoại tổng quát, tiết niệu, lồng ngực, phụ khoa và ung thư. Hệ thống phòng mổ đạt chuẩn quốc tế JCI cùng đội ngũ bác sĩ được đào tạo chuyên sâu về phẫu thuật robot lẫn nội soi, giúp mở rộng khả năng điều trị các ca bệnh phức tạp bằng phương pháp xâm lấn tối thiểu.
Cụ thể, theo hướng dẫn của Bộ Y tế, khám sức khỏe định kỳ cho trẻ dưới 6 tuổi sẽ được tổ chức ít nhất 1 lần/năm trên phạm vi toàn quốc.
Trẻ sẽ được khám các dấu hiệu sinh tồn; đánh giá tình trạng dinh dưỡng; đánh giá sự phát triển tinh thần, vận động; đánh giá tiêm chủng.
Đồng thời thăm khám toàn thân và các bộ phận như da, đầu - cổ, tai mũi họng, răng miệng, hô hấp, tim mạch, bụng và cơ quan sinh dục, cơ xương khớp và thần kinh.
Trẻ sẽ được đánh giá nguy cơ tự kỷ qua kiểm tra trắc nghiệm, áp dụng cho trẻ từ 16-30 tháng tuổi.
Bộ Y tế cũng hướng dẫn quy trình thực hiện khám đầy đủ như khai thác tiền sử bệnh tật của trẻ khi sinh, khai thác tiền sử bệnh tật của mẹ trong thời gian mang thai.
Khám, ghi nhận kết quả, tư vấn can thiệp hoặc hướng dẫn theo dõi sức khỏe theo các mẫu giấy khám sức khỏe cho trẻ phù hợp độ tuổi.
Trong trường hợp trẻ có dấu hiệu bất thường, phát hiện bệnh tật, cần phải khám và điều trị bệnh, tư vấn chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để khám và điều trị kịp thời.
Kết quả khám được tổng hợp, đánh giá và lập sổ sức khỏe điện tử; liên thông, chia sẻ dữ liệu khám sức khỏe định kỳ và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành y tế với hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành.
Đồng thời các dữ liệu sổ sức khỏe điện tử đảm bảo liên thông với hệ thống thông tin quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế và cổng tiếp nhận dữ liệu của hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành.
Để thực hiện, Bộ Y tế hướng dẫn các đơn vị lập kế hoạch khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em dưới 6 tuổi; thông tin rộng rãi về buổi khám; thông báo đến cha, mẹ, người chăm sóc trẻ/người giám hộ trẻ ngày khám sức khỏe cụ thể.
Theo đó, nhân lực cho 1 dây chuyền khám như bác sĩ khám sức khỏe cho trẻ em dưới 6 tuổi; 1 y sĩ hoặc điều dưỡng hoặc hộ sinh thực hiện đo dấu hiệu sinh tồn, cân đo trọng lượng, chiều cao…; 1 nhân viên y tế hỗ trợ (nhân viên y tế công cộng, công tác xã hội…).
Bác sĩ tham gia khám sức khỏe phải có chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề có phạm vi hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phù hợp theo quy định. Các nhân viên tham gia khám phải được tập huấn hoặc được phổ biến về nội dung khám.
Theo đó, địa điểm khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em dưới 6 tuổi ưu tiên tổ chức tại trạm y tế xã/phường khi bố trí nhân lực, trang thiết bị và dụng cụ khám đáp ứng yêu cầu chuyên môn.
Ngoài ra có thể thực hiện điểm khám sức khỏe lưu động được bố trí hợp lý, thuận tiện cho cha mẹ, người giám hộ. Các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập các cấp khám chữa bệnh ban đầu và cơ bản...
Các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ đang ngày càng lo ngại trước sự gia tăng của xu hướng "khuôn mặt AI", khi lượng khách hàng tìm đến phòng khám với những kỳ vọng phi thực tế về diện mạo do công nghệ tạo ra liên tục tăng cao, theo The Guardian.
Bác sĩ Nora Nugent, chuyên gia phẫu thuật thẩm mỹ tại Tunbridge Wells, trực tiếp chứng kiến thực trạng này. Nhiều khách hàng đến phòng khám của bà với những bức ảnh cá nhân đã qua chỉnh sửa bằng AI, lầm tưởng rằng phẫu thuật thẩm mỹ có thể giúp họ đạt được diện mạo đó.
Chủ tịch Hiệp hội Bác sĩ Phẫu thuật Thẩm mỹ Anh (BAAPS) cho biết các đồng nghiệp của bà cũng đang gặp phải tình huống tương tự.
"Tôi dự đoán xu hướng này sẽ còn gia tăng, khi AI đang thâm nhập ngày càng sâu vào mọi khía cạnh của cuộc sống", bà Nugent nhận định.
Những người dùng chatbot AI để tạo ra khuôn mặt lý tưởng đang xuất hiện ngày một nhiều tại các phòng khám thẩm mỹ. Họ mang theo những yêu cầu đòi hỏi một làn da không tì vết, xương gò má sắc nét, dáng mũi thon gọn và độ đối xứng gần như hoàn hảo, những tiêu chuẩn quá tốn thời gian, chi phí đắt đỏ và trong nhiều trường hợp là không thể thực hiện được về mặt thể chất. Theo bác sĩ Alex Karidis, chuyên gia phẫu thuật tại phía tây London, AI có thể kiểm soát từng pixel còn "phẫu thuật chắc chắn không thể can thiệp ở cấp độ chi tiết vi mô như vậy".
Tuy nhiên, với nhiều người, những kỳ vọng đó đã được định hình từ rất lâu trước khi họ gặp bác sĩ. Hai chuyên gia Karidis và Nugent cho hay các hình ảnh do AI tạo ra có tác động tâm lý rất mạnh mẽ trong việc định hình và củng cố tiêu chuẩn cái đẹp lý tưởng của khách hàng.
"Một khi bạn đã nhìn thấy bức hình đó, nó sẽ ghi sâu vào tâm trí bạn", bác sĩ Nugent nói. Bác sĩ Karidis cũng đồng tình khi mô tả các hình ảnh AI giống như được "khắc sâu" vào tâm trí bệnh nhân. Ông cho biết nhiều đồng nghiệp của ông gần đây đang bị quá tải bởi những yêu cầu kiểu này. Giới chuyên gia nhấn mạnh kết quả phẫu thuật thẩm mỹ hoàn toàn không có sự đảm bảo tuyệt đối.
Bà Nugent cho hay bệnh nhân cần hiểu rằng mỗi cơ địa có một tiến trình lành thương và lão hóa khác nhau. "Tôi luôn nói trước với bệnh nhân: Khả năng phẫu thuật của tôi không phải là vô hạn. Không ai trong chúng ta kiểm soát được mọi thứ", bà chia sẻ.
Bác sĩ Karidis cho biết thêm khi khách hàng tìm hiểu sâu về các quy trình thẩm mỹ, họ thường chỉ chăm chăm nhìn vào hình ảnh và bỏ qua "tất cả cảnh báo xung quanh". "Đó là thực tế chung của mọi người. Khoảnh khắc bạn cho họ xem một thứ như vậy, mọi chuyện coi như đã được định đoạt", ông nói.
Giới chuyên gia cũng nhận thấy những điểm chung trong thẩm mỹ của "khuôn mặt AI", đặc biệt là sự đối xứng tuyệt đối. Đây là điều mà AI có thể xử lý một cách dễ dàng nhưng lại thường bất khả thi trong đời thực.
Theo bác sĩ Julian de Silva, chuyên gia phẫu thuật thẩm mỹ tại phố Harley, nếu một bên mắt cao hơn bên kia vài mm, AI có thể chỉnh sửa lại trong vài giây. Tuy nhiên, việc sắp xếp lại các pixel không giống như việc sắp xếp lại cấu trúc giải phẫu học. "Không thể thay đổi vị trí cao thấp của mắt vì bộ phận đó thực chất đã cố định vào xương và não của bạn nằm ngay phía sau hốc mắt. Bạn không thể thay đổi vị trí của hốc mắt một cách an toàn", ông giải thích.
Bác sĩ De Silva nói thêm khi AI chỉnh sửa ảnh của khách hàng, nó thường tự động áp dụng các tiêu chuẩn cái đẹp phổ biến, với phụ nữ là cằm chuẩn V-line, đường cong gò má (ogee curve) mềm mại và khuôn mặt hình trái tim, còn với nam giới là xương quai hàm rộng, lông mày thấp và mí mắt trên đầy đặn hơn.
Bên cạnh đó, bác sĩ De Silva cũng lo ngại về một xu hướng đáng báo động khác, đó là các bác sĩ lâm sàng chia sẻ kết quả phẫu thuật trên mạng xã hội trông có vẻ hiệu quả đến kinh ngạc nhưng ông nghi ngờ bản chất chúng có thể do AI tạo ra. "Tôi nhớ tuần trước có xem một video kết quả và đã xem đi xem lại nó", ông kể lại một video quay cảnh một bệnh nhân trông như trẻ ra đến 30 tuổi. "Đến lần thứ 3 xem kỹ, tôi mới nhận ra bàn tay của người đó có đến 6 ngón".
Các khuyến nghị này cung cấp một khuôn khổ về cách ăn uống để ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh tim, vốn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Hoa Kỳ trong hơn một thế kỷ qua. Dưới đây là những điều bạn cần biết.
Ưu tiên protein thực vật hơn protein từ thịt
Đối với protein động vật, hướng dẫn vẫn khuyến nghị nên ăn cá và hải sản vì những protein nạc này cũng giàu omega-3.
Bên cạnh đó, nên hạn chế ăn thịt đỏ vì hàm lượng chất béo bão hòa cao và có thể dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch. Khi bạn cố gắng giảm thiểu nguy cơ và bệnh tim mạch, bạn cũng cần chú ý giảm chất béo bão hòa và tăng cường chất xơ cùng các vi chất dinh dưỡng.
Nhấn mạnh hơn về chất béo không bão hòa
Trong khi hướng dẫn trước đây của AHA về chất béo không bão hòa tập trung cụ thể vào dầu ăn (như khuyến nghị sử dụng dầu ôliu thay vì bơ), thì hướng dẫn mới khuyến nghị rộng rãi hơn các thực phẩm giàu chất béo không bão hòa thay vì các thực phẩm giàu chất béo bão hòa.
Ăn nhiều chất béo bão hòa có thể làm tăng cholesterol xấu LDL, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ
Mức độ ảnh hưởng của chất béo bão hòa đến sức khỏe tim mạch vẫn còn gây tranh cãi - một số nghiên cứu cho thấy ít hoặc không có tác động đối với những người có nguy cơ mắc bệnh tim thấp, nhưng AHA đã tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ hơn để ủng hộ khuyến nghị của mình.
Chất béo bão hòa có thể làm tăng cholesterol LDL xấu, nhưng LDL cao không phải là yếu tố độc lập quyết định sức khỏe tim mạch hoặc nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Các yếu tố nguy cơ là sự kết hợp của lipid máu, các chỉ số viêm, di truyền, thói quen sinh hoạt.
Tác động của sữa nguyên kem đối với sức khỏe
Tác động của sữa đối với sức khỏe, đặc biệt là đối với tim mạch, cũng đang được tranh luận. Sữa nguyên kem có hàm lượng chất béo bão hòa cao, nhưng các nghiên cứu mới chỉ ra rằng chế độ ăn nhiều sữa không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tim mạch, bất kể hàm lượng chất béo là bao nhiêu.
Nghiên cứu vẫn đang tiếp diễn, nhưng có sự khác biệt giữa chất béo bão hòa của sữa chất béo bão hoà của thịt đỏ. Hướng dẫn Chế độ ăn uống cho người Mỹ giai đoạn 2025-2030 cho rằng nên sử dụng sữa nguyên kem.
Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi, Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) vẫn giữ nguyên khuyến nghị về sữa ít béo và không béo, có hàm lượng chất béo bão hòa thấp hơn so với các lựa chọn nguyên kem.
Cần hạn chế thực phẩm siêu chế biến
Tương tự như hướng dẫn dinh dưỡng trước đây của AHA, các khuyến nghị mới cũng khuyên không nên ăn thực phẩm siêu chế biến.
Chế độ ăn nhiều thực phẩm siêu chế biến có thể dẫn đến nhiều hậu quả xấu cho sức khỏe, bao gồm thừa cân và béo phì, bệnh tim mạch, tiểu đường loại 2.
Điểm khác biệt trong hướng dẫn mới là sự kêu gọi sự thay đổi trên thị trường để cung cấp các lựa chọn lành mạnh hơn với giá cả phải chăng hơn, bởi thực phẩm siêu chế biến thường rẻ hơn thực phẩm nguyên chất.
Vai trò của kali trong việc kiểm soát huyết áp
Ngoài việc hạn chế lượng natri nạp vào cơ thể, các hướng dẫn mới hiện nay khuyến nghị bổ sung thêm kali để giúp kiểm soát huyết áp. Huyết áp cao (tăng huyết áp) là nguy cơ có thể phòng ngừa hàng đầu đối với bệnh tim mạch.
Trong cơ thể, lượng natri dư thừa có thể khiến bạn giữ nước, làm tăng thể tích máu và tăng huyết áp. Trong khi đó, kali giúp cơ thể bài tiết natri qua nước tiểu và làm giãn mạch máu, giúp hạ huyết áp.
Natri và kali hoạt động giống như bập bênh. Chúng hoạt động tốt nhất khi ở trạng thái cân bằng. Nhưng bổ sung thêm kali có thể mang lại những tác động rất có lợi cho huyết áp.
Hạn chế đồ uống có cồn
Trong khi các hướng dẫn trước đây của AHA cho phép uống từ một đến hai ly mỗi ngày, các khuyến nghị mới có lập trường nghiêm ngặt hơn và không chỉ định lượng uống an toàn. Khi nói đến việc tiêu thụ rượu, càng tránh càng tốt.
Các nghiên cứu đang nghiêng về việc loại bỏ hoàn toàn rượu để bảo vệ sức khỏe tim mạch tối ưu.
Vì nghiên cứu vẫn đang tiếp diễn, các khuyến nghị không cấm hoàn toàn rượu đối với sức khỏe tim mạch. Nhưng các khuyến nghị mới cho rằng không có lượng rượu nào là an toàn đối với nguy cơ mắc một số loại ung thư nhất định, bao gồm ung thư miệng, thực quản, vú, gan và đại trực tràng.