Để VN xây dựng trường ĐH tư thục đẳng cấp: Phát triển mô hình không vì lợi nhuận

Để VN xây dựng trường ĐH tư thục đẳng cấp: Phát triển mô hình không vì lợi nhuận

Theo các chuyên gia, VN muốn có trường ĐH tư thục hàng đầu, cần phải vận hành theo cách của các ĐH tư thục danh tiếng khu vực và thế giới.

Tính đến thời điểm hiện tại, trong số gần 70 trường ĐH tư thục của VN, chỉ có VinUni và Trường ĐH Quản lý và công nghệ TP.HCM được thành lập theo mô hình không vì lợi nhuận (KVLN) theo quy định từ luật Giáo dục ĐH 2012 và luật Giáo dục ĐH sửa đổi 2018, với nhà đầu tư trong nước là Tập đoàn Vingroup và Tập đoàn Kiến Á. Bên cạnh đó, Trường ĐH Fulbright VN được cấp phép hoạt động theo mô hình trường ĐH KVLN nhưng dựa chủ yếu vào khoản tiền tài trợ từ Mỹ.

PGS-TS Nguyễn Huy Vị, nguyên Phó hiệu trưởng Trường ĐH Phú Yên, nguyên giảng viên cao cấp khoa Giáo dục Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), từng có nghiên cứu về hệ thống giáo dục tư thục, cho biết: “Trên thế giới, các trường tư thục danh tiếng đa số hoạt động theo mô hình KVLN. Nhiều trường vẫn nhận tài trợ từ Chính phủ gồm phí cho sự vận hành hoặc đầu tư, cấp đất; sử dụng miễn phí trang thiết bị, bất động sản; thiết lập các công cụ pháp lý và cơ chế tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư quan tâm đến sứ mệnh giáo dục ĐH tư; cấp học bổng, cho sinh viên vay; chịu trách nhiệm trả lương một phần hay toàn bộ; giúp đỡ, hỗ trợ nghiên cứu”.

Theo PGS-TS Huy Vị, có 4 con đường cấp vốn cho ĐH tư KVLN danh tiếng trên thế giới. Thứ nhất là tài trợ cơ bản của nhà nước với gói kinh phí chi thường xuyên, thường thấy ở Đức, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ. Thứ hai là tài trợ theo dự án bởi nhà nước: các nguồn lực này được cấp theo các dự án nghiên cứu hoặc các hoạt động dịch vụ, thường trong một khoảng thời gian nhất định và được cấp trực tiếp cho các đơn vị trong trường. Thứ ba là hợp đồng và hiến tặng của các doanh nghiệp, cá nhân, gồm tài sản hoặc các khoản tài chính đóng góp/hỗ trợ vào ngân sách và vốn tài sản của trường ĐH một cách tự giác như một nghĩa cử có tính xã hội hóa. Cuối cùng là nguồn tài chính từ sinh viên, thường là thông qua học phí.

Tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, nhận định: Phần lớn các ĐH tư thục danh tiếng trên thế giới hoạt động theo mô hình KVLN hoặc mang bản chất phi lợi nhuận trong quản trị học thuật. Họ vẫn tạo ra nguồn thu lớn thông qua nhiều nguồn như học phí, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, đầu tư tài chính, chuyển giao công nghệ, bằng sáng chế, startup, các khoản tài trợ của doanh nghiệp, và đặc biệt là từ quỹ hiến tặng ĐH. Đây chính là một trong những khác biệt căn bản nhất giữa các ĐH tư thục hàng đầu thế giới và hầu hết ĐH tư thục VN hiện nay.

Tiến sĩ Trần Đức Cảnh, nguyên thành viên Hội đồng quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực nhiệm kỳ 2016 – 2021, chuyên gia nghiên cứu về giáo dục ĐH tư thục, nhận định một nền giáo dục ĐH muốn vững vàng thì cần phải có “kiềng 3 chân”: trường công, tư và tư KVLN.

“Tôi chưa thấy nước nào phát triển giáo dục ĐH mạnh mà thiếu 3 “chân” này. Riêng ở Mỹ, luật thuế, miễn thuế rất rõ ràng đối với trường KVLN. Tại VN, luật Giáo dục ĐH sửa đổi năm 2018 lần đầu tiên xác lập tính pháp lý của loại trường KVLN trong hệ thống giáo dục ĐH, nhưng chưa được định nghĩa đầy đủ. Luật Giáo dục ĐH năm 2025 cũng không làm rõ một số vấn đề liên quan đến thuế và ưu đãi, cũng như tính sở hữu của loại hình trường tư thục”, tiến sĩ Trần Đức Cảnh cho hay.

  Đáp án, đề thi môn tiếng Anh lớp 10 tỉnh Khánh Hòa năm 2026

Tiến sĩ Cảnh cho rằng do còn nghi ngại nên nhiều nhà đầu tư chưa mạnh dạn lắm, vì thế ông đề xuất các chính sách dành cho loại trường này rõ ràng hơn trong tương lai. Hiện nay nhiều trường tư phải chạy theo học phí, áp lực dòng tiền lớn, rất khó đầu tư dài hạn. Nhà nước nên tạo chính sách ưu đãi thuế cho trường KVLN đúng nghĩa cũng như cá nhân, tổ chức đóng góp cho trường, ví dụ giảm thuế cho người hiến tặng, xây dựng khung pháp lý rõ cho quỹ giáo dục tại các trường ĐH KVLN và các trường nói chung.

Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng nêu quan điểm: “Hiện nay đã có nhiều chính sách dành cho ĐH tư thục, nhưng vẫn chưa thực sự có một chiến lược quốc gia đủ mạnh để phát triển hệ thống này. Bên cạnh việc hoàn thiện cơ chế tự chủ ĐH, cần nghiên cứu xây dựng các chính sách khuyến khích hình thành quỹ phát triển ĐH, quỹ hiến tặng giáo dục, ưu đãi thuế cho hoạt động tài trợ giáo dục và tạo điều kiện để các trường tư thục tiếp cận bình đẳng hơn với các chương trình nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế. Nếu làm được điều đó, tôi tin rằng trong vòng 10 – 20 năm tới, VN hoàn toàn có thể xuất hiện những ĐH tư thục có uy tín và vị thế không chỉ ngang bằng với các trường công lập hàng đầu trong nước mà còn đủ năng lực cạnh tranh trong khu vực châu Á”.

Ở góc độ trường ĐH, tiến sĩ Nguyễn Quốc Anh, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, cho rằng VN hoàn toàn có thể xuất hiện những ĐH tư thục có uy tín hàng đầu khu vực, nếu như các trường tiếp tục đầu tư và tích lũy ở 3 yếu tố cốt lõi.

Thứ nhất là thương hiệu học thuật và uy tín xã hội. Đây là loại tài sản đặc biệt, không thể mua, không thể tạo ra trong ngắn hạn, được hình thành qua nhiều thế hệ sinh viên thành công, qua những đóng góp có giá trị cho cộng đồng và qua sự ghi nhận bền vững của xã hội đối với chất lượng đào tạo của nhà trường.

Thứ hai là năng lực nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Thứ ba là mạng lưới cựu sinh viên và hệ sinh thái kết nối doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy các ĐH hàng đầu thế giới đều sở hữu cộng đồng cựu sinh viên rất mạnh, hoạt động gắn kết và có tầm ảnh hưởng rộng. Đây vừa là nguồn lực hỗ trợ thiết thực cho nhà trường, vừa là minh chứng thuyết phục nhất cho chất lượng đào tạo và sức lan tỏa của trường ra ngoài xã hội.

Tin Gốc: Thanh Niên