Tại cuộc họp do Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu chủ trì nhằm triển khai kết luận buổi làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với ngành giáo dục và đào tạo ngày 26/6, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn đã đề cập đến nhiệm vụ xây dựng môi trường giáo dục an toàn cho học sinh.
Học sinh dành nhiều thời gian trên môi trường mạng
Theo Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn, cùng với quá trình chuyển đổi số, không gian mạng đã trở thành nơi học sinh dành nhiều thời gian để học tập, giao tiếp và tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, sự phát triển rất nhanh của mạng xã hội và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với công tác bảo vệ trẻ em.
“Chúng ta cần có các quy định để quản lý việc tiếp cận của trẻ em đối với mạng xã hội và các công cụ AI chưa được kiểm soát, không phải để hạn chế quyền của người dân mà là để bảo vệ các em”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Bộ trưởng cũng nêu rõ, giáo dục là trách nhiệm của toàn xã hội. Vì vậy, cùng với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, cần tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các cơ quan liên quan nhằm xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện trong bối cảnh chuyển đổi số.
Trách nhiệm của người lớn
Trao đổi với phóng viên Dân trí về vấn đề Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nêu ra ở trên, ông Đặng Hoa Nam, nguyên Cục trưởng Cục Trẻ em (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, nay là Bộ Nội vụ), Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, cho rằng việc nghiên cứu các biện pháp kiểm soát trẻ em sử dụng mạng xã hội và AI là cần thiết.
Theo ông Nam, câu chuyện hạn chế hay cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội không chỉ là vấn đề của riêng trẻ em, mà còn là trách nhiệm của các doanh nghiệp cung cấp nền tảng xuyên biên giới, các cơ quan quản lý nhà nước về không gian mạng, chuyển đổi số, ngành giáo dục, nhà trường và giáo viên.
“Trẻ em là chủ thể có quyền, nhưng phần lớn các quyền của trẻ em do người lớn có trách nhiệm bảo đảm thực hiện. Vì vậy, việc hạn chế hay cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội thực chất là trách nhiệm của người lớn”, ông Nam nói.
Ông cho rằng về mặt công nghệ, hoàn toàn có thể áp dụng các biện pháp để kiểm soát trẻ em tham gia mạng xã hội. Mục tiêu là vừa tạo điều kiện để các em sử dụng không gian mạng như một môi trường học tập, giao tiếp, sáng tạo, vừa giảm thiểu tối đa các nguy cơ, hành vi phạm tội và xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.
Theo ông Nam, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 468/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng giai đoạn 2026-2030” là hết sức kịp thời, trong bối cảnh mạng xã hội ngày càng phát triển.
Nguyên Cục trưởng Cục Trẻ em cho rằng cần nhìn nhận đầy đủ hai mặt của mạng xã hội. “Mạng xã hội mang lại nhiều cơ hội cho trẻ em trong học tập, tiếp cận thông tin, giao tiếp và phát triển kỹ năng. Tuy nhiên, đây cũng là môi trường tiềm ẩn nhiều nguy cơ nếu không có các biện pháp bảo vệ phù hợp”, ông Nam nói.
Theo ông, với cách tiếp cận đa chiều, mạng xã hội hoàn toàn có thể trở thành không gian lành mạnh, tạo điều kiện để trẻ em phát triển toàn diện. Các nền tảng công nghệ xuyên quốc gia hiện nay hoàn toàn có đủ năng lực kỹ thuật để xây dựng các giải pháp hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đối với trẻ em.
Về phía cơ quan quản lý nhà nước, cần có các quy định pháp luật để kiểm soát việc trẻ em tiếp cận mạng xã hội. Tuy nhiên, do không gian mạng luôn xuất hiện những yếu tố mới, các quy định pháp luật nhiều khi không theo kịp sự thay đổi diễn ra từng ngày, từng giờ. Do đó, cơ quan quản lý cần thường xuyên cập nhật các hành vi, mối quan hệ mới phát sinh trên môi trường mạng để có biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Bên cạnh hành lang pháp lý, ông Đặng Hoa Nam cho rằng cần đầu tư các công cụ kỹ thuật phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, truy vết, thu thập chứng cứ và xử lý vi phạm trên môi trường mạng. “Với năng lực công nghệ hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có thể làm được điều này”, ông nói.
Thời gian gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng hoặc đang nghiên cứu các biện pháp hạn chế trẻ em sử dụng mạng xã hội. Một số nước như Australia, Indonesia, UAE, Malaysia và Anh đã áp dụng các biện pháp hạn chế hoặc kiểm soát chặt chẽ việc trẻ em sử dụng mạng xã hội. Độ tuổi giới hạn phổ biến mà nhiều quốc gia lựa chọn là 16 tuổi.
Chia sẻ quan điểm về việc này, ông Nam nhìn nhận việc kiểm soát trẻ em sử dụng mạng xã hội theo từng độ tuổi là cách tiếp cận phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em.
Ông phân tích, ở mỗi độ tuổi, trẻ em có mức độ trưởng thành và khả năng tự bảo vệ khác nhau. Vì vậy, việc thiết kế các biện pháp bảo vệ theo từng nhóm tuổi sẽ vừa bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền tham gia, bày tỏ ý kiến của trẻ em, vừa bảo vệ các em trước những nguy cơ trên môi trường số.
Trong kỷ nguyên số, ông Đặng Hoa Nam cho rằng vấn đề không phải là cấm hay không cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội, mà là xây dựng được cơ chế quản lý phù hợp để các em được tiếp cận công nghệ một cách an toàn, lành mạnh và có trách nhiệm.
Chia sẻ quan điểm với Dân trí, luật sư Kim Thị Diễm Trinh, Công ty Luật TNHH Nguyễn Giang cho rằng cần tiếp cận vấn đề theo hướng kiểm soát để bảo vệ trẻ em, không phải kiểm soát để cấm đoán.
Theo bà Trinh, trẻ em hiện tiếp cận mạng xã hội và AI quá sớm, trong khi khả năng tự vệ trước tin giả, nội dung độc hại, dụ dỗ, bắt nạt mạng, khai thác dữ liệu cá nhân còn rất hạn chế. Vì vậy, Nhà nước có trách nhiệm đặt ra lan can pháp lý để bảo vệ trẻ em. Cách tiếp cận này phù hợp với Luật Trẻ em và Nghị định 56/2017/NĐ-CP về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Nữ luật sư không ủng hộ việc cấm tuyệt đối hoặc đẩy toàn bộ trách nhiệm cho phụ huynh. Nghị định 147/2024/NĐ-CP đã yêu cầu quản lý, xác thực tài khoản mạng xã hội và đặt nghĩa vụ đối với nền tảng, nhưng nếu triển khai máy móc có thể phát sinh nguy cơ thu thập quá mức dữ liệu của trẻ em. Đây là điểm phải đặc biệt thận trọng vì Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Với AI, luật sư Trinh cho rằng cần kiểm soát chặt hơn trong môi trường giáo dục. Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 đã có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, nhưng cần hướng dẫn cụ thể việc học sinh dùng AI, giáo viên dùng AI, nền tảng AI xử lý dữ liệu học sinh và trách nhiệm khi AI tạo nội dung sai lệch.
Luật sư Trinh nhìn nhận, trọng tâm phải là quản trị rủi ro, bảo vệ dữ liệu, trách nhiệm nền tảng và giáo dục kỹ năng số, chứ không phải dựng một hàng rào hành chính khiến trẻ em bị tách khỏi công nghệ.
Ngày 15/6, cô Trần Thị Hồng Thủy, Hiệu trưởng THCS-THPT Trần Đại Nghĩa, cho biết trường nhận được khoảng 4.200 hồ sơ đăng ký. Với chỉ tiêu 350, tỷ lệ chọi vào trường là 1/12.
Tỷ lệ này giảm nhẹ so với năm ngoái (1/14) nhưng vẫn ở mức cao. Các năm trước, khi còn là hệ THCS của trường chuyên Trần Đại Nghĩa, số hồ sơ mỗi năm khoảng 3.500 - 4.000, tỷ lệ chọi phổ biến là 1/7 đến 1/8.
Đề khảo sát vào lớp 6 Trần Đại Nghĩa gồm hai phần: tự luận và trắc nghiệm, thời gian 90 phút. Trong đó, phần trắc nghiệm có 20 câu tiếng Anh, kiểm tra kiến thức Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, thường thức đời sống. Phần tự luận gồm Tiếng Anh (nghe, đọc-hiểu, viết), Toán tư duy logic và Đọc - Hiểu - Làm văn.
Ngoài Trần Đại Nghĩa, 4 trường THCS khác là Hoa Lư, Bình Thọ, Trần Quốc Toản, Nguyễn An Ninh cũng tổ chức bài khảo sát vào lớp 6. Đây là các trường thực hiện mô hình tiên tiến, hội nhập quốc tế, sĩ số lớp không quá 35 với chất lượng giáo viên, yêu cầu đầu ra cao hơn trường đại trà. Hàng tháng, họ được thu thêm khoảng 1,7 triệu đồng.
Cả 5 trường đồng loạt tổ chức khảo sát vào ngày 1/7. Với THCS-THPT Trần Đại Nghĩa, việc xây dựng đề thi, coi thi, chấm bài, phúc khảo do Sở Giáo dục và Đào tạo phụ trách. Những trường còn lại tổ chức khảo sát dưới sự quản lý của xã, phường, Sở hỗ trợ khâu ra đề.
Học sinh không trúng tuyển vẫn được xếp chỗ học tại các trường THCS công lập theo nơi ở và nguyện vọng của phụ huynh.
Ngày 7.4, Báo Thanh Niên tổ chức chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến 2026 "Cơ hội nghề nghiệp khối ngành xã hội nhân văn và sư phạm". Chương trình diễn ra đồng thời ở các kênh: thanhnien.vn, fanpage Facebook, kênh YouTube, TikTok Báo Thanh Niên.
Mới đây, ngày 28.3, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Thành ủy TP.HCM và ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học xã hội và nhân văn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới".
Tại đây, khoa học xã hội và nhân văn được xác định có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với các lĩnh vực khoa học khác, là một trụ cột quan trọng của nền khoa học quốc gia. Công nghệ có thể phát triển rất nhanh, nhưng nếu thiếu nền tảng xã hội ổn định và hệ giá trị bền vững, sự phát triển đó khó có thể lâu dài. Từ đó, khoa học xã hội và nhân văn không thể chỉ "đi sau" để lý giải thực tiễn, mà cần "đi trước một bước" để định hình tương lai. Điều này đòi hỏi phải tích hợp khoa học xã hội và nhân văn vào mọi chiến lược phát triển, đồng thời chú trọng các yếu tố đạo đức, văn hóa và pháp lý trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Với vai trò quan trọng đó, cơ hội nghề nghiệp khối ngành xã hội nhân văn và sư phạm ra sao? Những yếu tố nào cần thiết trong chọn ngành khoa học xã hội, nhân văn và sư phạm cùng với cơ hội nghề nghiệp của khối ngành này trong bối cảnh công nghệ phát triển? Năm nay, các trường ĐH đang đào tạo những ngành học nào thuộc khối xã hội nhân văn và sư phạm, chỉ tiêu, phương thức xét tuyển, tổ hợp môn ra sao?
Thông tin sẽ có trong chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến chiều 7.4. Chương trình diễn ra từ 14-15 giờ 10, gồm các chuyên gia:
Bạn đọc quan tâm tới việc chọn ngành học khối ngành khoa học xã hội nhân văn và sư phạm, có thể đặt câu hỏi để tương tác với chuyên gia chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến 2026 tại các địa chỉ trên.
Tại dự thảo Nghị định về tự chủ, cơ chế tài chính giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nhiều cơ chế đặc thù nhằm phát triển đội ngũ nhân lực trình độ cao cho các lĩnh vực chiến lược.
Theo dự thảo, chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ GD&ĐT cho rằng cần có chính sách đột phá để “khai thông điểm nghẽn lớn về nguồn lực” cho phát triển giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học công nghệ. Hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giáo dục đòi hỏi nguồn lực ổn định, lâu dài, bao gồm cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
Vì vậy, cần có nguồn ngân sách riêng để bảo đảm tính liên tục, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào các nguồn kinh phí ngắn hạn.
Đồng thời, theo cơ quan soạn thảo, cần thiết phải có quy định của Nhà nước thực hiện chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian nhằm bảo đảm cung cấp học bổng và hỗ trợ chi phí sinh hoạt đủ để nghiên cứu sinh yên tâm học tập và nghiên cứu, không phải tự trang trải chi phí.
Cụ thể, dự thảo đề xuất nghiên cứu sinh thuộc chương trình được miễn học phí và được ngân sách nhà nước hỗ trợ tham gia hội thảo, trao đổi nghiên cứu tại các viện nghiên cứu, trường đại học uy tín trên thế giới cùng các khoản hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ.
Chương trình áp dụng với nghiên cứu sinh trúng tuyển các chương trình đào tạo tiến sĩ tại cơ sở giáo dục đại học trong nước, thuộc nhóm ngành, lĩnh vực nằm trong chương trình trọng điểm quốc gia do Thủ tướng quyết định.
Ngoài ra, đối tượng còn bao gồm nghiên cứu sinh theo học tại các cơ sở giáo dục đại học triển khai các đề án phát triển cơ sở giáo dục trọng điểm, nhóm đại học hướng tới top đầu châu Á.
Dự thảo quy định chương trình chỉ áp dụng với hình thức đào tạo chính quy, tập trung toàn thời gian.
Bộ GD&ĐT cũng đề xuất việc hỗ trợ được thực hiện trực tiếp cho nghiên cứu sinh, gắn với quá trình học tập, nghiên cứu và kết quả đào tạo, bảo đảm công khai, minh bạch, tránh chồng chéo với các chính sách hỗ trợ khác từ ngân sách nhà nước.
Theo dự thảo, nghiên cứu sinh tham gia chương trình sẽ thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu và các nhiệm vụ chuyên môn theo phân công của cơ sở đào tạo. Tổng khối lượng hỗ trợ giảng dạy không quá 300 giờ hành chính mỗi năm.
Đối với nghiên cứu sinh là giảng viên của chính cơ sở đào tạo, dự thảo yêu cầu không đảm nhiệm vượt định mức giảng dạy của giảng viên cơ hữu.
Cơ quan soạn thảo kỳ vọng các chính sách mới sẽ tạo chuyển biến trong cơ chế tài chính, đầu tư cho giáo dục đại học, thúc đẩy đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.