Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 168, cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm trong những quý còn lại nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương được giao tiếp tục triển khai các chỉ đạo của cấp có thẩm quyền liên quan đến cuộc điều tra theo Mục 301 của Mỹ và đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng công bằng, cân bằng với Mỹ.
Bộ cũng có trách nhiệm chủ động chuẩn bị đầy đủ thông tin, số liệu, phối hợp với các đối tác để làm rõ tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam; đồng thời đẩy mạnh xúc tiến thương mại theo từng ngành hàng, thị trường và địa bàn trọng điểm.
Cùng với đó là hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế quan, quy tắc xuất xứ, mở rộng thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả các FTA, nhất là các FTA thế hệ mới, đồng thời xây dựng chiến lược xuất khẩu chủ động vào các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ.
Bên cạnh đó, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp xây dựng cơ chế cung cấp thông tin thị trường xuất nhập khẩu đầy đủ, thống nhất và cập nhật, đồng thời tăng cường cảnh báo sớm về các rào cản kỹ thuật và biện pháp phòng vệ thương mại.
Cơ quan này cũng được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan theo dõi sát diễn biến thương mại quốc tế và tình hình xuất nhập khẩu để kịp thời có giải pháp thúc đẩy xuất khẩu, xử lý tình trạng nhập siêu, bảo đảm cán cân thương mại bền vững, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Bộ Công Thương cũng được giao phối hợp với các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng rà soát, xác định các ngành, lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu và linh kiện có khả năng nội địa hóa theo lộ trình.
Trên cơ sở đó, xây dựng các giải pháp, chính sách cụ thể theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, gắn với kết quả đầu ra nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và từng bước giảm nhập siêu.
Trong lĩnh vực năng lượng, Bộ Công Thương được giao bảo đảm nguồn cung xăng dầu trong nước, điều hành giá xăng dầu và thực hiện hiệu quả việc chi tạm ứng từ ngân sách Nhà nước cho Quỹ bình ổn xăng dầu.
Đồng thời, phối hợp với các địa phương, tập đoàn và doanh nghiệp triển khai hiệu quả Quy hoạch điện 8 điều chỉnh; theo dõi sát tiến độ các dự án nguồn điện, lưới điện trọng điểm để kịp thời tháo gỡ vướng mắc, đưa các dự án vào vận hành đúng tiến độ.
Bộ cũng phải tập trung triển khai các giải pháp sử dụng điện tiết kiệm, phấn đấu tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026.
Cùng với đó là thường xuyên rà soát, dự báo và cập nhật các kịch bản vận hành hệ thống điện quốc gia, chủ động ứng phó với các tình huống bất lợi như nắng nóng kéo dài, sự cố các tổ máy phát điện lớn hoặc hệ thống truyền tải điện, đồng thời chuẩn bị phương án nhập khẩu điện, bảo đảm không để thiếu điện cho sản xuất trong mọi tình huống.
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 25 sửa đổi, bổ sung một số quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/7.
Theo đó, tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn chính thức được nâng từ 30% lên 40%.
Trước đó, nhằm hạn chế rủi ro mất cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và cho vay, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước giảm tỷ lệ này từ 40% xuống 37%, tiếp tục về 34% và áp dụng mức 30% kể từ ngày 1/10/2023. Với quy định mới, tỷ lệ được đưa trở lại mức 40%, tương đương giai đoạn 2020-2021.
Đây là một trong những tỷ lệ quan trọng phản ánh mức độ chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và tài sản sinh lời của ngân hàng. Trần tỷ lệ càng cao đồng nghĩa với việc ngân hàng sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay có thời hạn dài, qua đó gia tăng khả năng mở rộng tín dụng trung và dài hạn.
Ngân hàng Nhà nước cho biết thay đổi này nhằm thực hiện chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội và đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030, với mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng 2 chữ số gắn với ổn định kinh tế vĩ mô.
Bên cạnh đó, Thông tư 25 cũng sửa đổi quy định về cách xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR). Theo đó, tiếp tục loại trừ tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng và tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khỏi tổng tiền gửi dùng để tính LDR.
Riêng tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng được tính 80% số dư hoặc một tỷ lệ khác theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ.
Trước thời điểm xăng E10 được triển khai toàn quốc từ 1/6, Bộ Công Thương đã công bố 85 câu hỏi và giải đáp hàng loạt băn khoăn, thắc mắc của người dân khi sử dụng xăng sinh học E10.
Trách nhiệm thuộc về ai nếu xe hỏng?
Trong đó, đối với câu hỏi về trách nhiệm khi phương tiện bị hỏng do sử dụng xăng E10, Bộ Công Thương cho biết nếu có đủ bằng chứng chứng minh nguyên nhân xuất phát từ chất lượng xăng E10 thì đơn vị cung cấp nhiên liệu phải chịu trách nhiệm trước tiên.
Bên cạnh đó, cơ quan này khẳng định các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xăng dầu cũng có trách nhiệm theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Đối với câu hỏi người dân cần làm gì nếu phát hiện nhiên liệu có dấu hiệu bất thường, Bộ Công Thương khuyến cáo người dân ngừng sử dụng ngay nếu nghi ngờ chất lượng nhiên liệu không bảo đảm.
Đồng thời, người sử dụng cần phản ánh tới cơ quan chức năng hoặc đơn vị cung cấp nhiên liệu. Bên cạnh đó, phương tiện nên được đưa tới các cơ sở kỹ thuật, bảo dưỡng uy tín để kiểm tra và xác định nguyên nhân.
Về câu hỏi tại sao không duy trì song song xăng khoáng và xăng sinh học, Bộ Công Thương cho biết việc không duy trì song song xăng khoáng và xăng sinh học nhằm thực hiện mục tiêu chuyển đổi xanh, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, đồng thời góp phần nâng cao tính tự chủ và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Trả lời câu hỏi về việc đã nghiên cứu kỹ tác động của xăng E10 tới động cơ hay chưa, cơ quan này cho biết đã tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm trong nước, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và tham vấn các chuyên gia trước khi ban hành lộ trình triển khai.
Về việc xăng E10 có sử dụng cho máy phát điện và tàu thuyền nhỏ hay không, Bộ Công Thương cho biết loại nhiên liệu này có thể sử dụng đối với các máy móc, phương tiện được sản xuất trong những năm gần đây.
Tuy nhiên, người dùng nên kiểm tra hướng dẫn của nhà sản xuất, đồng thời tránh để nhiên liệu tồn lưu quá lâu trong máy và cần bảo đảm bình chứa luôn được đậy kín.
Vì sao xe chạy "không bốc" khi sử dụng xăng E10?
Về phản ánh xe chạy "không bốc" khi sử dụng xăng E10, Bộ Công Thương cho rằng nguyên nhân có thể xuất phát từ cặn bẩn trong hệ thống nhiên liệu hoặc việc bảo dưỡng phương tiện chưa đầy đủ.
Khi ethanol hòa tan và cuốn theo các cặn bẩn tích tụ lâu ngày, đường dẫn nhiên liệu có thể bị ảnh hưởng, làm giảm lượng nhiên liệu cấp vào động cơ và ảnh hưởng đến khả năng vận hành của xe.
Đối với trường hợp đổ nhầm xăng E10 cho các dòng xe cũ không tương thích, cơ quan này cho biết trong đa số trường hợp sẽ không gây ra sự cố ngay lập tức.
Về câu hỏi xe máy, ô tô và động cơ xăng nào có thể sử dụng xăng E10, Bộ Công Thương cho biết hầu hết phương tiện đang lưu hành tại Việt Nam đều có thể sử dụng loại nhiên liệu này.
Ngoại lệ gồm một dòng xe tải hạng nhẹ sản xuất giai đoạn 1996-2023 hiện đã ngừng sản xuất và một số ít xe máy đời cũ của Suzuki chưa được khẳng định tương thích với E10. Các động cơ chạy xăng như máy cắt cỏ, máy bơm nước, máy thổi lá hay máy nông nghiệp sản xuất trong những năm gần đây cũng tương thích với xăng E10.
Đối với câu hỏi phương tiện nào nên sử dụng xăng E5, Bộ Công Thương cho rằng các ô tô, xe máy, máy cắt cỏ, máy bơm nước, máy thổi lá, máy nông nghiệp và các động cơ chạy xăng đã quá cũ, chưa được khẳng định tương thích với E10 nên tiếp tục sử dụng xăng E5.
Về việc có nên tự tách hoặc “lọc bỏ” ethanol khỏi xăng E10 hay không, Bộ Công Thương khẳng định không nên thực hiện. Theo cơ quan này, việc làm trên không chỉ vi phạm quy định pháp luật mà còn làm giảm chất lượng nhiên liệu, tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ và có thể gây hư hỏng động cơ.
Giá bạc đã trải qua giai đoạn tăng trưởng mạnh kể từ cuối năm 2025. Từ mức 47 USD/ounce vào đầu tháng 10/2025, giá bạc liên tục bứt phá, lần đầu tiên vượt ngưỡng 100 USD/ounce trong lịch sử trước khi đạt đỉnh 116 USD/ounce vào tháng 1/2026.
Tuy nhiên, đà tăng này không duy trì được lâu. Bạc liên tục giảm mạnh nhiều tuần, có lúc tiến sát vùng 70 USD/ounce, trước khi hồi phục trở lại mức 75 USD như hiện tại.
Theo các chuyên gia, nhiều yếu tố đang gây áp lực lên thị trường kim loại quý. Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông khiến giá năng lượng tăng cao, thu hút một phần dòng tiền đầu tư rời khỏi vàng và bạc. Bên cạnh đó, triển vọng lãi suất duy trì ở mức cao của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng làm giảm sức hấp dẫn của các tài sản không sinh lãi như vàng và bạc so với trái phiếu hoặc các sản phẩm tiết kiệm.
Dù vậy, xét trong dài hạn, triển vọng kim loại quý này vẫn được đánh giá tích cực.
Ông Deric Ned - nhà sáng lập kiêm Giám đốc điều hành Ridgemont Metals - nhận định, giá bạc có thể dao động trong khoảng 72-88 USD/ounce trong tháng 6, với kịch bản phổ biến nhất là từ 80-85 USD/ounce.
Theo ông Ned, nếu căng thẳng liên quan đến Iran hạ nhiệt và đồng USD suy yếu, giá bạc hoàn toàn có thể phục hồi về vùng 90 USD/ounce. Ngược lại, nếu nhu cầu công nghiệp tiếp tục suy giảm và Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt, giá bạc có thể lùi về vùng 70 USD/ounce. Vị chuyên gia này cho rằng nhu cầu bạc trong lĩnh vực năng lượng mặt trời và trí tuệ nhân tạo vẫn là động lực quan trọng hỗ trợ thị trường trong dài hạn.
Đồng quan điểm, ông Brett Elliott - Giám đốc tiếp thị của APMEX - cho rằng giá bạc trong thời gian tới có thể dao động trong khoảng 60-100 USD/ounce.
Theo ông Elliott, thị trường bạc hiện chịu tác động từ hai lực kéo trái chiều. Một mặt, nhu cầu đầu tư suy giảm đang tạo áp lực giảm giá. Mặt khác, nguồn cung bạc toàn cầu vẫn trong tình trạng thiếu hụt, qua đó tiếp tục hỗ trợ giá kim loại quý này.
"Thiếu hụt nguồn cung dù đã thu hẹp nhưng vẫn là thiếu hụt. Lượng dự trữ bạc hiện nay thấp hơn đáng kể so với trước đây và đây vẫn là yếu tố quan trọng hỗ trợ giá trong dài hạn" - ông Elliott nhận định.
Trong nước, bạc cũng hồi phục nhẹ, giá đang ở mức hơn 76,293 triệu đồng/thỏi (mua vào) và 78,64 triệu đồng/thỏi (bán ra).