Đánh giá về sự kiện lịch sử này, ông David Jackson, Tổng giám đốc Avison Young Việt Nam, cho rằng tư duy phát triển của TP.HCM đang chuyển dịch rõ rệt. Thay vì tiếp tục đầu tư các dự án riêng lẻ, TP đang hướng đến việc hình thành một mạng lưới liên kết vùng đồng bộ. Ý nghĩa của sự chuyển đổi này không nằm ở số lượng công trình được triển khai, mà ở cách hạ tầng giao thông, mở rộng đô thị và kết nối vùng đang được tích hợp trong một chiến lược tổng thể. Chính quyền và các chủ đầu tư cũng đang phối hợp chặt chẽ hơn nhằm đồng bộ hóa hạ tầng với các khu đô thị mới, trung tâm thương mại và các dịch vụ hỗ trợ. Khi quá trình này được thực hiện hiệu quả, giá trị tạo ra sẽ vượt xa tổng giá trị riêng lẻ của hạ tầng và bất động sản. Trong đầu tư, đây là hiệu ứng giá trị cộng hưởng.
“Khi các dự án hạ tầng trọng điểm dần hoàn thiện, áp lực lên khu trung tâm cũng từng bước hạ nhiệt, đồng thời tạo cơ hội cho các khu vực ngoại vi và vùng phụ cận vươn lên, trở thành những mắt xích quan trọng trong dòng chảy kinh tế của thành phố”, ông David Jackson cho hay.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, việc TP.HCM đồng loạt khởi công hàng loạt dự án tỉ USD được xem là một trong những động thái đầu tư hạ tầng quy mô lớn nhất của TP trong nhiều năm trở lại đây. Không chỉ mang ý nghĩa về mặt xây dựng, các dự án này còn được kỳ vọng tạo cú hích mới cho tăng trưởng kinh tế, mở rộng không gian phát triển và nâng sức cạnh tranh của đầu tàu kinh tế cả nước. Tác động đầu tiên dễ thấy nhất là khi hàng loạt dự án lớn được triển khai sẽ giúp nhu cầu về vật liệu, vận tải, tư vấn thiết kế, cơ khí, lao động, tài chính và dịch vụ hỗ trợ tăng mạnh. Một lượng vốn rất lớn được bơm vào nền kinh tế sẽ góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và kéo theo sức mua trên thị trường. Điều này đóng vai trò như “đòn bẩy” quan trọng cho nền kinh tế đô thị.
Đặc biệt khi các công trình giao thông, cảng biển và các tuyến kết nối mới được triển khai, TP sẽ có thêm cơ hội giảm áp lực cho khu vực nội đô, đồng thời rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa và kết nối nhanh hơn với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Đây là yếu tố rất quan trọng để doanh nghiệp giảm chi phí, tăng hiệu quả sản xuất và nâng sức cạnh tranh; đồng thời sẽ góp phần thu hút đầu tư tư nhân và vốn nước ngoài. Bởi trong mắt nhà đầu tư, hạ tầng luôn là điều kiện nền tảng để quyết định mở rộng sản xuất, đặt trung tâm logistics hay phát triển dự án mới. Một TP có mạng lưới giao thông tốt, kết nối vùng thuận lợi và quỹ đất phát triển mới dồi dào sẽ có sức hấp dẫn lớn hơn nhiều so với một đô thị bị kẹt trong chính những điểm nghẽn hạ tầng của mình.
TS Phạm Viết Thuận dẫn chứng, dự án đường vượt biển kết nối khu vực Cần Giờ – Vũng Tàu khi hoàn thành sẽ giúp khai thông tuyến hàng hải giữa các cảng Sao Mai – Bến Đình, Long Sơn và Cái Mép – Thị Vải. Lợi ích trước mắt là tăng hiệu quả logistics và năng lực kết nối chuỗi cung ứng, nhưng nhìn rộng hơn sẽ trở thành mắt xích quan trọng trong chiến lược thúc đẩy kinh tế biển và mở rộng không gian tăng trưởng của TP.HCM trong nhiều năm tới.
Ông David Jackson đánh giá, việc cải thiện tính kết nối và khả năng tiếp cận cũng góp phần thúc đẩy tăng giá trị đất đai và bất động sản theo thời gian, nhất là những nơi trước đây bị hạn chế bởi thời gian di chuyển hoặc thiếu hụt hạ tầng. Lịch sử phát triển đô thị trên thế giới cho thấy giá trị lớn nhất thường được tạo ra tại những nơi hạ tầng giao thông, quy hoạch đô thị và dòng vốn đầu tư tư nhân cùng hội tụ. Một khi các dự án hạ tầng hoàn thiện, các khu vực vốn được xem là “cô lập” có thể hồi sinh một cách tích cực. Từ đó mở ra cơ hội hình thành các cực tăng trưởng mới với những lợi thế khác biệt so với khu trung tâm truyền thống (CBD): không gian rộng hơn, nhà ở hiện đại hơn, các khu đô thị tích hợp, nhiều diện tích cho mảng xanh, nhiều tiện ích giải trí hơn và nói chung là môi trường sống chất lượng hơn.
Khi tính kết nối cải thiện, người dân không nhất thiết phải về khu trung tâm chỉ vì yếu tố thuận tiện. Sự dịch chuyển này kéo theo thay đổi về phân bổ dân cư, thu hút dòng vốn đầu tư mới và tạo ra các thị trường bất động sản hoàn toàn mới. Những khu vực bứt phá mạnh nhất sẽ là nơi tích hợp được 3 yếu tố: kết nối thuận tiện, hệ sinh thái dịch vụ hoàn chỉnh, và các cơ hội việc làm thực chất. TP.HCM đang mở rộng theo các hành lang tăng trưởng mới, nơi hạ tầng giao thông làm nền tảng dẫn dắt dòng vốn, việc làm và dân cư.
Hành lang phía đông, đi qua TP.Thủ Đức cũ hướng về Long Thành (TP.Đồng Nai) hiện là khu vực phát triển năng động và có mức độ thương mại hóa cao nhất. Sự hiện diện của các ngành công nghệ, giáo dục, các khu đô thị quy mô lớn cùng lợi thế kết nối với sân bay quốc tế Long Thành đang đưa khu vực này thành cửa ngõ về đổi mới sáng tạo và giao thương quốc tế quan trọng nhất của TP.HCM.
Trong khi đó, về phía tây và tây bắc, gồm khu vực Bình Chánh, Hóc Môn và Củ Chi cũ, sẽ đảm nhận vai trò khác nhưng không kém phần quan trọng. Triển vọng phát triển khu vực này sẽ gồm logistics, sản xuất công nghiệp, tạo việc làm và nhà ở giá hợp lý với quy mô lớn, đồng thời củng cố vai trò kết nối của TP.HCM với toàn bộ vùng kinh tế trọng điểm phía nam.
Ở phía nam và đông nam, Nhà Bè và Cần Giờ cũ vẫn còn dư địa tăng trưởng đáng kể. Khi đường sá được nâng cấp và tuyến metro tương lai hình thành, khu vực này có tiềm năng phát triển thành điểm đến ven biển quy mô lớn dựa trên du lịch, văn hóa, giải trí và kinh tế biển. Đặc biệt, Cần Giờ có thể mang đến cho TP.HCM một giá trị còn thiếu suốt nhiều thập niên: một điểm đến nghỉ dưỡng và giải trí ven biển đẳng cấp.
“Hạ tầng có thể mở khóa tiềm năng một khu vực, nhưng không tự động tạo ra nhu cầu, cộng đồng cư dân hay giá trị bền vững. Thị trường sẽ ngày càng phân hóa rõ rệt giữa những dự án chỉ hưởng lợi từ hạ tầng và những dự án được phát triển đồng bộ, nghĩa là tích hợp việc làm, nhà ở, du lịch, giáo dục, y tế, bán lẻ và các tiện ích giải trí. Hạ tầng tạo ra khả năng kết nối; hệ sinh thái tạo ra điểm đến và chính những điểm đến đó mới tạo ra giá trị bền vững”, ông David Jackson nhận định.
Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt trên 930 tỉ USD, xuất siêu trên 20 tỉ USD. Nhưng từ đầu năm 2026 đến nay, nhập siêu liên tục tăng, tính đến ngày 15.6 đã đạt 16,8 tỉ USD. Sự đảo chiều này khiến không ít người bất ngờ. Tuy nhiên, khi phân tích sâu các số liệu thì bức tranh xuất nhập khẩu không quá phải lo lắng.
Đầu tiên, nhập siêu đã chậm lại khi nhập khẩu giảm tốc, còn xuất khẩu bắt đầu tăng tốc. Cụ thể, trong 15 ngày đầu tháng 6, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 51 tỉ USD. Trong đó, nhập khẩu đạt 26,98 tỉ USD, tăng trên 1%, so với kỳ 1 của tháng 5; ngược lại xuất khẩu đạt khoảng 24,21 tỉ USD, tăng 15,2%. Theo Cục Hải quan, nếu những tháng đầu năm nay nhập siêu tăng mạnh thì gần đây xuất khẩu lại chiếm ưu thế. Các số liệu cho thấy cả hai chiều thương mại cùng mở rộng nhưng tốc độ không đồng đều. Nguyên nhân do diễn biến thị trường thế giới có nhiều biến động. Sự tăng trưởng của nhập khẩu không chỉ phản ánh sự mở rộng về quy mô mà còn cho thấy độ lan tỏa của tăng trưởng đã cải thiện, khi động lực không còn tập trung vào một vài nhóm hàng đơn lẻ mà đã mở rộng sang nhiều ngành.
Thứ hai, xuất khẩu nhiều nhóm ngành trong nửa đầu tháng 6 tăng mạnh trở lại. Cụ thể như nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với kim ngạch đạt 7,3 tỉ USD, tăng 21%; điện thoại và linh kiện đạt 2,6 tỉ USD, tăng 21%; máy móc thiết bị cũng đạt gần 2,9 tỉ USD, tăng 12,5%, dây điện và cáp điện tăng 19%, hàng điện gia dụng tăng gần 20%. Điều này cho thấy chu kỳ sản xuất không chỉ phục hồi ở các ngành lõi mà còn lan tỏa sang các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, thiết bị và hàng gia dụng. Đáng chú ý, xuất khẩu dệt may đạt khoảng 1,74 tỉ USD, tăng 25% và giày dép đạt 1,1 tỉ USD, tăng 5,2%. Đây là những tín hiệu tích cực, phản ánh chu kỳ sản xuất đang được kích hoạt đồng bộ hơn.
GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (ĐH Kinh tế TP.HCM), nhận xét: Con số 17 tỉ USD nhập siêu trong chưa đầy 6 tháng, mới nghe qua sẽ bất ngờ; nhưng nếu xem chi tiết số liệu sẽ thấy điều đó phản ánh thực tế thị trường quốc tế và xu hướng chuẩn bị nguyên vật liệu để tăng tốc xuất khẩu cho các tháng cuối năm. Đầu tiên, nhập siêu tăng mạnh một phần do căng thẳng chiến sự ở Trung Đông khiến giá dầu tăng cao, đẩy chi phí logistics tăng theo và hệ quả dồn lên giá hàng hóa. Số liệu cho thấy nhập khẩu xăng tăng, do Việt Nam chuyển sang dùng xăng sinh học khiến nhập khẩu ethanol và cả nguyên liệu sản xuất ethanol đều tăng. Trong đó, nhập khẩu xăng dầu tăng gần 59%, khí đốt hóa lỏng tăng gần 89%; ethanol tăng hơn 213%.
"Một phần nhập siêu thời gian qua mang tính thời vụ. Trong đó, nhập khẩu tăng mạnh chủ yếu nằm ở khối các doanh nghiệp FDI. Khối này tăng nhập khẩu máy móc thiết bị, linh kiện để gia công xuất khẩu. Khối doanh nghiệp Việt Nam tuy nhập khẩu tăng nhưng xuất khẩu cũng tăng và giữ được sự cân bằng khá tốt. Đó là chưa kể những lĩnh vực thế mạnh như nông sản vẫn duy trì đà xuất siêu khá tốt", GS Võ Xuân Vinh phân tích và nhấn mạnh, với những cơ sở đó, con số 17 tỉ USD trong 6 tháng qua cũng không phải là quá lớn, nhất là trong bối cảnh Việt Nam hướng đến tổng kim ngạch thương mại 1.000 tỉ USD.
Từ thực tế hoạt động sản xuất, ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP May Sài Gòn 3, chia sẻ: Mọi thứ vẫn còn nhiều khó khăn khi chi phí đầu vào tăng cao từ nguyên liệu đến lương công nhân. Các chủ doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động như dệt may đang chịu áp lực giữ chân người lao động. Tuy nhiên theo ông Hồng, may mắn là giai đoạn hiện nay đầu ra vẫn khá lạc quan. Trong 3 thị trường lớn nhất của dệt may Việt Nam là Mỹ, EU và Nhật Bản thì tại thị trường Mỹ nhu cầu mua sắm quần áo mới đã khởi sắc trở lại sau một thời gian người tiêu dùng thắt lưng buộc bụng. Với xu hướng căng thẳng quân sự ở Trung Đông và Nga - Ukraine đang dịu đi, các doanh nghiệp đang hy vọng các thị trường quan trọng khác là EU và Nhật cũng sẽ sớm khởi sắc trở lại. Ngoài ra, ngành dệt may cũng đang mở rộng xuất khẩu sang các thị trường mới.
"Với xu hướng lạc quan như hiện nay, khả năng May Sài Gòn 3 và các doanh nghiệp trong ngành có thể đạt tốc độ tăng trưởng trên 10% trong năm nay. Nếu không có những biến động vừa qua, sức tăng trưởng có thể lên tới 20 - 30%", ông Phạm Xuân Hồng nhận định.
Tương tự với ngành chế biến gỗ, trong 5 tháng qua nhập khẩu đạt gần 1,5 tỉ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, nhập khẩu từ thị trường Mỹ tăng mạnh nhất, tới 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước và chiếm thị phần 22%. Một số doanh nghiệp ngành chế biến gỗ cho biết, giai đoạn đầu năm thường là mùa thấp điểm, nhưng trong 5 tháng qua xuất khẩu đạt 7,1 tỉ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là dấu hiệu tích cực cho 6 tháng cao điểm cuối năm. Đáng chú ý, xuất khẩu thuận lợi nhờ nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Mỹ tăng mạnh. Việc này vừa giải quyết các yếu tố về nguồn gốc xuất xứ, đồng thời giúp cân bằng thương mại giữa hai nước. Nhờ tăng nhập nguyên liệu từ Mỹ nên các đơn hàng từ thị trường này cũng tăng. Năm 2025, xuất khẩu gỗ đạt giá trị trên 17 tỉ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước; Mỹ là thị trường quan trọng nhất với thị phần chiếm đến 55%.
GS Võ Xuân Vinh nhấn mạnh: Khi tăng nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc để mở rộng chuỗi sản xuất kinh doanh sẽ mang lại doanh thu cho doanh nghiệp, nâng cao thu nhập cho người lao động và quay trở lại với nền kinh tế. Một yếu tố đáng chú ý khác là nhập khẩu từ thị trường Mỹ cũng tăng mạnh. Đây là giải pháp của các doanh nghiệp về một tương lai bền vững hơn cho hàng hóa Việt Nam ở thị trường quan trọng này và cũng thể hiện sự hợp tác tích cực, hiệu quả của chính phủ hai nước.
Chiều 23/6, Hội đồng Tiền lương quốc gia đã tổ chức phiên họp thứ nhất để bàn về mức lương tối thiểu vùng năm 2027. Tại phiên họp này, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chính thức đề xuất hai phương án điều chỉnh lương tối thiểu vùng, còn đại diện Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đưa ra đề xuất về thời điểm tăng lương và mức tăng cần cân bằng lợi ích giữa người lao động và doanh nghiệp.
Phương án thứ nhất, tổ chức công đoàn đề xuất tăng lương tối thiểu vùng từ 360.000 đến 520.000 đồng/tháng, tương ứng mức tăng bình quân 9,8% so với năm 2026.
Phương án thứ hai, đề xuất tăng từ 315.000 đến 450.000 đồng/tháng, tương ứng mức tăng bình quân 8,5%.
Đối với lương tối thiểu theo giờ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đề nghị Hội đồng Tiền lương quốc gia xác định mức lương dựa trên quy đổi từ lương tối thiểu tháng và áp dụng hệ số điều chỉnh phù hợp.
Đề xuất trên được xây dựng từ kết quả khảo sát thực hiện trong tháng 3 và 4/2026 tại 7 tỉnh, thành phố, với 196 doanh nghiệp và gần 2.000 người lao động tham gia.
Kết quả khảo sát cho thấy, thu nhập hiện tại của 54,3% người lao động chỉ vừa đủ đáp ứng các chi tiêu cơ bản của gia đình. Có 20,6% cho biết không đủ sống và phải làm thêm giờ để trang trải cuộc sống.
26,8% người được khảo sát phải vay mượn tiền hàng tháng để ổn định cuộc sống, cao hơn nhiều so với mức 12,5% của năm 2025.
Về dinh dưỡng, chỉ 52,2% người lao động có điều kiện ăn đủ thịt, cá trong tất cả các bữa ăn chính. Chi phí giáo dục cũng tạo áp lực lớn khi hơn 55,5% người lao động cho biết, tiền lương chỉ đáp ứng một phần nhu cầu học tập của con cái.
Đối với chăm sóc sức khỏe, thu nhập của 46,1% người lao động chỉ đủ mua một số loại thuốc cơ bản. Phần lớn người lao động chưa có điều kiện chủ động chăm sóc sức khỏe toàn diện khi phát sinh bệnh tật nghiêm trọng hoặc điều trị dài hạn.
32,1% người lao động đang thuê nhà trọ tư nhân. Diện tích nhà ở bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 7,6m 2 , thấp hơn đáng kể so với tiêu chuẩn diện tích nhà ở đô thị hiện nay.
Có 55,3% người chưa kết hôn vì cho rằng tiền lương là nguyên nhân chính tác động đến quyết định lập gia đình. Trong khi đó, 72,9% người lao động đã có gia đình cho biết, thu nhập hiện tại ảnh hưởng đến quyết định sinh thêm con.
Những nội dung đang được trình bày tại phiên họp bao gồm các điều kiện cần thiết để thống nhất điều chỉnh tiền lương tối thiểu ở mức độ phù hợp. Mục tiêu cuối cùng là duy trì sản xuất, bảo vệ doanh nghiệp, giữ chân lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng 2 con số của nền kinh tế.
Trường hợp 1: xác nhận điều kiện về nhà ở để được mua, thuê mua nhà ở xã hội/nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân (trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình). Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận tại tỉnh, thành phố nơi có dự án nhà ở xã hội.
Trường hợp 2: Xác nhận điều kiện về thu nhập để được mua, thuê mua nhà ở xã hội (áp dụng cho đối tượng quy định tại khoản 5 điều 76 của luật Nhà ở không có hợp đồng lao động, không được hưởng lương hưu do cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả). Cơ quan Công an xã cấp xác nhận.
Các mẫu giấy tờ xác nhận được ban hành kèm theo Quyết định số 651/QĐ-BXD.