Lịch sử lực lượng An ninh nhân dân ghi dấu nhiều chiến công xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Trong đó, vụ án số 7 Ôn Như Hầu năm 1946 mang ý nghĩa đặc biệt bởi đây là một trong những chiến công tiêu biểu của lực lượng an ninh cách mạng trong những ngày đầu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức. Trong bối cảnh ấy, các thế lực phản động trong và ngoài nước liên tục tiến hành nhiều hoạt động chống phá với âm mưu gây rối loạn xã hội, làm suy yếu và tiến tới lật đổ chính quyền cách mạng.
Việc phát hiện, đấu tranh làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng không chỉ góp phần bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám, mà còn khẳng định bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tinh thần cảnh giác cách mạng và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân của những chiến sĩ an ninh cách mạng đầu tiên.
Chính vì vậy, trong hành trình 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng An ninh nhân dân, vụ án số 7 Ôn Như Hầu luôn được nhắc đến như một biểu tượng của ý chí, bản lĩnh và trách nhiệm bảo vệ chính quyền cách mạng từ những ngày đầu lập nước.
Ngày 12.7.1946 đã trở thành mốc lịch sử vẻ vang của lực lượng an ninh, bởi ngày 24.5.2001, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định số 457/2001/QĐ-BCA (X01) công nhận ngày 12.7.1946 là Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân anh hùng.
Vụ án Ôn Như Hầu được khám phá vào ngày 12.7.1946 ở số 7 Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội). Lực lượng An ninh nhân dân đã đập tan âm mưu đảo chính phản cách mạng của Quốc dân đảng ở Hà Nội và các địa phương, phá thế liên kết giữa thế lực nội phản với giặc ngoại xâm, góp phần giữ vững chính quyền cách mạng.
Trước đó, tổ chức Quốc dân đảng liên tục chống phá, luôn có dã tâm lật đổ chính quyền cách mạng. Nhân cơ hội Hiệp ước Hoa – Pháp ký kết, quân Pháp thay chân quân Tưởng chiếm đóng Bắc bộ, các đối tượng đã xúc tiến kế hoạch đảo chính, thành lập chính quyền làm tay sai cho Pháp vào thời điểm đó.
Được quân Pháp giúp sức, Quốc dân đảng đã vạch kế hoạch triển khai. Cụ thể, tổ chức này lợi dụng quân Pháp tổ chức diễu binh mừng ngày Quốc khánh Pháp (14.7), khi đi qua Bắc bộ phủ sẽ ném lựu đạn để gây đổ máu. Với lý do này, Pháp sẽ đổ lỗi cho ta và bắt các thành viên Chính phủ, tuyên bố thành lập chính quyền mới của Quốc dân đảng. Tuy nhiên, các trinh sát chính trị đã theo dõi và bắt được một số đối tượng, qua đó khai thác và nắm được âm mưu đảo chính từ trước.
Đêm 11.7, lực lượng An ninh nhân dân nắm được các đối tượng đã in xong các loại truyền đơn, lời hiệu triệu, một số đã chuyển đi các tỉnh. Sáng sớm 12.7, các chân rết ở Hà Nội sẽ rút vào bí mật để thực hiện giai đoạn cuối cùng là lật đổ chính quyền cách mạng. Ngay sau đó, lãnh đạo Nha Công an (tiền thân của Bộ Công an hiện nay) và lãnh đạo Sở Công an Bắc bộ (hoạt động dưới sự chỉ đạo của Nha Công an) tiến hành 3 cuộc họp liên tục để bàn về kế sách trấn áp. Cuộc họp cuối cùng diễn ra vào 12 giờ đêm và thống nhất quyết định phải đột kích trụ sở quan trọng nhất của Quốc dân đảng ở số 132 phố Đuyvinhô (nay là phố Bùi Thị Xuân, Hà Nội) để thu chứng cứ trình Chính phủ, xin được mở cuộc trấn áp, nếu không sẽ không còn thời cơ.
Rạng sáng 12.7, một tiểu đội công an xung phong và trinh sát chính trị bất ngờ đột kích số 132 phố Đuyvinhô. Lúc này, 20 thành viên Quốc dân đảng đang nằm ngủ trên sàn nhà, cạnh những đống truyền đơn, tài liệu đã đóng gói. Cuộc đột kích thành công, lực lượng thu một xe tải tài liệu phản động cùng máy in, bắt toàn bộ các đối tượng. Lực lượng an ninh sau đó được lệnh cho phép mở cuộc trấn áp tất cả các trụ sở công khai và bí mật của Quốc dân đảng. Được nhân dân ủng hộ, giúp đỡ, trong ngày 12 – 13.7.1946, lực lượng chức năng khám xét 41 địa điểm của nhóm phản động, bắt hơn 300 đối tượng, trong đó có Phan Kích Nam là Bí thư Đệ nhất khu.
Bên cạnh đó, lực lượng an ninh còn mở cuộc triển lãm về tội ác của Quốc dân đảng tại số 7 Ôn Như Hầu. Hàng vạn người dân ở Hà Nội đã đến xem và nhận rõ bộ mặt giả hiệu của Quốc dân đảng. Từ đó, đồng bào càng tích cực giúp đỡ, tạo áp lực chính trị mạnh mẽ, khiến quân Pháp không dám can thiệp. Ngoài cuộc khám xét ở Hà Nội, Nha Công an chỉ đạo lực lượng công an các tỉnh đồng loạt mở chiến dịch tại Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Ninh Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam… Từ đó phá tan chính quyền Quốc dân đảng ở một số xã và củng cố chính quyền cách mạng.
Chiến công này đã đập tan âm mưu đảo chính, lật đổ chính quyền của Quốc dân đảng câu kết với Pháp, bảo vệ an toàn chính quyền cách mạng non trẻ, ghi dấu ấn trọng đại trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc. Góp phần đẩy lùi âm mưu của các thế lực nội phản; phá vỡ thế liên kết thù trong với giặc ngoài, tạo điều kiện để Chính phủ triển khai những chính sách mới, củng cố chính quyền cơ sở và nâng cao một bước đời sống vật chất, giác ngộ chính trị cho nhân dân.
Đánh giá về chiến công lịch sử này, Tổng Bí thư Trường Chinh từng viết trên Báo Sự thật số 45 ngày 19.7.1946, rằng cuộc trấn áp đã cắm một mốc quan trọng trên con đường thống nhất dân tộc, lột mặt nạ thế lực phản động giả danh quốc gia và biểu lộ sức mạnh, uy tín của chính quyền nhân dân. (còn tiếp)
Ngày 15/6, Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đà Nẵng cho biết đang phối hợp với các lực lượng chức năng tìm kiếm một du khách người Nga nghi mất tích tại khu vực bãi biển Viêm Đông, phường Điện Bàn Đông.
Theo thông tin ban đầu, tối 14/6, gia đình du khách gồm 3 người lưu trú tại một khách sạn trên tuyến đường ven biển thuộc khối phố Viêm Đông. Sau bữa tối, người bố cùng con gái ra bãi biển dạo mát, trong khi người mẹ ở lại phòng.
Trong lúc đi bộ, do trời tối, người bố đi phía sau bị khuất tầm nhìn, mất liên lạc với con gái. Sau khi tìm kiếm xung quanh nhưng không có kết quả, gia đình và cơ sở lưu trú đã trình báo cơ quan chức năng.
Gần 100 người đã được huy động tham gia tìm kiếm, gồm cán bộ, dân quân thường trực Ban Chỉ huy quân sự phường Điện Bàn Đông, công an, Đội Chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ khu vực số 7 cùng người dân địa phương. Các lực lượng đang khẩn trương rà soát dọc khu vực ven biển, mở rộng phạm vi tìm kiếm nạn nhân.
Ngày 23.6, Thanh tra Đà Nẵng cho biết đã ban hành kết luận thanh tra đối với dự án khu dân cư Bàu Mạc và Nam Bàu Mạc (phường Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng).
Theo kết luận, dự án khu dân cư Bàu Mạc có tổng diện tích hơn 76.000 m², được chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư thông qua đấu thầu dự án có sử dụng đất.
Dự án đã hoàn thành khoảng 91,5% khối lượng đầu tư xây dựng, hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất đai, được cấp 342/394 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã chuyển nhượng cho các tổ chức, cá nhân để xây dựng nhà ở.
Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn tồn tại nhiều vi phạm. Trong đó, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Đà Nẵng không thực hiện việc đăng tải danh sách nhà đầu tư đăng ký tham dự trên Báo Đấu Thầu theo quy định.
Đáng chú ý, tại thời điểm ban hành Quyết định số 7982 năm 2014, luật Đất đai 2013 chưa có quy định về đấu thầu dự án có sử dụng đất như luật Đất đai 2003, nhưng Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Đà Nẵng và Sở TN-MT vẫn tổ chức lựa chọn nhà đầu tư.
Ngoài ra, dự án chưa được cấp phép xây dựng theo quy định, trách nhiệm thuộc về UBND quận Liên Chiểu (cũ) và chủ đầu tư. Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bàn giao mặt bằng kéo dài, dẫn đến không đảm bảo tiến độ đầu tư theo hợp đồng 24 tháng, trách nhiệm thuộc Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Đà Nẵng và UBND quận Liên Chiểu (cũ).
Thanh tra Đà Nẵng đánh giá dự án cơ bản đáp ứng yêu cầu khi đã hoàn thành phần lớn khối lượng đầu tư, nhưng các sai sót trong thủ tục đấu thầu, giao đất, xác định giá đất và giải phóng mặt bằng đã gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Đối với dự án khu dân cư Nam Bàu Mạc (diện tích 29.355 m²), dự án cũng được chấp thuận chủ trương đầu tư thông qua đấu thầu dự án có sử dụng đất.
Đến nay, chủ đầu tư đã triển khai xây dựng đạt khoảng 68,92% khối lượng và thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo hợp đồng.
Tuy nhiên, kết luận thanh tra nêu rõ nhiều tồn tại. Trong đó, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Đà Nẵng chưa công bố danh sách nhà đầu tư quan tâm đến dự án theo quy định, dẫn đến quy trình đấu thầu chưa đảm bảo thủ tục.
Bên cạnh đó, Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm thẩm định hồ sơ mời thầu và kết quả đấu thầu. Sở NN-MT ký hợp đồng với Công ty CP Đầu tư Đà Nẵng - miền Trung có nội dung xác định giá trị tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách nhà nước chưa phù hợp quy định luật Đất đai 2013.
Đáng chú ý, đến ngày 1.4.2025, việc bàn giao mặt bằng lần cuối mới được hoàn tất, bị đánh giá là chậm trễ so với tiến độ yêu cầu.
Kết luận thanh tra cho thấy các sai phạm, tồn tại chủ yếu liên quan đến quy trình mời thầu, tổ chức đấu thầu, xác định giá đất, giao đất và giải phóng mặt bằng.
Thanh tra Đà Nẵng kiến nghị Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng chỉ đạo Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Đà Nẵng, Sở NN-MT, Sở Tài chính tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân có liên quan và báo cáo UBND thành phố xem xét, làm rõ trách nhiệm để xử lý những cá nhân thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý.
Ngoài ra, giao Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng tham mưu kiểm điểm, xử lý trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan qua các thời kỳ, căn cứ vào kết luận thanh tra và quy định pháp luật.
Ông Trương Văn Sa Tăng (59 tuổi, nguyên Chủ tịch Hội Nông dân P.Cam Phúc Bắc, TP.Cam Ranh (cũ), Khánh Hòa) là em họ của liệt sĩ Trần Văn Khôi, kể lại mẹ ông Tăng là bà Nguyễn Thị Nhơn (em gái mẹ ông Khôi), lấy chồng và sinh sống ở khu vực Mỹ Ca (Cam Ranh) từ trước năm 1975. Giữa năm 1975, trung úy Khôi cùng đơn vị ra đóng quân ở căn cứ Cam Ranh. Trong một lần về thăm quê Hoài Nhơn (Bình Định cũ), biết bà dì Nguyễn Thị Nhơn đang sống cách nơi mình đóng quân khoảng 20 km, ông Khôi đã cất công dò tìm và gặp được.
Từ thời điểm cuối năm 1975 - đầu tháng 3.1976 (trước khi ra đảo Sinh Tồn), trung úy Khôi thường xuyên đạp xe ra gia đình dì Nguyễn Thị Nhơn thăm chơi, ăn ở dịp cuối tuần, lễ tết. Thấy cháu vất vả, bà dì đã cho mượn chiếc xe gắn máy làm phương tiện đi lại và đây cũng là chiếc xe máy duy nhất có mặt tại doanh trại Tiểu đoàn 4 (Lữ đoàn Hải quân đánh bộ 126) ở căn cứ Cam Ranh lúc đó.
Khoảng 10 ngày trước khi xuống tàu ra đảo, trung úy Khôi ra nhà bà dì Nguyễn Thị Nhơn chào "con phải ra Trường Sa làm Chỉ huy trưởng đảo Sinh Tồn" và gửi lại chiếc xe gắn máy trả dì. Gần Tết âm lịch Đinh Tỵ 1977, một người bạn của ông Khôi thường đi cùng ra chơi, tìm gặp bà Nhơn thông báo tin dữ: "Anh Trần Văn Khôi đã chết ngoài đảo. Thông tin cụ thể đơn vị sẽ báo sau"…
"Năm 2010, trước khi nhắm mắt, mẹ tôi vẫn nhắc hỏi về anh Khôi", ông Trương Văn Sa Tăng nhớ lại và kể: Từ khi ông Trần Văn Hảo đi bộ đội về, cứ mấy năm lại từ Bình Định nhảy xe đò vào Mỹ Ca dò hỏi thông tin anh trai Trần Văn Khôi. Do căn cứ Cam Ranh được bảo vệ rất chặt, ông Hảo không thể qua cổng để vào Lữ đoàn 146 và Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân, nên phải bắt quen nhờ vả các cán bộ hải quân sinh sống xung quanh, tiện xe chở qua các cổng vệ binh.
Năm 2012, ông Hảo đã già yếu nhưng vẫn cố gắng ra Vùng 4 Hải quân, nhờ ông Tăng đưa vào gặp cán bộ chính sách Vùng 4 Hải quân, tiếp tục hỏi tin anh trai Trần Văn Khôi. Đơn vị cho xe chở 2 ông ra nghĩa trang liệt sĩ Cam Ranh (cũ), chỉ ngôi mộ ghi trên bia "Liệt sĩ Đỗ Văn Khôi, hy sinh 1976, đảo Sinh Tồn".
Ông Hảo thắc mắc: "Anh tôi họ Trần chứ không phải họ Đỗ. Nếu nhận phần mộ này thì làm cách nào biết đó là xương cốt anh trai tôi? Là liệt sĩ, sao đơn vị không báo tin cho gia đình và giấy tờ, chế độ liệt sĩ bao năm qua đang ở đâu?". Cán bộ chính sách Vùng 4 Hải quân xoa dịu: "Bác cứ về đi, rồi chúng tôi sẽ có cách giải quyết và báo tin đến tận nhà!". 14 năm đã trôi qua, ông Hảo và thân nhân liệt sĩ Trần Văn Khôi vẫn chưa nhận được thông tin cụ thể.
Theo danh sách "Liệt sĩ hy sinh vì hòa bình và ổn định tại Cam Ranh" (kèm theo Công văn số 10.234/CT-CS ngày 16.9.2009 của Cục Chính trị Hải quân), từ năm 1975 - 2009, chỉ có 1 liệt sĩ tên Khôi, hy sinh năm 1976. Thông tin cụ thể được ghi trong danh sách: Liệt sĩ Đỗ Văn Khôi, sinh năm 1954, nhập ngũ tháng 1.1972, hy sinh 1976, cấp bậc chức vụ: trung úy - đảo trưởng, đơn vị: Lữ 146, Vùng 4; quê quán: thành phố Quy Nhơn, Bình Định.
Với sự giúp đỡ rất nhiệt tình, trách nhiệm của Thủ trưởng Quân chủng Hải quân, Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân và Lữ đoàn 146 thuộc Vùng 4 Hải quân…, chúng tôi đã được tiếp cận các tài liệu lưu trữ để lấy thông tin về liệt sĩ Đỗ Văn Khôi.
Thậm chí, Chuẩn đô đốc (thiếu tướng) Nguyễn Đình Hùng, Phó tư lệnh Quân chủng Hải quân, đã trực tiếp yêu cầu ngành chính sách rà soát kiểm tra.
Ngày 2.6, đại tá Nguyễn Công Thắng, Phó chủ nhiệm Chính trị Hải quân, đã có văn bản báo cáo Chuẩn đô đốc Nguyễn Đình Hùng, cụ thể như sau: "Cục Chính trị rà soát Sổ đăng ký liệt sĩ công tác tại Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân. Kết quả như sau: Liệt sĩ Đỗ Văn Khôi, sinh năm 1951, quê quán: Quy Nhơn, Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai); nhập ngũ 1.3.1973; cấp bậc trung úy, đại đội trưởng; hy sinh ngày 29.5.1975. Hiện mộ phần được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ phường Cam Ranh (cũ), nay là phường Ba Ngòi. Số phần mộ 193 - Khu K8"…
Các thông tin này có nhiều điểm không trùng khớp với nhau (năm sinh, thời gian nhập ngũ - hy sinh…). Về thông tin thân nhân liệt sĩ, các cán bộ ngành chính sách Hải quân đã tìm kiếm rất kỹ, nhưng không có thông tin gia đình người thân.
Từ thông tin "quê quán: Quy Nhơn, Bình Định" của liệt sĩ Khôi, chúng tôi liên hệ với chị Nguyễn Thị Thanh Lịch, Phó chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, và được chị Lịch cùng các cán bộ Sở Nội vụ, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh giúp đỡ rất nhiệt thành.
"Trong hồ sơ lưu trữ của tỉnh Gia Lai mới và Bình Định cũ, không có thông tin về liệt sĩ Đỗ Văn Khôi, quê quán Quy Nhơn, Bình Định, hy sinh năm 1975 - 1976", ông Phan Đình Hòa, Phó giám đốc Sở Nội vụ Gia Lai, khẳng định.
Một cán bộ ngành Nội vụ cho biết: "Trên hệ thống quản lý dữ liệu liệt sĩ toàn quốc, không ghi nhận thông tin về liệt sĩ Đỗ Văn Khôi/Trần Văn Khôi/Trần Khôi, quê quán Bình Định, hy sinh trong thời gian 1975 - 1976" và nhận định: "Có thể khi làm hồ sơ công nhận liệt sĩ, cán bộ phụ trách đã dùng thông tin khác. Cũng có thể đối tượng chưa được công nhận liệt sĩ, nhưng vẫn tự đưa vào danh sách".
Đại tá Nguyễn Kiều Kinh, nguyên Trưởng phòng Chính sách Quân chủng Hải quân, chia sẻ với chúng tôi: Trong gần 10 năm phụ trách công tác chính sách của Quân chủng Hải quân, ông chưa thấy cấp dưới báo cáo về trường hợp này.
"Thời điểm ấy diễn ra việc chia tách - sáp nhập các đơn vị, có thể hồ sơ giấy tờ thất lạc, sơ suất làm thay tên đổi họ. Thế nhưng cán bộ xử lý việc này quá máy móc. Cả đơn vị có 1 người tên Khôi, hy sinh thời điểm ấy, thì cũng có thể xác định sự trùng hợp và thông tin cho thân nhân", đại tá Kinh nói và khẳng định: "Phải tìm kiếm hồ sơ liệt sĩ và thông tin chính thức cho gia đình. Cần thiết thì xác định ADN. Nếu chế độ chính sách chưa thực hiện, phải sửa chữa ngay"…