Chuyện tình yêu nửa thế kỷ của cựu lính đặc công và vợ là giáo viên

Chuyện tình yêu nửa thế kỷ của cựu lính đặc công và vợ là giáo viên

Rời ghế nhà trường để bảo vệ quê hương

Trước bàn thờ người cha và anh trai hy sinh trong kháng chiến, ông Đỗ Xuân Mỹ (78 tuổi), cựu chiến binh Binh chủng Đặc công, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam phường Hương Trà (Đà Nẵng), lặng người khá lâu rồi chậm rãi kể về tuổi trẻ của mình.

Đó là những đêm hành quân dưới mưa bom, những lần cận kề sinh tử.

“Hồi đó tôi nghĩ đơn giản lắm, căm thù giặc thì phải đứng lên bảo vệ quê hương. Nếu có hy sinh cũng là vì đất nước”, ông Mỹ nói.

Ông Mỹ sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở làng Ngọc Mỹ, nay thuộc phường Quảng Phú (Đà Nẵng). Cha, anh trai và anh rể của ông đều là liệt sỹ, thân mẫu là Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Sự.

Lớn lên giữa khói lửa chiến tranh, học hết lớp 6, cậu học trò lúc đó quyết định gác lại việc học để theo cách mạng. “Hồi đó thầy giáo cũng là cán bộ cách mạng. Đất nước chiến tranh, thầy và trò đều lên đường”, ông Mỹ nhớ lại.

Năm 1964, ông tham gia lực lượng du kích địa phương. Đến năm 1967, ông vào Đội đặc công V18 thuộc Thị đội Tam Kỳ (tỉnh Quảng Nam cũ).

Năm 1968, ông tham gia trận đánh vào bãi xe tăng của địch, cũng từ trận đánh này ông chính thức trở thành chiến sĩ đặc công, lực lượng chuyên đảm nhận những nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm, bí mật luồn sâu đánh vào các căn cứ đối phương.

Nhắc đến quãng đời lính đặc công, điều ông nhớ nhất là những cuộc hành quân diễn ra trong bóng tối. Để tiếp cận mục tiêu, ông phải bò hàng giờ qua nhiều lớp dây thép gai, vượt bãi trống và né các chốt gác của địch.

“Có những đoạn phải đợi trời nhá nhem mới dám vượt sông. Ban ngày tàu tuần tra đi liên tục, lộ ra là không còn đường sống. Sang sông rồi lại bò qua từng lớp hàng rào, từng bãi trống, chỉ mong đừng bị phát hiện”, ông Mỹ kể.

Có những lần, để tránh máy bay trinh sát, ông phải nằm bất động giữa bụi rậm hoặc ngâm mình dưới đầm nước suốt nhiều giờ. “Mỗi lần máy bay quần thảo trên đầu, không ai dám cựa quậy. Lúc đó sống chết chỉ cách nhau một khoảnh khắc”, ông Mỹ nhớ lại.

Chiến trường cũng khiến người lính trẻ 8 lần phải đối mặt với lằn ranh sinh tử. Ông Mỹ nhớ lại, lần đầu bị thương là năm 1968. Năm 1969, ông tiếp tục bị thương trong trận đánh đầu cầu Kỳ Phú, mất 2 chiếc răng cửa.

Trận đánh ông bị thương nặng nhất là tại thôn Mỹ Cang, xã Tam Thăng (Quảng Nam cũ). Khi các chiến sĩ vừa áp sát mục tiêu bị đối phương phát hiện. Hỏa lực của địch từ nhiều phía dồn dập trút xuống. Ông trúng đạn, một viên xuyên từ hông ra đùi, nhiều mảnh đạn găm khắp cơ thể.

“Đồng đội đưa tôi ra khỏi trận địa. Lúc đó tôi chỉ nghĩ chắc mình không qua khỏi”, ông Mỹ kể. Nhưng sau đó ông may mắn được cứu sống. Năm 1971, sau thời gian điều trị thương tích, ông Mỹ được điều ra Thanh Hóa điều dưỡng và học tập.

“Hỏi nhau vết thương đỡ chưa, vậy mà thương nhau lúc nào không hay”

Cũng chính tại Thanh Hóa, người lính đặc công lúc đó 23 tuổi gặp bà Nguyễn Thị Tâm, cô giáo trẻ sau này trở thành bạn đời của ông. Ngồi bên chồng, bà Tâm (năm nay 75 tuổi) mỉm cười khi nhớ về mối duyên bắt đầu cách đây hơn nửa thế kỷ.

“Trường ông học và trường tôi dạy chỉ cách nhau một con đường. Mỗi lần tôi đi ngang ông hay trêu chọc tôi. Thấy ông ấy là bộ đội từ chiến trường ra, xa cha mẹ, thiếu thốn đủ thứ, lại mang trên mình nhiều vết thương nên tôi thương. Tình cảm của tôi cũng bắt đầu từ đó”, bà Tâm kể.

Sự cảm thương dần trở thành sự quan tâm. Những lần gặp nhau chỉ vài phút sau giờ học, đi dạy, vài câu hỏi thăm giản dị đã kéo 2 con người xích lại gần nhau.

“Hồi đó chẳng có hoa, cũng không có quà gì đâu. Chỉ hỏi nhau hôm nay có khỏe không, vết thương đỡ chưa. Vậy thôi mà thương nhau lúc nào không hay”, bà Tâm tiết lộ.

Năm 1973, ông Mỹ và bà Tâm nên duyên vợ chồng. Đám cưới lúc đó diễn ra tại Thanh Hóa chỉ có trà, bánh kẹo, không nhẫn cưới, không gia đình nhà trai. Đồng đội của ông Mỹ đứng ra làm chủ hôn, thay gia đình chúc phúc cho đôi vợ chồng trẻ.

“Hồi đó làm gì có điều kiện như bây giờ. Đám cưới đơn sơ lắm, chỉ có đồng đội chúc mừng. Nhưng với chúng tôi, vậy là đủ hạnh phúc rồi”, bà Tâm nhớ lại.

  Cuộc sống của thủ môn Cape Verde sau hành trình cổ tích tại World Cup 2026

Sau giải phóng, năm 1976, bà theo chồng về quê Quảng Nam. Đó cũng là lần đầu tiên mẹ chồng biết tin con trai mình có vợ, cũng là lần đầu tiên bà gặp con dâu sau những năm dài chiến tranh.

Hơn 50 năm bên nhau, ông Mỹ và bà Tâm đã có 3 người con.

Nhìn người vợ vẫn ngồi bên cạnh, ông Mỹ mỉm cười. Ông bảo sau tất cả những mất mát của chiến tranh, điều quý giá nhất mà mình có được chính là còn sống để trở về, được xây dựng một mái ấm bình yên.

“Tôi còn sống được đến hôm nay đã là điều may mắn. Đồng đội từng sát cánh với tôi nhiều người không có cơ hội trở về.

Vì thế, còn kể được câu chuyện chiến tranh cho lớp trẻ nghe ngày nào tôi còn kể. Để các cháu hiểu rằng hòa bình hôm nay đã phải đánh đổi bằng biết bao máu xương”, ông Mỹ xúc động nói.

Tin Gốc: Dân Trí