Kế hoạch sắp xếp trường mầm non, phổ thông công lập được UBND thành phố Hà Nội ban hành hôm 10/7.
Với bậc mầm non, tiểu học và THCS, thành phố sẽ thành lập mô hình trường một cấp đa cơ sở (với một trường chính và các cơ sở, phân hiệu ở gần nhau), trường liên cấp (tiểu học và THCS; tiểu học, THCS và THPT).
Sau khi sắp xếp, mỗi trường mầm non có ít nhất 30 lớp, không quá 35 trẻ/lớp. Số lớp tối thiểu ở trường tiểu học, THCS lần lượt là 40 và 45, sĩ số tối đa 35 và 45 học sinh (ở khu vực nông thôn là 30 và 40).
Nếu là trường liên cấp tiểu học và THCS, số lớp ít nhất là 50.
Thành phố lưu ý sau khi sắp xếp, mỗi xã, phường phải có ít nhất một trường mầm non, tiểu học, THCS; không sáp nhập trường khi khoảng cách và điều kiện đi lại không phù hợp; giảm tối thiểu 50% đầu mối quản lý hành chính nhưng không giảm số lớp, ảnh hưởng cơ hội tiếp cận giáo dục của học sinh, đồng thời tăng số lượng giáo viên trực tiếp giảng dạy.
Cùng đó, thủ đô tạm dừng mở trường mầm non tới THCS. Những dự án đã được phê duyệt hoặc đang thực hiện vẫn tiếp tục triển khai, nhằm bổ sung cơ sở vật chất, phòng học cho các trường chính, phân hiệu sau khi sắp xếp.
Với bậc THPT, 124 trường hiện có được giữ nguyên; tiếp tục rà soát và đầu tư để tăng số lớp, đáp ứng nhu cầu của học sinh.
Ngoài ra, trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu sẽ được bổ sung cấp THPT, tổ chức lại theo mô hình trường phổ thông nhiều cấp học có lớp chuyên biệt.
Hiện, Hà Nội có khoảng 2.300 trường mầm non, phổ thông công lập. Theo kế hoạch, việc sắp xếp trường hoàn thành trước ngày 26/7. Công tác nhân sự, bổ nhiệm lãnh đạo, quản lý xong trước 10/8.
Kế hoạch của Hà Nội nằm trong chủ trương sắp xếp trường lớp của cả nước. Trong hướng dẫn gửi các địa phương đầu tháng 7, Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá nhiều trường học có quy mô nhỏ, manh mún, chưa phù hợp với không gian phát triển và quy mô dân số. Cơ quan này cho rằng còn dư địa để tiếp tục sắp xếp, nhằm chuyển mạnh từ tư duy “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”, nâng cao chất lượng.
Bộ nhấn mạnh việc sắp xếp gắn với tinh gọn đầu mối, giảm biên chế quản lý giáo dục, tăng biên chế trực tiếp giảng dạy. Ngoài ra, Bộ thí điểm mô hình một trường chính có các phân hiệu, điểm trường; hợp nhất nhiều đầu mối quản lý để hình thành các cơ sở giáo dục quy mô lớn…
Việc sắp xếp phải phù hợp với thực tế địa phương, đảm bảo tính ổn định, hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến dạy và học, tâm lý học sinh, thầy cô và phụ huynh; không sắp xếp trường mầm non với phổ thông, giữa phổ thông với trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, giữa trường chuyên biệt với đại trà.
Hôm 10/7, Chính phủ yêu cầu các địa phương tinh gọn, giảm khoảng 30% trường công; hoàn thành sắp xếp trước 30/8.
Sáng 11-4, tại Hà Nội, diễn ra hội thảo Tương lai ngành bán dẫn: Giải mã con chip, định hình tương lai, giúp các bạn học sinh hiểu rõ cơ hội nghề nghiệp, có thêm định hướng trong ngành bán dẫn.
Tại hội thảo, do Viện Đại học quốc tế FPT (Tập đoàn FPT) tổ chức, PGS.TS Phạm Thị Liên - Giám đốc đào tạo Đại học Gachon tại Việt Nam - cho biết theo dự báo, thị trường nhân lực bán dẫn toàn cầu có thể đạt quy mô 1.000 tỉ USD vào năm 2030.
Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ này kéo theo sự thiếu hụt về nguồn nhân lực. Trong đó đến cuối 2030, toàn cầu dự kiến thiếu khoảng 1 triệu kỹ sư bán dẫn.
Để khắc phục sự thiếu hụt nguồn nhân lực, Việt Nam đã đặt mục tiêu quốc gia đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn đến năm 2030. Tuy nhiên thời điểm hiện tại mới đáp ứng khoảng 20% nguồn nhân lực trên thị trường.
"Ngoài thiếu hụt số lượng, hiện chúng ta còn đang thiếu hụt về chất lượng. Các kỹ sư khi được đào tạo ra gặp một số hạn chế về khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
Cụ thể như thiếu hụt trầm trọng kỹ sư thiết kế vi mạch và quy trình sản xuất, thiếu kinh nghiệm thực chiến. Đặc biệt, còn gặp rào cản ngoại ngữ khi làm việc tại môi trường có yếu tố nước ngoài", bà Liên nói.
Theo bà Liên, bán dẫn là một ngành học mới, học liệu mới gần như đều được cập nhật bằng tiếng Anh. Khi có khả năng ngoại ngữ tốt, sinh viên có thể tiếp cận, đọc hiểu tài liệu nhanh hơn nhiều lần. Nếu ngoại ngữ không tốt, sinh viên dễ bị lạc hậu, bỏ sau về kiến thức.
"Để học tốt lĩnh vực bán dẫn, người học cần có trình độ IELTS tối thiểu từ 5.5. Ngoại ngữ sẽ như một tấm "hộ chiếu" để những người theo đuổi bán dẫn cập nhật kiến thức toàn cầu, đi được đường dài trong học tập, phát triển sự nghiệp", bà Liên nói thêm nếu cùng năng lực, người có ngoại ngữ lương có thể cao hơn gấp 1,5 lần.
Còn tiến sĩ Jimmy Le - Phó viện trưởng Viện Quantum AI, Tập đoàn FPT - cho rằng để phát triển bản thân, mỗi người cần phải vượt qua các rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, phá vỡ những giới hạn để thể hiện năng lực bản thân.
Ông Jimmy Le cho rằng học sinh THPT tại Việt Nam có nhiều tiềm năng, nằm trong top 34 trình độ học sinh toàn cầu. Tuy nhiên các em cần tự tin hơn trong việc học tập, kết nối kiến thức, thể hiện năng lực bản thân để cạnh tranh với toàn cầu.
"Nếu chúng ta cứ chọn việc dễ thì không bao giờ việc đến với chúng ta. Hãy chọn công việc có nhiều thách thức, việc khó, để chúng ta cố gắng. Chúng ta hơn người khác là nhờ sự vượt khó", ông Jimmy Le nhắn nhủ các bạn học sinh khi chọn ngành công nghiệp chiến lược như bán dẫn cần có sự đầu tư, quyết tâm, quyết liệt vô cùng lớn.
Theo ThS Võ Hoài Xuân - Phó giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), ngành công nghiệp bán dẫn của Việt Nam cho thấy tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ với sự gia nhập của các tập đoàn hàng đầu thế giới và sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn. Hiện Việt Nam có hơn 50 công ty thiết kế, 15 công ty đóng gói và kiểm tra vi mạch…
Ông Xuân cho biết phát triển công nghiệp bán dẫn là nhiệm vụ khó khăn liên quan đến các ngành với nhiều thách thức. Trong đó hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn trong nước vẫn trong giai đoạn hình thành, tiếp tục phát triển để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu.
Hiện nguồn lực chất lượng cao còn thiếu, đặc biệt là đội ngũ kỹ sư thực hành và nhân lực trình độ chuyên sâu; hạ tầng kỹ thuật tiêu chuẩn cao. Do đó lĩnh vực bán dẫn cần tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế và đi vào chiều sâu, đặc biệt trong chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực.
Tại hội thảo, Trường đại học FPT và Đại học Gachon (Hàn Quốc) cũng đã ra mắt chương trình cử nhân công nghệ bán dẫn do hai bên hợp tác. Sinh viên theo học sẽ có cơ hội học tập 2 năm ở Việt Nam và 2 năm tại Hàn Quốc.
Sáng nay (26.6), tại thành phố Huế, Trường đại học Kinh tế phối hợp cùng Trường đại học Sư phạm (Đại học Huế) và Trường đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM) tổ chức hội thảo khoa học quốc gia chủ đề "40 năm đổi mới ở Việt Nam - Từ kinh tế kế hoạch hóa đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (1986 - 2026)".
Sự kiện diễn ra nhân dịp kỷ niệm 40 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2026). Đây là diễn đàn quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia đến từ Đại học Huế, Đại học Quốc gia TP.HCM, Học viện Chính trị khu vực III, Đại học Cần Thơ, Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ cùng nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo và quản lý trên cả nước.
Mục tiêu của hội thảo nhằm nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận, ghi nhận những thành tựu to lớn cùng bài học kinh nghiệm sâu sắc sau 4 thập kỷ đổi mới đất nước.
Chương trình hội thảo bắt đầu bằng phiên toàn thể với các báo cáo đề dẫn mang tính chiến lược. Nội dung tập trung vào thành tựu, triển vọng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức; cục diện thế giới đa cực và đối sách của Việt Nam trong quan hệ kinh tế đối ngoại hiện nay.
Tại hội thảo, tham luận chủ đề "Từ 40 năm đổi mới đến tăng trưởng bứt phá: Vai trò của kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam" của TS Trịnh Hoàng Hồng Huệ (Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM) nhận được sự đánh giá cao từ ban tổ chức và các đại biểu.
Theo TS Trịnh Hoàng Hồng Huệ, năm 2026 là cột mốc lịch sử tròn 40 năm kể từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung gặp nhiều khó khăn thành một nền kinh tế năng động, có độ mở cao và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, TS Hồng Huệ cũng thẳng thắn chỉ ra những "nút thắt" tăng trưởng cần tháo gỡ gồm: đầu tư cho tri thức còn thấp, năng suất lao động chưa cao và giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế. Thực tế chỉ ra rằng Việt Nam không thiếu tri thức nhưng đang thiếu khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế.
Phân tích về động lực phát triển, TS Trịnh Hoàng Hồng Huệ nhận định, nếu giai đoạn 1986 - 2026 nước ta thành công nhờ giải phóng các nguồn lực đất đai, vốn và lao động, thì chặng đường 20 năm tiếp theo (2026 – 2045) chỉ có thể bứt phá bằng cách giải phóng tri thức, công nghệ và sức sáng tạo của con người. Đây chính là nền tảng cốt lõi để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo vào năm 2045.
Bên cạnh đó, các phiên thảo luận cũng đã mang lại nhiều góc nhìn thời sự về đổi mới tư duy kinh tế, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững, phát huy nhân tố con người và hoàn thiện thể chế.
Hai thủ khoa môn văn của Đà Nẵng trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 là Bùi Phương Nhi, học sinh lớp 12 chuyên văn, Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Hồ Hà Ánh Nga, học sinh lớp 12/5, Trường THPT Nguyễn Văn Cừ.
Chia sẻ về đề thi năm nay, câu nghị luận xã hội trong đề văn yêu cầu thí sinh bày tỏ suy nghĩ về việc 'Làm thế nào để có các Steve Jobs Việt Nam? nhiều người cho rằng sẽ thiếu công bằng nếu học sinh không biết đến nhân vật này.
Ánh Nga cho biết: "Tôi biết rất ít về nhân vật này nên không tập trung khai thác về ông mà đi sâu vào trả lời câu hỏi làm thế nào để có nhiều người trẻ tài giỏi, nắm bắt công nghệ, từ đó góp phần phát triển đất nước. Đó mới là ý đồ của người ra đề. Ngay cả khi không biết về Steve Jobs thì dữ liệu đề cũng nói rõ những người phát minh công nghệ, vẫn đủ để hiểu vấn đề cần bàn luận".
Với Phương Nhi, phần nghị luận xã hội nhắc đến Steve Jobs là "gã khổng lồ công nghệ", đòi hỏi thí sinh không chỉ có kỹ năng làm văn mà còn phải có vốn hiểu biết xã hội.
"Để giải quyết những câu nghị luận liên quan đến công nghệ trong thời đại số,các bạn cần có kiến thức xã hội rộng và hiểu biết về những gương mặt tiên phong trong lĩnh vực này", Nhi nói.
Ở phần nghị luận văn học, theo Phương Nhi, hình ảnh "những chiếc lá" trong bài thơ mang tính biểu tượng, chứa nhiều tầng ý nghĩa nên người làm bài cần có cảm nhận tinh tế, biết đào sâu thông điệp thay vì chỉ phân tích trên bề mặt.
Để có được 9,5 điểm, Ánh Nga đã theo đuổi môn văn nhiều năm, trải qua nhiều lần dự thi học sinh giỏi từ THCS đến THPT.
Nữ sinh cho rằng kết quả đến từ sự nỗ lực bền bỉ của bản thân, sự đồng hành của cô giáo và gia đình. Nga cũng nhận định khoảng cách từ 9,5 đến điểm 10 nằm ở sự sáng tạo và tư duy đột phá, là điều bản thân còn phải tiếp tục học hỏi.
Cô Nguyễn Thị Ngọc, giáo viên ngữ văn Trường THPT Nguyễn Văn Cừ, phụ trách bồi dưỡng và dạy môn văn Ánh Nga, cho rằng điểm số của Nga phản ánh đúng năng lực sau nhiều năm kiên trì bồi dưỡng.
"Nga có tình yêu với môn văn, tư duy tốt và chữ viết rất đẹp. Điều quan trọng nữa là em luôn bám sát chương trình ngữ văn lớp 12, luyện nhiều đề, rèn kỹ năng và phương pháp làm bài", cô Ngọc nói.
Đặc biệt, dù không phải trường chuyên, Trường THPT Nguyễn Văn Cừ nhiều năm liên tục có học sinh đạt thủ khoa môn ngữ văn.
Cô Nguyễn Thị Trúc Đào, giáo viên ngữ văn, chủ nhiệm lớp chuyên văn Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, đánh giá Phương Nhi có niềm say mê với văn chương và có tố chất học văn.
"Nhi luôn trình bày bài rất rõ ràng, chữ viết đẹp, đây là những yếu tố góp phần tạo nên bài thi chất lượng. Cạnh đó, Phương Nhi học chuyên nên được trang bị nền tảng kiến thức, kỹ năng làm văn tốt, có thể linh hoạt xử lý các yêu cầu của đề", cô Đào nói.
Trước đó, năm 2017, học sinh của cô Đào cũng từng có bạn đạt điểm 10 môn ngữ văn trong kỳ thi THPT quốc gia.