Nghị định 91 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học, nêu rõ nguyên tắc đặt tên trường đại học.
Theo đó, nguyên tắc chung khi đặt tên trường là đảm bảo tính ổn định, lâu dài, không sử dụng từ ngữ thể hiện danh hiệu, thứ hạng hoặc gây nhầm lẫn với tên của cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị – xã hội.
Tên trường đại học không được dùng từ ngữ mang tính “quốc gia” hoặc thể hiện vị thế đặc biệt như: “quốc tế”, “quốc gia”, “Việt Nam”, tên các quốc gia khác và các từ có ý nghĩa tương tự.
Tuy nhiên, một số trường có thể dùng các từ trên. Đây là điểm mới so với dự thảo hồi tháng 12 năm ngoái.
Cụ thể, cụm từ “quốc tế” được dùng trong ba trường hợp: trường đào tạo tất cả ngành ở bậc đại học, thạc sĩ, tiến sĩ bằng tiếng nước ngoài; cơ sở có 100% vốn đầu tư nước ngoài; hoặc trường được thành lập theo hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và nước ngoài.
Tương tự, cụm từ “Việt Nam” được dùng nếu cơ sở giáo dục có 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc thành lập theo hiệp định.
Ngoài ra, trường được công nhận là đại học quốc gia thì có thể thêm cụm từ “quốc gia” trong tên.
Về cấu trúc, tên tiếng Việt phải gồm: Cụm từ xác định loại hình (đại học, trường đại học, học viện); cụm từ xác định lĩnh vực (nếu cần) và tên riêng (địa danh, danh nhân…).
Với tên tiếng nước ngoài hoặc tên giao dịch quốc tế, các trường dịch tương đương tiếng Việt, không được làm tăng mức độ, vị thế hoặc loại hình. Tên miền Internet, tên thương mại, viết tắt phải nhất quán với tên tiếng Việt và tên tiếng nước ngoài.
Các trường dùng ký tự viết tắt cần lưu ý không làm phát sinh khả năng hiểu sai với trường khác trong và ngoài nước.
Trước đây không có quy định nào nêu nguyên tắc chi tiết như trên mà chỉ yêu cầu đảm bảo sự trong sáng của ngôn ngữ, không vi phạm truyền thống lịch sử, thuần phong mỹ tục, không gây nhầm lẫn về đẳng cấp, thứ hạng, nội dung chương trình đào tạo. Trong cấu trúc, phần tên riêng có thể là địa phương, danh nhân, tên cá nhân, tổ chức…
Hiện, tên đại học ở Việt Nam khá đa dạng. Một số trường tư thục có chữ “quốc tế” như trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng (Hong Bang International University), trường Đại học Tư thục Quốc tế Sài Gòn (The Saigon International University).
Một số trường có chữ “Việt Nam” trong tên như Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Phụ nữ Việt Nam, Thanh thiếu niên Việt Nam.
Ma trận tên tiếng Anh của các trường đại học
Chính phủ cho phép các trường đã thành lập trước ngày 30/3 được tiếp tục giữ nguyên tên, hoặc có thể điều chỉnh theo các quy định trên.
Dương Tâm
Nguồn: https://vnexpress.net/siet-dung-tu-quoc-gia-quoc-te-trong-ten-truong-dai-hoc-5057479.html

Mã đề: 0822
Họ, tên thí sinh: .....................................................................
Số báo danh: ..........................................................................
PHẦN I: Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 24. Mỗi câu hỏi thí sinh chỉ chọn một phương án.
Câu 1. So với Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 (1941) có điểm mới nào sau đây?
A. Thể hiện vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc hoạch định đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam.
B. Diễn ra trong bối cảnh thực dân Pháp câu kết với phát xít Nhật để thống trị Việt Nam.
C. Góp phần định hướng, thúc đẩy sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
D. Chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.
Câu 2. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám (1945) ở Việt Nam đã dẫn đến sự ra đời của
A. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. B. nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
C. tổ chức Việt Nam Quang phục Hội. D. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Câu 3. Quá trình phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á từ năm 1967 đến năm 2015 có đặc điểm nào sau đây?
A. Từ một tổ chức chưa có sự liên kết nội khối phát triển thành một cộng đồng gắn kết.
B. Xuất phát từ liên minh quân sự phát triển thành tổ chức liên kết kinh tế, chính trị.
C. Quá trình hình thành, phát triển chịu sự chi phối thường xuyên của cuộc Chiến tranh lạnh.
D. Phạm vi liên kết nội khối được mở rộng cùng với sự phát triển của các thành viên.
Câu 4. Vị vua nào sau đây đã tiến hành cải cách ở Đại Việt vào nửa sau thế kỉ XV?
A. Minh Mạng. B. Lý Thái Tổ.
C. Lê Thánh Tông. D. Ngô Quyền.
Câu 5. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Trật tự thế giới hai cực I-an-ta là do
A. Liên Xô và Mỹ bị suy giảm sức mạnh kinh tế, tài chính.
B. tác động trực tiếp của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất.
C. sự ra đời của Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN.
D. Mỹ không còn là siêu cường kinh tế số một thế giới.
Câu 6. Một trong những xu thế phát triển chính của thế giới sau cuộc Chiến tranh lạnh là
A. đa cực trong quan hệ quốc tế. B. chấm dứt ngay mọi xung đột giữa các nước.
C. hạn chế liên kết về kinh tế giữa tất cả các nước. D. đối đầu giữa Liên Xô và Mỹ.
Câu 7. Thắng lợi của phong trào Đồng khởi (1959 - 1960) ở miền Nam Việt Nam có ý nghĩa nào sau đây?
A. Giáng đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mỹ.
B. Làm cho chế độ phong kiến ở Việt Nam bị lật đổ hoàn toàn.
C. Buộc Mỹ phải chấm dứt ngay chiến tranh phá hoại miền Bắc.
D. Buộc Mỹ phải chấp nhận đàm phán và kí Hiệp định Giơ-ne-vơ.
Câu 8. Quốc gia nào sau đây ở châu Mỹ đã dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh?
A. Nhật Bản. B. Cam-pu-chia. C. Cu-ba. D. Thái Lan.
Câu 9. Từ năm 1947 đến năm 1989, trên thế giới đã diễn ra
A. cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. B. cuộc đấu tranh thống nhất I-ta-li-a.
C. cuộc Chiến tranh lạnh. D. cuộc Cách mạng tư sản Pháp.
Câu 10. Đảng Cộng sản Đông Dương có hoạt động đối ngoại nào sau đây trong giai đoạn 1939 - 1945?
A. Tham dự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp.
B. Liên hệ với lực lượng Đồng minh chống phát xít.
C. Thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.
D. Kí kết với Pháp bản Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp.
Câu 11. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của nhân dân Việt Nam đã để lại bài học kinh nghiệm nào sau đây cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay?
A. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỉ nguyên mới.
B. Cần thống nhất về tổ chức của các mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.
C. Kết hợp hài hòa, thường xuyên giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự.
D. Duy trì, phát triển mối quan hệ liên minh phòng thủ với các nước Đông Dương.
Câu 12. Quá trình từ đàm phán đến kí kết Hiệp định Pa-ri (1968 - 1973) đã để lại bài học kinh nghiệm nào sau đây cho hoạt động đối ngoại của Việt Nam hiện nay?
A. Tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
B. Kiên trì đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ trong quan hệ với các nước.
C. Đặt trọng tâm vào việc duy trì, phát triển đồng đều mối quan hệ với các đối tác truyền thống.
D. Linh hoạt trong hoạt động đối ngoại để giải quyết triệt để lợi ích của các nước.
Câu 13. Cuộc khởi nghĩa nào sau đây chống lại ách đô hộ của nhà Minh diễn ra vào đầu thế kỉ XV?
A. Khởi nghĩa Lam Sơn. B. Khởi nghĩa Phùng Hưng.
C. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng. D. Khởi nghĩa Bà Triệu.
Câu 14. Quốc gia nào sau đây là thành viên của Cộng đồng ASEAN vào năm 2015?
A. Ma-rốc. B. Bru-nây. C. Ả-rập Xê-út. D. Mông Cổ.
Câu 15. Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) là một trong những yếu tố dẫn đến sự thành lập quốc gia nào sau đây vào năm 1922?
A. Tây Ban Nha. B. Ai Cập. C. Phần Lan. D. Liên Xô.
Câu 16. Đường lối đổi mới về kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2006 có nội dung nào sau đây?
A. Bước đầu xây dựng cơ chế quản lí kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp.
B. Tiếp tục phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
C. Kết thúc quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
D. Bắt đầu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Câu 17. Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37 (2020) diễn ra ở quốc gia nào sau đây?
A. Xu-đăng. B. Xi-ri. C. Bun-ga-ri. D. Việt Nam.
Câu 18. Nhận định nào sau đây là đúng về quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ năm 2006 đến nay?
A. Là quá trình phá thế bị bao vây và cô lập toàn diện để hội nhập quốc tế.
B. Đánh dấu sự khởi đầu cho hợp tác đa phương giữa Việt Nam với các nước.
C. Có sự phát triển từng bước về phạm vi và cấp độ hội nhập quốc tế.
D. Thường xuyên nâng tầm hợp tác với hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Câu 19. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5 - 1941) chủ trương thành lập tổ chức nào sau đây để xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam?
A. Hội Liên hiệp thuộc địa. B. Mặt trận Liên Việt.
C. Hội Chấn Hoa Hưng Á. D. Mặt trận Việt Minh.
Câu 20. Nhận định nào sau đây là đúng về công cuộc Đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay?
A. Hạn chế sự phát triển của kinh tế tư nhân để tập trung phát triển kinh tế nhà nước.
B. Có sự điều hành trực tiếp của nhà nước vào những quy trình sản xuất của các doanh nghiệp.
C. Là một quá trình cải cách liên tục, toàn diện và ngày càng sâu rộng.
D. Diễn ra đồng bộ và sâu rộng nhưng độc lập trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Câu 21. So với chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961 - 1965), chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968) của Mỹ thực hiện ở miền Nam Việt Nam có điểm khác biệt nào sau đây?
A. Diễn ra trong bối cảnh Mỹ đang chống lại phe xã hội chủ nghĩa.
B. Đưa số lượng lớn quân Mỹ vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường.
C. Tiến hành bằng lực lượng quân đội Sài Gòn dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn Mỹ.
D. Sử dụng vũ khí, trang bị kĩ thuật và phương tiện chiến tranh của Mỹ.
Câu 22. Một trong những hoạt động của Liên hợp quốc để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế là
A. thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương.
B. xây dựng các công ước quốc tế về giải trừ quân bị.
C. xây dựng quân đội thống nhất cho các quốc gia.
D. thành lập khối phòng thủ chung dựa trên cơ sở đồng thuận.
Câu 23. Nguyễn Ái Quốc không có hoạt động nào sau đây trong giai đoạn 1920 - 1930?
A. Tham dự Đại hội V của Quốc tế Cộng sản.
B. Soạn thảo Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt.
C. Tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
D. Ra đi tìm đường cứu nước từ Bến Nhà Rồng.
Câu 24. Việt Nam đạt được thành tựu nào sau đây trong hội nhập quốc tế vào năm 1995?
A. Trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.
B. Gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế.
C. Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.
D. Tham gia Công ước Luật biển của Liên hợp quốc.
PHẦN II: Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 4. Trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu, thí sinh chọn đúng hoặc sai.
Câu 1. Cho thông tin, đoạn tư liệu sau đây:
Tác giả của cuốn sách Chủ nghĩa tư bản lịch sử thăng trầm 120 năm (1900 - 2020) đã viết về những thách thức của chủ nghĩa tư bản hiện đại như sau: "[...], chủ nghĩa tư bản hiện đại đã và đang đối mặt với những vấn đề chính trị - xã hội nan giải. Nền dân chủ tư sản đang bị xói mòn và trên thực tế là nền dân chủ chỉ dành cho thiểu số [...], hàng loạt những vấn đề xã hội nan giải khác cũng được đặt ra như là những thách thức cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Đó là nạn thất nghiệp, sự suy giảm các giá trị xã hội, gia đình, sự đề cao lối sống cá nhân, nạn kỳ thị chủng tộc, tỷ lệ tội phạm và bạo lực gia tăng,...".
(Trần Thị Vinh, Chủ nghĩa tư bản lịch sử thăng trầm 120 năm (1900 - 2020), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr.70)
a) Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã giải quyết triệt để được các vấn đề xã hội nan giải để tồn tại và phát triển.
b) Những thông tin của đoạn tư liệu phản ánh một phần thực trạng của xã hội tư bản hiện đại.
c) Những thách thức mà chủ nghĩa tư bản phải đối mặt từ sau năm 1945 đến nay không bắt nguồn từ nền dân chủ tư sản.
d) Từ những hạn chế của chủ nghĩa tư bản hiện đại cho thấy sự đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Câu 2. Cho đoạn tư liệu sau đây:
"Nhìn lại 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế duy trì tốc độ phát triển tương đối nhanh, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống Nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tiềm lực và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao. [...]."
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.20)
a) Nội dung của đoạn tư liệu cho biết những thành tựu trên nhiều lĩnh vực trong công cuộc Đổi mới ở Việt Nam.
b) Từ thực tiễn 40 năm đổi mới đất nước cho thấy mối quan hệ hài hòa giữa phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội, đồng thời khẳng định nền kinh tế hàng hóa là điểm sáng tạo riêng của Việt Nam.
c) Những thành tựu của công cuộc Đổi mới đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển trên thế giới.
d) Những thành tựu trong công cuộc Đổi mới hiện nay là nguồn lực và động lực cho sự phát triển của Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo.
Câu 3. Cho đoạn tư liệu sau đây:
"Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước".
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.534)
a) Ngay khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời phát động toàn quốc kháng chiến.
b) Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến thể hiện sự chủ động của Việt Nam trong việc đàm phán với Pháp.
c) Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến khẳng định Việt Nam tiến hành chiến tranh vệ quốc khi không còn lựa chọn nào khác, đồng thời định hướng về việc xây dựng lực lượng vũ trang kháng chiến.
d) Những thông tin của đoạn tư liệu thể hiện tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Câu 4. Cho đoạn tư liệu sau đây:
"Đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng hội tụ và phát huy cao nhất sức mạnh của Nhân dân, tạo nên sức mạnh vô địch để đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách và vươn tới phát triển phồn vinh, hùng cường. Kiên trì thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp xã hội [...]; nêu cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng với quốc gia, dân tộc".
(Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.36-37)
a) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (2026) của Đảng Cộng sản Việt Nam bước đầu xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh cần tập trung khơi dậy và phát huy.
b) Những thông tin của đoạn tư liệu cho biết đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam được xây dựng trên nền tảng của khối liên minh công – nông và trí thức.
c) Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy cao độ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
d) Đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam được khơi nguồn, vận dụng sáng tạo và phát huy mạnh mẽ trong thời kì Đổi mới.
------ HẾT ------
GỢI Ý GIẢI ĐỀ THI MÔN LỊCH SỬ – KỲ THI THPT 2026
Y Văn Tuấn
Trường THPT Vĩnh Viễn (TP.HCM)
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay diễn ra vào ngày 11 và 12.6. Toàn quốc có 1.223.776 thí sinh đăng ký dự thi (tăng 61.642 thí sinh so với năm trước), trong đó, số lượng thí sinh đăng ký trực tuyến là 1.204.806 (đạt 98,45%) với 2.487 điểm thi và gần 50.000 phòng thi.
Các địa phương đã huy động khoảng 200.000 cán bộ, giáo viên, nhân viên và các lực lượng chức năng tham gia phục vụ kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Tra cứu điểm thi lớp 10, điểm chuẩn 2026 của tất cả trường chuyên trên cả nước

Tính tới sáng nay 19.6, 28/81 trường chuyên trên toàn quốc đã công bố điểm thi lớp 10 các môn chuyên và điểm chuẩn dự kiến hoặc chính thức (sau khi hoàn tất phúc khảo). Trong đó, mới nhất là 4 trường chuyên trực thuộc Sở GD-ĐT TP.HCM vừa công bố điểm chuẩn, gồm Lê Hồng Phong (P.Chợ Quán), Trần Đại Nghĩa (P.An Khánh), Lê Quý Đôn (P.Phước Thắng) và Hùng Vương (P.Thủ Dầu Một).
Tới tối nay, các trường chuyên trực thuộc Sở GD-ĐT Hà Nội là Hà Nội - Amsterdam (P.Yên Hòa), Nguyễn Huệ (P.Dương Nội), Chu Văn An (P.Tây Hồ), Sơn Tây (P.Sơn Tây) cũng đồng loạt công bố điểm thi và điểm chuẩn. Còn 3 trường chuyên khác ở Hà Nội trực thuộc các cơ sở giáo dục ĐH sẽ có lịch công bố riêng, tất cả đều dự kiến thông báo trong những tuần cuối tháng này.
Trước đó vào đầu tháng 6, Trường THPT chuyên Khoa học tự nhiên thuộc Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) là trường chuyên đầu tiên tại Hà Nội công bố điểm thi, với điểm chuẩn dao động từ 17,25-20,25. Vài ngày sau, Trường Phổ thông Năng khiếu thuộc ĐH Quốc gia TP.HCM nối tiếp động thái này, với điểm chuẩn quanh mốc 24,95-37,55.
Dưới đây là link các trang tra cứu điểm thi lớp 10, điểm chuẩn của trường chuyên tại 34 tỉnh, thành để bạn đọc tiện theo dõi. Ngoài ra, bạn đọc có thể truy cập TẠI ĐÂY để tra cứu thêm thông tin điểm thi lớp 10 và điểm chuẩn của các trường đại trà trên cả nước.
** Thanh Niên sẽ liên tục cập nhật điểm thi lớp 10 và điểm chuẩn của các trường THPT.
Nhìn chung, mỗi trường chuyên hoặc địa phương sẽ có cách tính điểm xét tuyển khác nhau. Như ở TP.HCM, điểm xét tuyển là tổng điểm 3 môn không chuyên (hệ số 1) và môn chuyên (hệ số 2). Bốn trường chuyên thuộc Sở GD-ĐT Hà Nội và hai trường chuyên Ngoại ngữ, chuyên Khoa học xã hội và nhân văn cũng áp dụng cách tính tương tự.
Tất cả đều xét điểm dựa trên thang tối đa là 50, với đầu điểm lấy từ kỳ thi lớp 10 hoặc kỳ thi riêng do trường tổ chức. Đây cũng là phương thức phổ biến được nhiều trường chuyên trên cả nước sử dụng.
Trong khi đó, các trường chuyên ĐH Sư phạm và chuyên Khoa học tự nhiên tại Hà Nội chỉ xét hai đầu điểm, với điểm môn thi chung hệ số 1 và môn chuyên hệ số 2. Ở Bắc Ninh, hai trường chuyên Bắc Ninh và Bắc Giang chỉ xét tuyển dựa trên điểm môn chuyên, nhưng trước đó yêu cầu thí sinh đáp ứng một số điều kiện về điểm môn không chuyên và tổng điểm.
Các trường chuyên ở Ninh Bình thì lấy điểm xét tuyển 3 môn không chuyên hệ số 1 và môn chuyên hệ số 3. Còn tại Thái Nguyên, điểm xét tuyển vào trường chuyên gồm 2 môn không chuyên hệ số 1, một môn không chuyên hệ số 2 (tương ứng với lớp chuyên đăng ký, như chuyên văn, sử, địa thì điểm văn không chuyên nhân đôi) và môn chuyên hệ số 3.
Đây cũng là lý do khiến điểm chuẩn các trường chuyên ở Thái Nguyên vào diện cao nhất nước, trong đó lớp chuyên tiếng Anh Trường THPT chuyên Thái Nguyên (P.Phan Đình Phùng) dẫn đầu với 59,9 điểm.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại hội thảo "Từ dữ liệu đến vị thế: Nghiên cứu, phát triển bền vững và sự hiện diện toàn cầu của đại học Việt Nam", các chuyên gia và nhà quản lý vĩ mô đều khẳng định: quốc tế hóa không phải cuộc chơi của những "lối đi tắt" hay chiêu trò số liệu, mà là một cuộc rèn luyện bền bỉ hàng ngày bằng nội lực thực chất.
Theo bà Nguyễn Thu Thủy, Cục Trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ GD-ĐT, Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển GD-ĐT đã đặt ra mục tiêu rõ ràng: đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có ít nhất 1 trường đại học lọt vào top 100 thế giới ở một số lĩnh vực, và ít nhất 8 trường thuộc nhóm 200 châu Á.
Tuy nhiên, những mục tiêu này không chỉ là những con số về thứ hạng. Điều quan trọng hơn, đó là yêu cầu nâng cao năng lực nội tại của các trường đại học Việt Nam: đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; tạo ra tri thức mới; thu hút và sử dụng nhân tài; kết nối hiệu quả với doanh nghiệp, địa phương, xã hội và cộng đồng học thuật quốc tế.
Bà Thủy nói: "Chúng ta không phát triển giáo dục chỉ để chạy theo vị trí trên bảng xếp hạng. Các bảng xếp hạng uy tín, khi được tiếp cận đúng, chỉ là công cụ tham chiếu để nhận diện điểm mạnh, khoảng trống của chính mình".
Cùng quan điểm, PGS Nghiêm Xuân Huy, Giám đốc Viện Đào tạo số và Khảo thí (ĐH Quốc gia Hà Nội), cảnh báo về những hệ lụy của "trò chơi xếp hạng" (gaming) vốn đang gây nhiều băn khoăn trong xã hội. Đó là việc gian lận khai báo cơ sở công tác (affiliation), bắt tay tự trích dẫn chéo hay vận động hành lang đầy thực dụng trong các cuộc khảo sát.
Ông Huy nói: "Con đường đi tắt có thể mang lại thứ hạng tức thời, nhưng sẽ không thể ở lại lâu dài. Chỉ có đi lên bằng chất lượng thực sự mới tạo ra sự phát triển bền vững".
Tại hội thảo, bà Phạm Thanh Hảo, Phó hiệu trưởng Trường ĐH VinUni đã nêu lên một thực trạng dáng suy ngẫm: Việt Nam hiện đang là nước nhập khẩu ròng (Net importer) tri thức với tỷ lệ thâm hụt lên tới 11/1. "Khoảng 250.000 sinh viên Việt Nam đi du học nước ngoài, nhưng chúng ta chỉ đón khoảng 20.000 sinh viên quốc tế đến. Trái lại, nước láng giềng Malaysia đang thặng dư xuất khẩu giáo dục với tỷ lệ 2,5/1 (đón 130.000 sinh viên quốc tế và chỉ cử đi 55.000 người)", bà Hảo nói.
Theo bà Hảo, quốc tế hóa thực chất không đơn thuần là ký kết bề nổi, thu hút vài sinh viên trao đổi mà là cả quá trình xây dựng một đại học có năng lực tạo ra tri thức, nhân tài và các giá trị được thế giới đón nhận. Quốc tế hóa không phải để "quốc tế hơn", mà là để trở nên giá trị hơn với thế giới.
Còn bà TS Lê Mai Lan, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH VinUni cho rằng, một bài học lớn trong xây dựng thương hiệu đại học toàn cầu chính là sự kiên định chiến lược. Và hơn thế, cần có tư duy quản trị "đánh đổi", bởi nếu một nhà lãnh đạo muốn ưu tiên tất cả mọi việc thì thực tế sẽ không có việc nào là ưu tiên.
Đối với VinUni, trường chấp nhận đánh đổi chi phí đào tạo cực kỳ cao để giữ mô hình tinh gọn, kiểm soát chặt chẽ quy mô dưới 3.500 sinh viên nhưng dồn toàn lực thu hút đội ngũ giáo sư tinh hoa toàn cầu và nâng tỷ lệ học viên sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) lên đến 40%.
Bà Lê Mai Lan cũng cho rằng, bức tranh cạnh tranh xếp hạng quốc tế thực chất không phải cuộc đua nội bộ giữa các trường trong nước, mà là cuộc đối đầu sòng phẳng với các hệ thống giáo dục được đầu tư khổng lồ tại châu Á, Trung Đông và toàn cầu. Để giáo dục đại học Việt Nam không bị tụt lại phía sau, các trường cần phải dựa vào "công thức" ba chân kiềng: nội lực - trợ lực - hợp lực.
Trong đó nội lực của mỗi trường là nền tảng cốt lõi. Sự trợ lực cơ chế chính sách từ Chính phủ và các tổ chức quốc tế giúp đại học Việt Nam tăng tốc. Còn tinh thần hợp lực, đoàn kết giữa các đại học - doanh nghiệp mới là thứ định hình nên vị thế vững chắc của cả quốc gia trên bản đồ tri thức toàn cầu.
Tin Gốc: Thanh Niên

