Ngày 11.7, lãnh đạo Sở GD-ĐT tỉnh Gia Lai cho biết đã nghe thông tin về việc trên mạng xã hội có bài đăng tố cáo gian lận trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026.
Hiện Sở GD-ĐT đã chỉ đạo các trường có thí sinh bị phản ánh khẩn trương xác minh, làm rõ và báo cáo kết quả về Sở.
Theo đó ngày 10.7, trên mạng xã hội Threads đã xuất hiện 2 bài đăng phản ánh một thí sinh của Trường THPT số 1 Tuy Phước (tỉnh Gia Lai) có dấu hiệu gian lận trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026.
Theo nội dung các bài này, người đăng cho biết đã trực tiếp chứng kiến thí sinh T.G.H sử dụng điện thoại di động trong thời gian làm bài thi các môn vật lý, hóa học. Một bài đăng khác còn cho rằng thí sinh này sử dụng điện thoại ở cả môn toán.
Các bài viết cũng nêu rằng nhiều thí sinh cùng phòng thi được cho là đã chứng kiến sự việc, đồng thời đề nghị Bộ GD-ĐT kiểm tra, xác minh để bảo đảm tính công bằng, minh bạch của kỳ thi.
Sáng 11.7, đại diện Trường THPT số 1 Tuy Phước xác nhận nhà trường đã nắm được thông tin phản ánh từ chiều 10.7 và đang phối hợp xác minh.
Hiện nhà trường đang kiểm tra, làm rõ nội dung phản ánh nên chưa thể khẳng định thông tin đúng hay sai. Qua tìm hiểu ban đầu, thí sinh T.G.H có học lực tốt, chấp hành nội quy. Ngay khi có kết quả xác minh, nhà trường sẽ thông tin chính thức.
Trước đó, mạng xã hội xuất hiện bài đăng tố một thí sinh Trường THPT số 1 Nguyễn Thái Học (Gia Lai) mang điện thoại vào phòng thi để tra cứu đáp án trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026.
Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, Sở GD-ĐT Gia Lai đã yêu cầu hội đồng thi kiểm tra, xác minh, trong khi nhà trường báo cáo quá trình học tập của thí sinh cho thấy kết quả học tập nhiều năm ở mức khá, giỏi. Đến nay, cơ quan chức năng vẫn đang làm rõ vụ việc và chưa có kết luận chính thức về việc thí sinh có vi phạm quy chế thi hay không.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Thi tốt nghiệp THPT: Minh bạch tỷ lệ chọn môn để thấy rõ chất lượng giáo dục

Đây là chỉ số phản ánh sâu sắc hành vi học tập và chất lượng giáo dục, cần được công khai như một thông lệ chính thức.
Thực tế cho thấy điểm số cao chưa chắc đồng nghĩa với chất lượng cao. Nhiều địa phương đạt điểm trung bình ấn tượng, nhưng phần lớn học sinh (HS) lại tập trung vào những môn dễ đạt điểm, trong khi các môn có độ phân hóa cao như ngoại ngữ hay khoa học tự nhiên (KHTN) có tỷ lệ dự thi thấp. Khi đó, điểm số không còn phản ánh đầy đủ năng lực HS mà bị chi phối bởi chiến lược lựa chọn môn thi.
Vì thiếu dữ liệu về tỷ lệ chọn môn nên việc so sánh giữa các địa phương dễ rơi vào tình trạng khập khiễng. Năm 2025 là một ví dụ điển hình: Nghệ An đạt điểm trung bình 6,52, xếp thứ 1; Hà Tĩnh 6,48, xếp thứ 2; Thanh Hóa 6,31, xếp thứ 7; trong khi TP.HCM đạt 6,29, xếp thứ 8. Nếu chỉ nhìn vào thứ hạng, có thể cho rằng các địa phương đứng trên có chất lượng giáo dục cao hơn TP.HCM. Tuy nhiên, TP.HCM lại có tỷ lệ HS chọn tiếng Anh và các môn KHTN cao hơn đáng kể, đồng nghĩa với việc HS phải đối mặt với đề thi có độ khó và tính phân hóa cao hơn. Vì vậy, điểm số chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong tương quan với tỷ lệ chọn môn; nếu tách rời, mọi kết luận đều thiếu cơ sở khoa học.
Một vấn đề đáng lo ngại hơn là việc lựa chọn môn thi đang tác động ngược trở lại mục tiêu giáo dục. Chương trình GDPT mới hướng tới phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực, nhưng trong thực tế, tâm lý "chọn an toàn để đỗ" lại chi phối mạnh mẽ quyết định của HS. Hệ quả là HS có xu hướng né tránh môn khó, ưu tiên môn dễ; nhà trường và địa phương cũng vô hình trung chạy theo thành tích; từ đó làm lệch hướng mục tiêu giáo dục ngay từ khâu lựa chọn môn học.
Khi việc học bị dẫn dắt bởi thi cử, mục tiêu phát triển toàn diện khó được thực hiện trọn vẹn. Điều này thể hiện rõ qua số liệu tại Hội thảo khoa học về giáo dục STEM ngày 21.3, Bộ GD-ĐT cho biết có khoảng 60 - 65% HS lựa chọn tổ hợp khoa học xã hội (KHXH) để học ở cấp THPT. Sự mất cân đối này kéo dài sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực KH-CN và kỹ thuật, đi ngược yêu cầu phát triển của kỷ nguyên vươn mình.
Trong bối cảnh như trên, việc công khai tỷ lệ các môn tự chọn không nhằm phê phán hay tạo áp lực cho địa phương, trường học mà để nhìn thẳng vào thực tế. Dữ liệu này giúp nhận diện rõ hành vi học tập của HS, phát hiện xu hướng trong lựa chọn và từ đó đánh giá đúng bản chất chất lượng giáo dục. Đây chính là "tấm gương" phản chiếu trung thực hơn so với các bảng điểm đơn thuần.
Khi dữ liệu được minh bạch, xã hội sẽ hiểu đúng hơn về kết quả thi; nhà quản lý có thêm căn cứ để điều chỉnh chính sách; còn các địa phương buộc phải nhìn lại chiến lược giáo dục của mình. Quan trọng hơn, minh bạch dữ liệu tạo ra một áp lực tích cực, thúc đẩy cải tiến từ bên trong thay vì chạy theo thành tích bề nổi.
Ở tầm vĩ mô, tỷ lệ chọn môn còn là công cụ dự báo quan trọng. Nếu HS ít chọn ngoại ngữ, cần xem lại cách dạy, học và thi môn này. Nếu các môn KHTN ít được lựa chọn, đó là dấu hiệu cảnh báo thiếu hụt nguồn nhân lực STEM trong tương lai. Ngược lại, khi HS tập trung quá nhiều vào một nhóm môn, nguy cơ mất cân đối nhân lực sẽ gia tăng. Khi đó, dữ liệu không chỉ là thống kê, mà trở thành cơ sở để hoạch định và điều chỉnh chiến lược phát triển quốc gia.
Trong xu hướng chuyển từ "dạy cái gì" sang "phát triển năng lực gì", minh bạch dữ liệu là yêu cầu tất yếu. Công khai tỷ lệ chọn môn không làm xấu đi hình ảnh giáo dục, mà ngược lại góp phần củng cố niềm tin xã hội và tạo động lực cải cách. Đây cần được xem là bước đi không thể né tránh.
Đã đến lúc việc công bố tỷ lệ HS chọn các môn tự chọn ở các địa phương trở thành thông lệ hằng năm, đi kèm với công bố điểm thi và được phân tích sâu theo từng địa phương, từng trường học. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể trả lời một cách trung thực câu hỏi: Giáo dục đang phát triển thực chất hay chỉ đẹp trên bảng điểm?
Tin Gốc: Thanh Niên

Sau thời gian chấm thi môn ngữ văn tốt nghiệp THPT vừa qua có thể thấy phần đọc hiểu với yêu cầu quen thuộc giúp thí sinh (TS) đạt điểm tương đối đồng đều, trong khi phần viết phân loại năng lực TS rõ rệt.
Nhìn vào cấu trúc đề thi ngữ văn, giám khảo dễ dàng nhận thấy phần đọc hiểu tiếp tục giữ vai trò "chống liệt" (điểm liệt là từ 1 trở xuống) cho TS. Thực tế điểm số chấm thi cho thấy điều đó.
Ngữ liệu được lựa chọn là văn bản thông tin với nội dung tương đối gần gũi, dễ tiếp cận, không đánh đố về mặt ngôn ngữ hay tư duy. Các câu hỏi cũng bám sát cấu trúc quen thuộc từ nhiều năm nay, đi theo trình tự từ nhận biết đến thông hiểu và vận dụng thấp.
Cụ thể, hầu hết TS đạt điểm tuyệt đối câu 1 phần đọc hiểu, 0,5 điểm (Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ ở đâu?). Câu 2 (0,5 điểm) cũng không khó, vì chỉ cần nhận biết và chỉ ra câu văn (chứa đựng bằng chứng về vai trò máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare) là có điểm. Câu 1, 2 là dạng câu hỏi nhận biết và tái hiện kiến thức, TS chỉ cần đọc kỹ văn bản là có thể trả lời chính xác. Đáp án và hướng dẫn chấm rõ ràng, ít gây tranh cãi, song vẫn có TS mất điểm ở chỗ chép lại sai hoặc không đầy đủ thông tin cơ bản (câu 1) và chép dư hoặc thiếu ở câu 2.
Câu 3 đọc hiểu là câu hỏi thông hiểu và yêu cầu TS giải thích đúng (nghĩa của cụm từ tài sản bị giam cầm, nhiên liệu). Tuy có độ khó hơn câu 1, 2 nhưng vẫn nằm trong khả năng của TS trung bình nếu biết bám sát ngữ liệu. Đáp án chấm theo khung đóng (từ khóa: tài sản là của cải; bị giam cầm là hạn chế, độc quyền, không được truyền bá; nhiên liệu là nguồn năng lượng) nhưng khi chấm giám khảo vẫn cho điểm linh hoạt theo hướng mở, nếu TS diễn đạt theo ý tương đương. Tuy vậy, vẫn có nhiều TS không đạt 1 điểm do hiểu sai, thiếu ý hoặc diễn giải dài dòng không đúng trọng tâm.
Câu 4 và câu 5 có sự phân hóa rõ rệt nhất của phần đọc hiểu. Ở câu 4, hầu hết TS đạt 0,25 điểm ở phần xác định luận đề và luận điểm. Tuy nhiên ở phần nhận xét mối liên hệ khó đạt 0,75 điểm (có 3 ý), do đa số không trả lời được ý 2 (triển khai theo trật tự thời gian, không gian, tương phản) và ý 3 (thái độ của tác giả), nên bị mất 0,5 điểm.
Nhìn chung phần đọc hiểu có mức độ phân hóa thấp. Phổ điểm ở phần này dự kiến tập trung ở mức từ 2,5 - 3 điểm.
Ở phần viết, khi chấm theo rubric (bảng tiêu chí đánh giá được xây dựng với các mức độ cụ thể), thể hiện rõ nhất sự phân hóa năng lực của TS. Trước đây, việc chấm bài văn phần nào phụ thuộc cảm nhận của giám khảo. Một bài viết có thể được đánh giá cao nhờ văn phong mượt mà hoặc cảm xúc tốt, dù chưa thực sự đầy đủ ý. Ngược lại, cũng có những bài đúng ý nhưng diễn đạt chưa tốt lại bị chấm thấp. Vì thế, việc chấm theo rubric, theo quan điểm của lãnh đạo Bộ GD-ĐT, là để tránh tình trạng lệch điểm giữa các giám khảo, đem đến sự công bằng nhiều hơn cho TS.
Với thang rubric, mỗi mức điểm đều gắn với những tiêu chí cụ thể (theo đáp án rubric của Bộ GD-ĐT) khiến việc chấm thi trở nên chặt chẽ hơn, đồng thời tạo ra một trần điểm rõ ràng cho từng mức độ bài làm. Tuy vậy, do quá chi li theo từng ý, từng yêu cầu nên việc chấm của giám khảo sẽ chậm hơn. Đó là lý do tại sao quá trình chấm thi môn văn năm nay ở tất cả các địa phương đều kéo dài ngày hơn trước đây.
Ở phần nghị luận xã hội (viết đoạn văn khoảng 200 chữ, "làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?", TS dễ dàng đạt mức điểm từ 1 - 1,25 nếu đáp ứng được yêu cầu chung và nêu được một số giải pháp (cá nhân hoặc xã hội). Tuy nhiên, để đạt điểm tối đa (2 điểm), bài viết phải đạt trọn vẹn yêu cầu của rubric chấm về nội dung, kiến thức (1,25 điểm), kỹ năng phân tích và lập luận (0,5 điểm) và hình thức, ngôn ngữ (0,25 điểm). Câu này phân loại rõ nhất ở phần giải pháp (1 điểm), vì rất ít TS làm bài như các tiêu chí của đáp án đưa ra.
Sự phân hóa rõ nét hơn nằm ở phần nghị luận văn học (4 điểm, phân tích bài thơ Những chiếc lá của Nguyễn Đình Thi). Với thang điểm lớn, câu này đòi hỏi TS không chỉ hiểu tác phẩm mà còn phải biết phân tích, cảm thụ và diễn đạt một cách có chiều sâu. Nhiều TS không hiểu nội dung - chủ đề bài thơ, phân tích chung chung và kỹ năng diễn đạt chưa tốt... Trong khi đó đáp án rubric thì rất nhiều ý nên tính phân loại cao ở câu này cũng là điều đương nhiên.
Đây cũng là điểm mới của đề thi và đáp án chấm lần này: chống liệt, đáp ứng yêu cầu của một kỳ thi với hai mục đích, và thay đổi cách chấm (theo rubric) nhằm đáp ứng việc thay đổi cách dạy học văn theo Chương trình 2018 trong nhà trường phổ thông, đem đến công bằng hơn cho TS trong thi cử.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
TP.HCM hướng tới hệ sinh thái dữ liệu đô thị dùng chung phục vụ người dân

Vừa qua hệ thống sử dụng chuẩn công nghệ mở (OGC) đã được phát triển từ nhiệm vụ khoa học - công nghệ của Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, có thể hỗ trợ khai thác thông tin nhanh và tạo tiền đề cho hệ sinh thái dữ liệu dùng chung.
Theo ông Phạm Quốc Phương - Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin và địa không gian (GITC), chủ nhiệm nhiệm vụ - khảo sát cho thấy dữ liệu phục vụ quản lý đô thị tại TP.HCM hiện được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, tập trung ở ba lĩnh vực đất đai, quy hoạch và xây dựng.
Các nhóm dữ liệu đều là dữ liệu không gian, bao gồm thông tin địa chính, thửa đất, hiện trạng và kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phân khu, quy hoạch xây dựng, hệ thống giao thông, giấy phép xây dựng và hiện trạng công trình.
Tuy nhiên mỗi lĩnh vực lại được quản lý theo các quy trình chuyên ngành riêng, lưu trữ trên các hệ thống khác nhau, chưa được tích hợp trên một nền tảng dùng chung, thiếu cơ chế chia sẻ và chưa có công cụ khai thác tập trung phục vụ quản lý.
Phần mềm quản lý đất đai trên cả nước cũng có sự phân tán về nền tảng công nghệ. Các hệ thống đang được sử dụng gồm ViLIS, ELIS, VBDLIS cùng một số hệ thống khác như TMV.LIS, DongNai.LIS, SouthLIS...
Nhóm nghiên cứu đánh giá việc tổng hợp thông tin theo khu vực, theo loại quy hoạch hoặc theo hiện trạng xây dựng hiện vẫn chưa được tự động hóa, làm hạn chế khả năng phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định của cơ quan quản lý.
Hệ thống sử dụng chuẩn công nghệ mở (OGC) từ nhiệm vụ khoa học - công nghệ của Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa được phát triển bao gồm hai sản phẩm trọng tâm: nền tảng tích hợp, chia sẻ, khai thác dữ liệu và nền tảng trực quan hóa, phân tích và thống kê dữ liệu không gian trên nền tảng cơ sở dữ liệu GIS mẫu.
Trong đó dữ liệu không gian được chuẩn hóa theo hệ quy chiếu VN-2000, dữ liệu thuộc tính tuân thủ tiêu chuẩn TCVN 6909:2001.
Ông Phương giải thích dữ liệu được tổ chức theo các lớp thông tin thống nhất và xác định các nhóm dữ liệu dùng chung quan trọng như cấp phép xây dựng, quản lý nhà ở, hạ tầng kỹ thuật đô thị, thông tin quy hoạch phân khu, nền thông tin địa lý tỉ lệ 1:2000 và 1:5000, cùng cơ sở dữ liệu đất đai.
Nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu được thiết kế nhằm kết nối các hệ thống hiện có, cho phép đồng bộ dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau và cung cấp một giao diện khai thác tập trung.
Ngoài ra nền tảng trực quan hóa và phân tích dữ liệu cho phép hiển thị thông tin trực tiếp trên bản đồ số, kết hợp các công cụ thống kê, phân tích và tạo báo cáo theo nhu cầu sử dụng.
Ông Phương cho biết thêm trong quá trình thử nghiệm, hệ thống hỗ trợ truy vấn dữ liệu linh hoạt theo nhiều tiêu chí, đồng thời hiển thị kết quả dưới dạng lớp bản đồ, bảng số liệu hoặc biểu đồ trực quan, phục vụ công tác quản lý và ra quyết định.
Bên cạnh các giải pháp công nghệ, nhiệm vụ đồng thời xây dựng dự thảo quy chế tích hợp, chia sẻ và khai thác dữ liệu, trong đó làm rõ cơ chế cập nhật, phân quyền và phối hợp giữa các đơn vị liên quan.
Theo nhóm nghiên cứu, đối với cơ quan quản lý, hệ thống giúp tra cứu, tổng hợp và phân tích thông tin liên ngành trên một nền tảng chung, từ đó nâng cao hiệu quả điều hành, giảm trùng lặp dữ liệu...
Với doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, xây dựng và đầu tư, việc tiếp cận thông tin quy hoạch và hiện trạng sử dụng đất trở nên minh bạch, thuận tiện, góp phần giảm chi phí khảo sát và rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án.
Trong khi đó, người dân dễ dàng tra cứu thông tin thửa đất, quy hoạch và giấy phép xây dựng, tăng tính minh bạch, hạn chế rủi ro pháp lý và tiết kiệm thời gian khi thực hiện các thủ tục hành chính liên quan.
Công nghệ lõi hiện được triển khai để ứng dụng cho các xã, phường ở TP.HCM. "Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục mở rộng phạm vi tích hợp dữ liệu, nâng cao năng lực khai thác và hướng tới quy mô lớn hơn, tạo thuận lợi cho công tác quản lý đô thị trong thời gian tới", ông Phương cho biết.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

