Giá vàng trong nước giảm 900 nghìn đồng so với ngày hôm qua
Đến 13h43′ ngày 14/7, giá vàng miếng SJC tăng tiếp 400.000 đồng mỗi lượng ở cả chiều mua và bán, lên mức 144,5-147,5 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).
Tương tự, giá vàng nhẫn SJC loại 1-5 chỉ cũng được điều chỉnh tăng thêm 400.000 đồng mỗi lượng ở cả 2 chiều, giao dịch ở mức 143,5-147 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).
Lúc 9h41′ ngày 14/7, giá vàng miếng SJC đảo chiều tăng lên mức 144,1-147,1 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), đắt hơn 300.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với mức niêm yết đầu phiên.
Giá vàng nhẫn loại 1-5 chỉ của SJC cũng tăng 300.000 đồng mỗi lượng ở cả 2 chiều so với mức mở cửa hôm nay, niêm yết ở mức 143,1-146,6 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).
Mở cửa phiên giao dịch 14/7, vào lúc 8h30′, giá vàng miếng SJC được điều chỉnh giảm 1,6 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với kết phiên hôm qua, giao dịch ở mức 143,8-146,8 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).
Giá vàng nhẫn loại 1-5 chỉ của SJC cũng hạ 1,6 triệu đồng mỗi lượng ở cả 2 chiều so với chốt phiên hôm qua, niêm yết ở mức 142,8-146,3 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).
Cụ thể, giá vàng SJC, DOJI, PNJ, Bảo Tín Mạnh Hải hôm nay đang giao dịch ở ngưỡng 144,5 đến 147,5 triệu đồng/lượng, chênh lệch giá vàng ở 2 chiều vẫn ở mức 3 triệu đồng/lượng. So với cùng kỳ hôm qua, giá vàng ở chiều mua vào và bán ra hiện đã giảm 900 nghìn đồng/lượng.
Tại Bảo Tín Minh Châu (BTMC), diễn biến giữa hai chiều có sự khác biệt. Giá mua vào giảm 500.000 đồng/lượng, xuống 142,5 triệu đồng/lượng, còn chiều bán ra giảm 900.000 đồng/lượng, về 147,5 triệu đồng/lượng. Với mức giá này, chênh lệch mua – bán đã nới rộng lên tới 5 triệu đồng/lượng.
Phú Quý đang mua vàng miếng với giá 145,7 triệu đồng/lượng, thấp hơn hôm qua 600.000 đồng/lượng. Ở chiều bán ra, doanh nghiệp giảm 800.000 đồng/lượng, đưa giá về 147,2 triệu đồng/lượng. Khoảng cách giữa giá mua và bán hiện là 1,5 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong nhóm được khảo sát. Cả chiều mua vào và bán ra đều mất 1,3 triệu đồng/lượng so với hôm qua. Sau khi hạ giá, vàng miếng SJC tại đây được giao dịch ở mức 145 triệu đồng/lượng chiều mua và 146,7 triệu đồng/lượng chiều bán, tương ứng chênh lệch 1,7 triệu đồng/lượng.
Đối với vàng nhẫn, tại Bảo Tín Mạnh Hải đang có giá mua vào về 144,5 triệu đồng/lượng, giá bán ra về 147,5 triệu đồng/lượng, mức chênh lệch giữa mua – bán là 3 triệu đồng/lượng.
Tiếp đến giá vàng nhẫn Vàng Rồng Thăng Long tại BTMC có giá mua vào 142,5 triệu đồng/lượng và bán ra 146,5 triệu đồng/lượng. Khoảng cách hai chiều đang ở mức 4 triệu đồng/lượng, rộng nhất trong số các thương hiệu được cập nhật.
Tại DOJI Hà Nội, vàng nhẫn Hưng Thịnh Vượng 9999 hôm nay 14/7 được giao dịch ở mức 143 triệu đồng/lượng mua vào, giá bán ra ở mức 146,5 triệu đồng/lượng, cao hơn giá doanh nghiệp thu mua 3,5 triệu đồng mỗi lượng.
PNJ đưa giá mua vàng nhẫn về mức 143,5 triệu đồng/lượng, còn chiều bán ra đứng tại 146,2 triệu đồng/lượng. Với mức giá này, khoảng cách mua – bán tại PNJ đang là 2,7 triệu đồng/lượng.
Riêng Mi Hồng lúc 16h00 đang có giá mua vào ở mức 145,7 triệu đồng/lượng. Giá bán ra ở mức 147,2 triệu đồng/lượng, qua đó thu hẹp biên độ giữa hai chiều xuống còn 1,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thế giới chưa rời khỏi vùng giảm
Tính đến 16h00 ngày hôm nay (14/7) (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay mức 4.016,4 USD/ounce. Ghi nhận giảm 15,7 USD/ounce so với ngày hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26.450 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 128,08 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Với vàng miếng SJC trong nước đang giao dịch từ 144,5–147,5 triệu đồng/lượng, giá bán ra cao hơn vàng thế giới quy đổi khoảng 19,42 triệu đồng/lượng.
Giá vàng đang chịu áp lực giảm mạnh khi căng thẳng giữa Mỹ và Iran quanh eo biển Hormuz làm giá dầu bật tăng, lợi suất trái phiếu Mỹ đi lên và đồng USD mạnh hơn. Dù bất ổn địa chính trị thường hỗ trợ nhu cầu trú ẩn, thị trường hiện tập trung nhiều hơn vào nguy cơ lạm phát năng lượng kéo dài, qua đó khiến Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Giá dầu tăng làm chi phí sản xuất và vận chuyển có nguy cơ leo thang, khiến kỳ vọng lạm phát quay trở lại. Trong bối cảnh đó, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tiến sát vùng 4,58%, còn lợi suất kỳ hạn 2 năm vượt 4,2%. Chi phí cơ hội nắm giữ vàng vì thế tăng lên, hạn chế dòng tiền mới đổ vào kim loại quý.
Dự báo giá vàng
Dù triển vọng nửa cuối năm còn nhiều biến động, một số tổ chức tài chính vẫn đánh giá tích cực về vàng trong dài hạn. Giá vàng cao đang giúp các doanh nghiệp khai thác cải thiện mạnh dòng tiền, giảm nợ và nâng biên lợi nhuận. Tuy nhiên, diễn biến của kim loại quý trong thời gian tới vẫn phụ thuộc lớn vào chính sách của Fed, lạm phát và tình hình tại eo biển Hormuz.
Về kỹ thuật, giá vàng đang nằm dưới đường trung bình động ngắn hạn quanh 4.107 USD/ounce, cho thấy bên bán vẫn chiếm ưu thế. Vùng 4.000 USD/ounce được xem là ngưỡng hỗ trợ quan trọng. Nếu thủng mốc này, giá có thể lùi về 3.959-3.942 USD/ounce. Ở chiều ngược lại, vàng cần vượt 4.091 USD/ounce, sau đó là 4.107 USD/ounce để cải thiện xu hướng.
Ông Sean Lusk, đồng Giám đốc bộ phận phòng ngừa rủi ro thương mại tại Walsh Trading, cho rằng vẫn chưa có tín hiệu giá vàng phục hồi bền vững khi các nhịp tăng gần đây đều nhanh chóng bị bán ra.
Nhu cầu vàng vật chất vẫn chưa trở lại như trước, trong khi dòng tiền đang ưu tiên thị trường chứng khoán nhờ mức sinh lời hấp dẫn hơn.
Ông nhận định báo cáo lạm phát (CPI) của Mỹ sẽ là yếu tố định hướng thị trường. Nếu lạm phát cao hơn dự báo, đồng USD có thể tăng giá, qua đó gây áp lực lên vàng.
Ông kỳ vọng thị trường vàng sẽ cải thiện theo yếu tố mùa vụ trong hai tháng tới và cho rằng Fed nhiều khả năng sẽ giữ nguyên lãi suất thay vì sớm tăng trở lại.
Alex Kuptsikevich, chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại FxPro, dự báo giá vàng có thể tiếp tục giảm trong tuần tới.
Họ có thể là doanh nghiệp của nhà nước, cũng có thể là các doanh nghiệp tư nhân nhưng điểm chung đều giữ vai trò trụ cột thúc đẩy năng lực cạnh tranh và đưa một quốc gia vươn lên phát triển vượt bậc. Có thể gọi chung là thế hệ "Doanh nghiệp Quốc gia".
Trong lịch sử kinh tế thế giới, rất ít quốc gia có thể vươn lên nhóm thu nhập cao mà không hình thành những doanh nghiệp quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh toàn cầu.
Điều này xuất phát từ đặc điểm của quá trình phát triển. Khi nền kinh tế còn ở giai đoạn đầu, tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên. Tuy nhiên, khi bước sang giai đoạn phát triển cao hơn, động lực tăng trưởng chuyển dần sang năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây cũng là lúc vai trò của các doanh nghiệp đầu tàu trở nên đặc biệt quan trọng.
Không giống các doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp dẫn dắt sở hữu nguồn lực đủ lớn để đầu tư dài hạn cho nghiên cứu và phát triển (R&D), phát triển công nghệ lõi, xây dựng thương hiệu toàn cầu và mở rộng hệ sinh thái đối tác. Những khoản đầu tư này thường vượt quá khả năng của phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng lại tạo ra hiệu ứng lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế.
Nhiều nghiên cứu của các tổ chức quốc tế như OECD hay Ngân hàng Thế giới cho thấy khoảng cách về năng suất giữa các quốc gia không chỉ đến từ chất lượng nguồn nhân lực, mà còn phụ thuộc vào khả năng hình thành những doanh nghiệp có quy mô đủ lớn để phổ biến công nghệ, phương thức quản trị hiện đại và các chuẩn mực sản xuất mới tới hàng nghìn doanh nghiệp trong chuỗi giá trị.
Đó cũng là lý do những nền kinh tế thành công thường không chỉ sở hữu nhiều doanh nghiệp lớn, mà còn xây dựng được những hệ sinh thái kinh doanh rộng lớn xung quanh các doanh nghiệp này.
Hàn Quốc là một trong những ví dụ điển hình nhất. Sau chiến tranh, quốc gia này gần như không có lợi thế về tài nguyên. Tuy nhiên, chỉ trong vài thập kỷ, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất châu Á, với động lực quan trọng đến từ các tập đoàn công nghiệp như Samsung hay Hyundai.
Điều đáng chú ý là Samsung không đơn thuần là một doanh nghiệp điện tử. Tập đoàn này đầu tư hàng chục tỉ USD mỗi năm cho nghiên cứu và phát triển, tạo việc làm trực tiếp cho hàng trăm nghìn lao động và hình thành mạng lưới hàng nghìn doanh nghiệp vệ tinh trong các lĩnh vực bán dẫn, vật liệu, linh kiện, logistics và dịch vụ.
Nhờ đó, sự phát triển của Samsung không chỉ mang lại doanh thu hay kim ngạch xuất khẩu mà còn kéo theo sự nâng cấp năng lực công nghệ của toàn bộ ngành công nghiệp Hàn Quốc. Những doanh nghiệp nhỏ tham gia chuỗi cung ứng cũng có cơ hội tiếp cận công nghệ, tiêu chuẩn sản xuất và thị trường quốc tế, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tại Nhật Bản, Toyota cũng tạo ra tác động tương tự. Điều làm nên thành công của Toyota không chỉ là sản lượng ô tô mà còn là Hệ thống sản xuất Toyota (Toyota Production System) - mô hình quản trị tinh gọn đã trở thành chuẩn mực của ngành sản xuất toàn cầu.
Thông qua mạng lưới hàng chục nghìn nhà cung cấp, Toyota góp phần hình thành một hệ sinh thái công nghiệp với năng suất cao, nơi các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ là nhà cung cấp linh kiện mà còn liên tục đổi mới công nghệ để đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe. Nói cách khác, Toyota không chỉ xuất khẩu ô tô mà còn xuất khẩu tri thức quản trị và năng lực sản xuất.
Tại Mỹ, Apple cho thấy giá trị của doanh nghiệp dẫn dắt không nằm ở quy mô doanh thu đơn thuần. Bên cạnh các sản phẩm công nghệ nổi tiếng, Apple đã xây dựng một hệ sinh thái bao gồm nhà phát triển ứng dụng, nhà sản xuất chip, doanh nghiệp phần mềm, các công ty logistics và hàng nghìn đối tác trên toàn cầu. Sự phát triển của Apple tạo ra giá trị kinh tế vượt xa phạm vi của một doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nhiều lĩnh vực liên quan.
Ngay cả Singapore - nền kinh tế có quy mô khiêm tốn so với các quốc gia dẫn đầu - cũng xây dựng được những doanh nghiệp mang tính biểu tượng như DBS hay Singapore Airlines.
Trong đó, DBS được xem là một ví dụ tiêu biểu về quá trình chuyển đổi từ ngân hàng truyền thống sang doanh nghiệp công nghệ. Việc đầu tư mạnh vào điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và nền tảng số không chỉ giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp cận các dịch vụ tài chính nhanh hơn, chi phí thấp hơn. Qua đó, ngân hàng trở thành một phần của hạ tầng số quốc gia thay vì chỉ đóng vai trò cung cấp tín dụng.
Trong khi đó, tại Trung Quốc, Alibaba, Huawei hay Tencent đang đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cấp năng lực công nghệ của nền kinh tế. Từ viễn thông, bán dẫn đến xe điện và pin năng lượng, các doanh nghiệp này đều đầu tư rất lớn cho nghiên cứu, qua đó góp phần đưa Trung Quốc tiến gần hơn tới mục tiêu tự chủ công nghệ.
Dù hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau, các doanh nghiệp này đều có điểm chung: đầu tư mạnh cho đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái đối tác rộng lớn và tạo ra sức lan tỏa vượt ra ngoài phạm vi hoạt động của chính mình.
Nhà kinh tế học nổi tiếng Michael Porter từng nhấn mạnh rằng lợi thế cạnh tranh quốc gia được hình thành thông qua năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp hàng đầu không chỉ tạo ra tăng trưởng cho riêng mình mà còn kéo theo sự phát triển của cả hệ sinh thái ngành nghề, chuỗi cung ứng và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nhìn từ bài học của các quốc gia phát triển, rõ ràng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, nhiều quốc gia coi việc hình thành và phát triển các Doanh nghiệp Quốc gia (National Champions) là một chiến lược quan trọng để tạo ra những "đầu tàu" đủ sức dẫn dắt các ngành kinh tế trọng điểm, thu hút nguồn lực, thúc đẩy chuỗi giá trị trong nước và mở rộng ảnh hưởng ra thị trường quốc tế. Những doanh nghiệp này đóng vai trò cầu nối giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích quốc gia, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.
Thực tế cho thấy, các quốc gia sở hữu những doanh nghiệp mạnh thường có khả năng tận dụng tốt hơn các cơ hội của toàn cầu hóa, nâng cao năng suất lao động, thu hút đầu tư và gia tăng vị thế kinh tế. Do đó, xây dựng các doanh nghiệp đủ tầm vóc để cạnh tranh khu vực và thế giới không chỉ là mục tiêu của riêng doanh nghiệp, mà còn là một xu hướng phát triển đã được kiểm chứng tại nhiều nền kinh tế thành công.
Trong hành trình vươn mình của mỗi quốc gia, Doanh nghiệp Quốc gia không đơn thuần là kết quả của tăng trưởng, mà còn là động lực tạo ra tăng trưởng, thịnh vượng và sức cạnh tranh bền vững cho nền kinh tế trong dài hạn.
Tại Hội thảo văn hóa kinh doanh gắn với chấp hành pháp luật tổ chức chiều 3.4, tại Hà Nội, nhiều hộ kinh doanh bày tỏ lo ngại sai sót trong hồ sơ hoặc bị phạt vì chậm kê khai thuế quý 1 - kỳ kê khai thuế đầu tiên sau khi xóa thuế khoán.
Giải đáp vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Phúc, đại diện Công ty Luật và Kế toán Việt Mỹ, cho biết, hộ kinh doanh kê khai thuế chậm sẽ bị xếp vào nhóm rủi ro và bị xử phạt theo quy định tại điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
Hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế bị xử phạt như sau: phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 1 - 5 ngày và có tình tiết giảm nhẹ; phạt tiền từ 2 - 5 triệu đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 1 - 30 ngày; phạt tiền từ 5 - 8 triệu đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 31 - 60 ngày.
Hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 61 - 90 ngày bị phạt tiền từ 8 - 15 triệu đồng.
Phạt tiền từ 15 - 25 triệu đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn trên 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế, có phát sinh số thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế…
"Mức phạt áp dụng với hộ kinh doanh bằng một nửa so với doanh nghiệp. Như vậy, nếu chậm từ 1 - 5 ngày và là lần đầu, hộ kinh doanh có thể chỉ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo. Tuy nhiên, từ lần vi phạm thứ hai trở đi, nếu chậm từ 1 - 30 ngày sẽ bị phạt từ 1 - 2,5 triệu đồng; chậm từ 61 - 90 ngày, mức phạt tăng lên 4 - 7,5 triệu đồng. Với hành vi chậm trên 90 ngày (từ ngày thứ 91 trở đi), hộ kinh doanh có thể bị phạt từ 7,5 - 12,5 triệu đồng", ông Phúc phân tích.
Ngoài ra, nếu kê khai đúng hạn nhưng chậm nộp tiền thuế đã phát sinh, hộ kinh doanh còn phải chịu tiền chậm nộp. Mức tính là 0,03%/ngày nhân (x) với số ngày chậm nộp và số tiền thuế chậm nộp.
Tại hội thảo, hộ kinh doanh Nguyễn Thị Thùy Dung (Hà Nội) hiện kinh doanh mặt hàng dụng cụ thể thao đặt câu hỏi: nếu đầu năm, hộ đăng ký kinh doanh theo mức một (doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống - PV), nhưng sau đó, doanh thu vượt 500 triệu đồng thì hộ có bắt buộc phải chuyển sang mức hai hay không?
Ngoài ra, khi doanh thu đạt 1 tỉ đồng, hộ kinh doanh có phải đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử và xuất hóa đơn ngay tại thời điểm vượt ngưỡng hay không?
Bà Nguyễn Thị Thu Hà (Ban Chính sách, thuế quốc tế, Cục Thuế) cho biết, theo quy định tại Nghị định 68/2026/NĐ-CP, nếu từ quý 2, doanh thu của hộ kinh doanh đã vượt trên 500 triệu đồng thì phải thực hiện kê khai thuế theo phương thức tương ứng kể từ quý đó.
Đối với sử dụng hóa đơn điện tử, khi doanh thu trong năm vượt 1 tỉ đồng thì hộ kinh doanh phải đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử. Thời hạn thực hiện là trong vòng 30 ngày kể từ khi kết thúc kỳ kê khai thuế của quý phát sinh mức doanh thu vượt ngưỡng.
"Cơ quan thuế khuyến nghị các hộ kinh doanh chủ động theo dõi sát doanh thu thực tế để kịp thời chuyển đổi phương thức kê khai, thực hiện nghĩa vụ hóa đơn", bà Hà nhấn mạnh.
Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 hôm nay chính thức có hiệu lực, trong đó có quy định đối với hoạt động chuyển nhượng tài sản số, tiền số. Theo đó, thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số được xếp vào nhóm thu nhập khác chịu thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 0,1% trên giá trị từng lần chuyển nhượng. Mức thuế được tính trực tiếp trên giá trị giao dịch, tương tự đối với giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân.
Theo Thông tư 32/2026/TT-BTC hướng dẫn chính sách thuế đối với hoạt động giao dịch, chuyển nhượng và kinh doanh tài sản mã hóa và Thông tư 41/2026/TT-BTC hướng dẫn việc khấu trừ, kê khai, nộp và quyết toán thuế, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, tài sản số có trách nhiệm khấu trừ, nộp thuế thay đối với thu nhập của cá nhân ngay khi giao dịch được xác nhận thành công và thực hiện kê khai theo tháng. Việc này đồng nghĩa sàn giao dịch sẽ nộp thuế hộ nhà đầu tư. Thuế sẽ tự động được khấu trừ khi nhà đầu tư bán tiền số, tài sản số.
Trong khi đó, nhà đầu tư là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài có hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa, tài sản số qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ 0,1% trên doanh thu chuyển nhượng từng lần.
Bên cạnh đó, Nghị định 164/2026 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong các tổ chức, đơn vị cũng có hiệu lực từ ngày 1.7 lần đầu bổ sung tài sản số vào danh mục tài sản phải kê khai đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật. Theo đó, tài sản số, tài sản khác mỗi loại có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên thuộc diện phải kê khai cùng với nhiều loại tài sản khác như tiền, vàng, cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp, tài sản ở nước ngoài và các khoản nợ... Việc kê khai được thực hiện lần đầu, kê khai hằng năm, kê khai bổ sung, kê khai phục vụ công tác cán bộ được thực hiện theo mẫu bản kê khai.