Tập đoàn Wistron Corporation (Đài Loan) mới đây công bố quyết định đầu tư bổ sung 24,5 triệu USD xây dựng nhà máy, kho và các công trình phụ trợ tại Khu công nghiệp (KCN) Kim Bảng (Ninh Bình); cùng với việc cải tạo công trình và mua máy móc, thiết bị tại KCN hỗ trợ Đồng Văn III, đầu tư của tập đoàn này theo thông báo là tăng từ 153,77 triệu USD lên 178,27 triệu USD. Wistron vào VN từ năm 2020, là nhà cung cấp dịch vụ công nghệ toàn cầu, cung cấp các sản phẩm, giải pháp và hệ thống công nghệ thông tin – truyền thông cho các thương hiệu quốc tế. Dù không phải nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, song các tài liệu được công bố qua nhiều thời kỳ cho thấy khách hàng hoặc đối tác của Wistron là những ông lớn như Acer, Dell, HP, Lenovo, Sony và Apple.
Một điều dễ nhận thấy là dòng vốn FDI vào VN 6 tháng đầu năm tập trung khá nhiều vào các lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là bán dẫn, điện tử, AI, trung tâm dữ liệu và nghiên cứu – phát triển (R&D). Minh chứng rõ nét là kế hoạch rót khoảng 1,5 tỉ USD xây dựng nhà máy kiểm thử chip tại Thái Nguyên của Samsung vào cuối tháng 5. Đây được xem là bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên Samsung đưa hoạt động kiểm thử chip vào VN, thay vì chỉ tập trung sản xuất thiết bị điện tử như trước. Cùng thời gian này, Amkor Technology (Hàn Quốc) tiếp tục mở rộng công suất nhà máy đóng gói và kiểm thử bán dẫn tại Bắc Ninh, Hana Micron (Hàn Quốc) triển khai các hạng mục tăng vốn và mở rộng dây chuyền sản xuất tại Bắc Giang nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thị trường chip toàn cầu.
Trước đó, hồi tháng 2, Victory Giant Technology (Trung Quốc) đầu tư vào Bắc Ninh 520 triệu USD sản xuất bảng mạch in (PCB) công nghệ cao phục vụ các lĩnh vực AI, máy chủ, trung tâm dữ liệu và bán dẫn. Dự án được kỳ vọng sẽ góp phần hoàn thiện chuỗi cung ứng điện tử và bán dẫn tại miền Bắc, đồng thời tạo động lực thu hút thêm các doanh nghiệp (DN) công nghệ phụ trợ. Tại TP.HCM, Intel Products Vietnam tiếp tục mở rộng hoạt động lắp ráp và kiểm định chip tại Khu công nghệ cao TP.HCM.
Đáng lưu ý, không chỉ các DN đã hiện diện tại VN tiếp tục tăng vốn, nhiều địa phương cũng đang đẩy mạnh thu hút các dự án mới trong lĩnh vực AI, trung tâm dữ liệu và R&D. TP.HCM, Đà Nẵng, Bắc Ninh và Hải Phòng đều đang xúc tiến hợp tác với các tập đoàn công nghệ quốc tế nhằm phát triển các trung tâm dữ liệu quy mô lớn, trung tâm thiết kế vi mạch và các cơ sở nghiên cứu AI. Chẳng hạn, TP.HCM đã cấp phép một số dự án trung tâm dữ liệu với tổng vốn hơn 1,2 tỉ USD và đang triển khai dự án trung tâm dữ liệu AI trị giá khoảng 2,1 tỉ USD… Những dự án này cho thấy xu hướng dịch chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng (GTGT) lớn và khả năng lan tỏa về đổi mới sáng tạo, góp phần củng cố vị thế của VN trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu.
Chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trưởng ngành Quản trị kinh doanh, Khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH Kinh tế – Tài chính TP.HCM) nhận xét: Con số 34,65 tỉ USD vốn FDI đăng ký trong 6 tháng đầu năm, tăng 61% so với cùng kỳ, cho thấy VN không chỉ giữ được sức hút mà còn đang đón một nhịp dịch chuyển vốn rất mạnh. Cụ thể, vốn đăng ký mới đạt 17,39 tỉ USD, tăng 87,2%; vốn tăng thêm đạt 11,04 tỉ USD và góp vốn, mua cổ phần đạt 6,22 tỉ USD. Vốn thực hiện đạt khoảng 13 tỉ USD, tăng 11,2% và là mức cao nhất của nửa đầu năm trong 5 năm qua. “Những con số trên cho thấy đây không chỉ là “vốn trên giấy” mà đã có sự chuyển hóa tương đối rõ sang nhà máy, thiết bị, tuyển dụng và năng lực sản xuất thực tế”, ông Tùng nhận xét.
Đáng chú ý, theo ông Tùng, loạt dự án công nghệ cao quy mô tỉ USD cho thấy dòng vốn vào VN đang có sự thay đổi về chất. Nếu mô hình FDI trước đây chủ yếu là đưa thiết bị và linh kiện vào VN để tận dụng lao động, đất đai và xuất khẩu, thì các dự án bán dẫn, kiểm định – đóng gói chip, màn hình thế hệ mới, AI và trung tâm dữ liệu đặt ra yêu cầu cao hơn về điện năng, kỹ sư, dữ liệu, an ninh mạng và hệ sinh thái nghiên cứu.
“Dòng vốn chất lượng này tạo hiệu ứng rõ nét nâng năng suất”, ông Tùng nhấn mạnh. Đơn cử, một dự án bán dẫn trị giá 1,5 tỉ USD không nhất thiết tạo số lượng việc làm lớn như một nhà máy dệt may cùng quy mô vốn, nhưng GTGT và mức lương bình quân trên mỗi lao động thường cao hơn nhiều. Nếu hình thành được cụm Samsung – Intel – Amkor – các trung tâm R&D và DN phụ trợ, VN có thể dịch chuyển từ công đoạn lắp ráp sang kiểm định, đóng gói, thiết kế và phát triển ứng dụng chip. Bên cạnh đó, nguồn vốn này tạo lực kéo đối với giáo dục và DN nội địa. Một trung tâm dữ liệu AI trị giá hàng tỉ USD cần hệ thống điện ổn định, đường truyền tốc độ cao, kỹ sư phần mềm, kỹ sư làm mát, an ninh dữ liệu và dịch vụ vận hành. Dòng vốn vì thế không chỉ tạo GDP trong một dự án, mà có khả năng mở rộng thị trường cho viễn thông, năng lượng, xây dựng kỹ thuật, đào tạo và dịch vụ số.
Phân tích rõ hơn, ông Trần Anh Tùng cho rằng những con số thu hút FDI tích cực của VN được hình thành đặc thù từ 3 nhóm yếu tố. Đó là ổn định vĩ mô, môi trường chính trị và khả năng duy trì chuỗi sản xuất trong bối cảnh thế giới phân mảnh. Nhà đầu tư hiện không còn chỉ tìm nơi rẻ nhất mà tìm nơi đủ an toàn và có thể kết nối đồng thời với Trung Quốc, ASEAN, Mỹ và châu Âu. Thời gian qua, 8 nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trên diện rộng là minh chứng mạnh mẽ của Chính phủ VN trong quyết tâm xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch, thuận tiện.
Đây là một trong những điểm hấp dẫn giúp các DN nước ngoài tin tưởng tìm tới một điểm đến đầu tư bền vững. Kế đó là mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng, đặc biệt CPTPP, EVFTA và RCEP, đã giúp một nhà máy đặt tại VN tiếp cận nhiều thị trường lớn với ưu đãi thuế quan. Ngoài ra, hoạt động ngoại giao kinh tế và mời gọi đầu tư ở cấp Chính phủ ngày càng chuyển sang tiếp cận trực tiếp các tập đoàn chiến lược, đồng thời các địa phương chủ động chuẩn bị đất công nghiệp, hạ tầng và cơ chế xử lý thủ tục.
TS Nguyễn Quốc Việt, Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội, cũng đồng tình xu hướng dòng vốn FDI dịch chuyển mạnh vào các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, AI… trong thời gian qua không phải là diễn biến ngẫu nhiên mà phản ánh hiệu quả của quá trình điều chỉnh chiến lược thu hút đầu tư của VN trong những năm gần đây. Thay vì ưu tiên thu hút vốn bằng mọi giá, VN đang chuyển sang lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, GTGT lớn, khả năng chuyển giao công nghệ và tạo liên kết với DN trong nước.
Ông nói: “Cùng với việc hoàn thiện môi trường đầu tư, thời gian qua, VN đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, xây dựng chiến lược phát triển ngành bán dẫn, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư hạ tầng khu công nghệ cao và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Những chính sách này đang phát huy hiệu quả, giúp VN từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu; từ dựa nhiều vào lao động giá rẻ và gia công sang công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất. Điều này cũng được phản ánh qua xu hướng dòng vốn FDI ngày càng tập trung vào các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu và năng lượng sạch thay vì các ngành thâm dụng lao động như trước đây”.
Tuy nhiên, TS Việt cũng lưu ý, bên cạnh những tín hiệu tích cực, vẫn cần chú ý khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện. Mặc dù mức giải ngân vừa qua là cao nhất cùng kỳ trong 5 năm trở lại đây, sự chênh lệch giữa vốn FDI đăng ký và thực hiện cho thấy nhà đầu tư vẫn đặt niềm tin vào triển vọng của VN, song mức độ hiện thực hóa niềm tin đó sẽ phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của nền kinh tế, đặc biệt là năng lực phát triển hạ tầng, để đáp ứng các dự án quy mô lớn.
Sau hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết 50, dòng vốn FDI vào VN đã có sự chuyển dịch rõ nét cả về cơ cấu lẫn chất lượng. Trong bối cảnh đó, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 được xem là bước nâng cấp quan trọng trong chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài, hướng tới lựa chọn các dự án công nghệ cao, GTGT lớn và có khả năng lan tỏa tới khu vực DN trong nước.
TS Nguyễn Quốc Việt đánh giá, cùng với sự giữ vững được phong độ thu hút vốn ngoại thời gian qua, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị kỳ vọng là dấu mốc quan trọng trong việc nâng cấp chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài của VN. Nếu trước đây trọng tâm là thu hút vốn đầu tư, thì Nghị quyết 10 chuyển mạnh sang tư duy xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, lấy chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả lan tỏa làm tiêu chí cốt lõi.
Điểm mới của nghị quyết là ưu tiên thu hút các ngành công nghệ tương lai như bán dẫn, AI, internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, blockchain, công nghệ sinh học, vật liệu mới và năng lượng xanh; đồng thời chuyển từ cơ chế ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ dựa trên kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư. Nghị quyết cũng đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như 75% vốn FDI đến từ các nền kinh tế phát triển, tăng số tập đoàn Fortune 500 đầu tư vào VN và thu hút ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trung tâm R&D tại VN.
TS Nguyễn Quốc Việt nhấn mạnh: “Những định hướng trên sẽ giúp VN đón làn sóng FDI thế hệ mới trong bối cảnh các tập đoàn toàn cầu đang tái cơ cấu chuỗi cung ứng. Mặc dù hiệu quả của các chính sách cần thêm thời gian để hiện thực hóa, song với nền tảng chính sách đã được nâng cấp, cùng xu hướng dịch chuyển đầu tư toàn cầu, VN có cơ sở để kỳ vọng sẽ “hái quả ngọt” trong những năm tới thông qua việc thu hút nhiều hơn các dự án công nghệ cao, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và từng bước vươn lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu”.
Chuyên gia Trần Anh Tùng khẳng định: Nghị quyết 10 ra đời rất đúng thời điểm và là minh chứng cho sự trưởng thành vượt bậc trong tư duy phát triển kinh tế của VN. Sự chuyển dịch này được thể hiện rõ nét qua việc thay đổi bộ câu hỏi cốt lõi khi tiếp cận dòng vốn đầu tư. VN không còn chỉ dừng lại ở câu hỏi đơn thuần mang tính số lượng là thu hút được bao nhiêu vốn, mà hướng tới các mục tiêu chất lượng là tập trung giải quyết 3 câu hỏi khó hơn: Dòng vốn đầu tư đó sẽ tạo ra công nghệ gì? Khả năng tham gia của các DN VN đạt đến mức độ nào? Nền kinh tế trong nước thực tế giữ lại được bao nhiêu giá trị?
Cùng với đó, Nghị quyết 10 thay đổi cách tiếp cận từ việc chỉ thu hút các dự án FDI đơn lẻ sang việc kiến tạo một hệ sinh thái bền vững. Hệ sinh thái này được xây dựng dựa trên sự liên kết chặt chẽ giữa nhiều thành tố: Các nhà đầu tư chiến lược; khối học thuật bao gồm các trường ĐH và viện nghiên cứu; nền tảng hạ tầng đồng bộ về dữ liệu và năng lượng và hệ thống các nhà cung cấp nội địa.
“Nếu được triển khai hiệu quả, Nghị quyết 10 sẽ mang lại kết quả vượt xa giá trị của vài chục tỉ USD vốn FDI tăng thêm mỗi năm. VN sẽ có cơ hội hình thành được các cụm công nghiệp công nghệ có năng suất cao; từ đó tạo ra nhiều việc làm có mức thu nhập tốt, đồng thời gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước”, ông Trần Anh Tùng kỳ vọng.
Giá bạc hôm nay 17/6/2026 liên tục được điều chỉnh trong những giờ đầu phiên giao dịch ngày 17/6. Có thương hiệu tăng giá rồi giảm trở lại chỉ sau ít phút, phản ánh tâm lý thận trọng của thị trường sau chuỗi phiên biến động mạnh gần đây.
Mở cửa phiên giao dịch sáng 17/6, giá bạc miếng SBJ được niêm yết ở mức 2,652-2,73 triệu đồng/lượng (mua-bán), giảm 12.000-15.000 đồng/lượng (mua-bán) so với kết phiên ngày hôm qua.
Trong khi đó, thương hiệu Ancarat điều chỉnh bạc miếng về mức 2,648-2,73 triệu đồng/lượng (mua-bán), giảm 21.000-22.000 đồng/lượng (mua-bán).
Trái với xu hướng giảm khi mở cửa phiên giao dịch, Phú Quý đưa bạc miếng lên mức 2,666-2,748 triệu đồng/lượng (mua-bán), tăng nhẹ 2.000 đồng/lượng (mua-bán). Tuy nhiên, tới 8h31, bạc miếng của thương hiệu này điều chỉnh giao dịch xuống mức 2,652-2,734 triệu đồng/lượng (mua-bán).
Tương tự các thương hiệu khác, sản phẩm bạc DOJI 99.9 được niêm yết mua vào ở mức 2,658 triệu đồng (tăng 0,033 triệu đồng) và bán ra là 2,745 triệu đồng (tăng 0,034 triệu đồng).
Ở phân khúc bạc thỏi:
Giá bạc thỏi loại 1kg của thương hiệu này lùi về mức 70,72-72,8 triệu đồng/kg (mua-bán), giảm 320.000-400.000 đồng/kg (mua-bán).
Ở lần điều chỉnh thứ 4, giá bạc thỏi của SBJ tăng lên 70,8-72,96 triệu đồng/kg (mua-bán).
Bạc thỏi 1kg của thương hiệu Ancarat lùi xuống còn 70,613-72,8 triệu đồng/kg (mua-bán), giảm 560.000-578.000 đồng/kg (mua-bán).
Giá bạc thỏi 1kg của Phú Quý ở mức 71,093-73,279 triệu đồng/kg (mua-bán), tăng 54.000-53.000 đồng/kg (mua-bán), tới 8h31 bạc thỏi của thương hiệu lại giảm, đưa mốc giao dịch xuống 70,719-72,906 triệu đồng/kg (mua-bán).
Đặc biệt, bạc DOJI 99.9 ghi nhận mức tăng mạnh nhất ở nhóm bạc thỏi khi giá mua vào đạt 70,880 triệu đồng (tăng 0,880 triệu đồng) và giá bán ra chạm ngưỡng 73,200 triệu đồng (tăng 0,907 triệu đồng).
Giá bạc thế giới tiếp đà tăng
Lúc 8h30 ngày 17/6 (giờ Việt Nam), giá bạc giao ngay trên thị trường thế giới dao động ở mức 70,15-70,4 USD/ounce. Giá này tăng 0,24 USD/ounce so với thời điểm mở cửa, tương đương mức tăng 0,34%.
Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết dòng chảy tự do của dầu từ Vịnh Ba Tư sẽ được khôi phục ngay khi thỏa thuận có hiệu lực. Tuy nhiên, cả Washington lẫn Tehran đều chưa công bố nội dung của biên bản thoả thuận. Điều này khiến các nhà đầu tư vẫn giữ tâm lý thận trọng .
Thị trường cũng hướng tới một loạt quyết định chính sách của ngân hàng trung ương trong tuần này, trong đó có việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dự kiến tổ chức cuộc họp đầu tiên dưới sự chủ trì của tân Chủ tịch Kevin Warsh. Lãi suất được kỳ vọng sẽ giữ nguyên.
Trên Kitco News, các chuyên gia nhận định, cấu trúc vĩ mô vẫn đang bị chi phối bởi yếu tố năng lượng và lãi suất. Dữ liệu lạm phát tháng Năm tại Mỹ khiến cho cuộc tranh luận về lãi suất tưởng chừng đã kết thúc, tuy nhiên, sự sụt giảm giá dầu tuần trước đã giảm áp lực lên kỳ vọng lạm phát và hỗ trợ nhu cầu đối với kim loại quý.
Dự báo giá bạc
Thị trường bước vào cuộc họp quyết định của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) hôm nay với kỳ vọng không có thay đổi lãi suất, nhưng có thể sẽ có một sự điều chỉnh quan trọng hơn về ngôn từ, dự báo và cách truyền đạt.
Đối với vàng và bạc, rủi ro định vị là không đối xứng: một giọng điệu ít cứng rắn hơn từ ông Warsh sẽ củng cố sự phục hồi của trái phiếu có lợi suất thấp hơn, trong khi một biểu đồ dự báo lãi suất (dot plot) xác nhận việc tăng lãi suất vào cuối năm sẽ đưa mức giá sàn 4.300 USD/ounce cho vàng và vùng giá 68 USD/ounce cho bạc trở lại tầm ngắm.
Đối với các nhà đầu tư bạc và vàng, môi trường lãi suất không đổi hoặc cao hơn sẽ loại bỏ yếu tố thúc đẩy tăng giá trong ngắn hạn. Kim loại quý không tạo ra lợi suất trong khi lãi suất thực cao làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ kim loại. Yếu tố này tạo ra 'cơn gió ngược' ngắn hạn và cần được phân biệt rõ với các nhu cầu về cấu trúc dài hạn của kim loại.
Do đó, giới đầu tư cần theo dõi tỷ lệ vàng-bạc để có thêm góc nhìn hữu ích hơn về bối cảnh của những áp lực hiện tại.
Theo ông James Hyerczyk, chuyên gia phân tích kim loại quý của FX Empire, giá bạc đã bứt phá từ vùng 61,5 USD/ounce lên trên 70 USD/ounce, tương đương mức tăng gần 16%. Mức tăng quá nhanh trong thời gian ngắn khiến thị trường đối mặt với khả năng xuất hiện nhịp điều chỉnh kỹ thuật trước khi hình thành xu hướng mới rõ ràng hơn.
Trong ngắn hạn, diễn biến của đồng USD, lợi suất trái phiếu Mỹ và kỳ vọng về chính sách lãi suất vẫn được xem là những yếu tố chi phối xu hướng của thị trường bạc. Theo ông James Hyerczyk, nếu đồng USD và lợi suất trái phiếu tiếp tục suy yếu, giá bạc sẽ có thêm động lực tăng. Ngược lại, những tín hiệu cho thấy lãi suất có thể duy trì ở mức cao lâu hơn dự kiến sẽ tạo sức ép đáng kể lên kim loại quý này.
Ngày 26/5, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã dự và chỉ đạo Hội nghị về công tác quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Tại hội nghị, ông Lương Hải Sinh – Chủ tịch Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX) cho biết thị trường đang tiếp tục được tái cấu trúc theo hướng chuyên sâu, trong đó HoSE tập trung phát triển thị trường cổ phiếu, còn HNX định hướng phát triển thị trường phái sinh và các sản phẩm mới.
Cùng với việc nâng cấp hệ thống chỉ số, VNX đang nghiên cứu triển khai thêm các sản phẩm và thị trường mới như thị trường carbon, thị trường khởi nghiệp sáng tạo và các sản phẩm tài chính hiện đại. Qua đó, góp phần đa dạng hóa hàng hóa và nâng cao sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Sơn - Chủ tịch Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), đơn vị đang chủ động phối hợp triển khai các giải pháp kỹ thuật phục vụ mục tiêu nâng hạng thị trường theo tiêu chí của FTSE Russell và MSCI; đồng thời chuẩn bị đưa vào vận hành mô hình bù trừ đối tác trung tâm (CCP) nhằm nâng cao mức độ an toàn, minh bạch và hiệu quả vận hành của thị trường.
Trong khi đó, các đơn vị thuộc Bộ Tài chính nhận định dư địa phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn rất lớn, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn.
Dẫn số liệu tại hội nghị, ông Vũ Hồng Phương - Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp Nhà nước cho biết, nhu cầu vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp Nhà nước trong 5 năm tới dự kiến khoảng 2,8 triệu tỷ đồng. Đây được xem là dư địa lớn để thúc đẩy huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán, qua đó giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế.
Trong khi đó, ông Bùi Anh Tuấn - Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể cho biết, hiện cả nước có khoảng 7.300 doanh nghiệp có vốn trên 30 tỷ đồng - mức điều kiện ban đầu để xem xét niêm yết chứng khoán; trong đó khoảng 3.300 công ty cổ phần có tiềm năng tham gia thị trường chứng khoán.
Theo ông Bùi Anh Tuấn, thời gian tới đơn vị sẽ phối hợp với UBCKNN triển khai các giải pháp theo Nghị quyết 08 nhằm hỗ trợ gần 3.000 doanh nghiệp đủ điều kiện công ty đại chúng tham gia thị trường chứng khoán. Các chính sách hỗ trợ dự kiến bao gồm hỗ trợ chi phí niêm yết lần đầu, tư vấn hoàn thiện hồ sơ và triển khai các chương trình hỗ trợ chuyên sâu cho doanh nghiệp chuẩn bị lên sàn.
Kết luận Hội nghị, bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho rằng thị trường chứng khoán vẫn còn nhiều tồn tại cần tiếp tục khắc phục, đặc biệt là chất lượng quản trị doanh nghiệp niêm yết, chất lượng hàng hóa trên thị trường và hiệu quả giám sát.
Theo Bộ trưởng, mức độ đáp ứng các tiêu chí quản trị doanh nghiệp theo chuẩn ASEAN của nhiều doanh nghiệp niêm yết còn thấp, trong khi Việt Nam hiện vẫn nằm trong nhóm cuối khu vực về chất lượng quản trị doanh nghiệp.
Từ thực tế đó, Bộ trưởng yêu cầu tăng cường công khai các bộ tiêu chí quản trị theo chuẩn ASEAN và OECD; đồng thời đẩy mạnh đào tạo, hướng dẫn doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa thông tin và trách nhiệm với nhà đầu tư.
Về định hướng thời gian tới, Bộ trưởng yêu cầu toàn ngành tiếp tục ưu tiên duy trì thị trường hoạt động an toàn, minh bạch và ổn định; giữ vững kết quả nâng hạng, đồng thời củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Bộ trưởng cũng yêu cầu UBCKNN tiếp tục nghiên cứu, rà soát các giải pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả vận hành và thanh khoản của thị trường nhưng vẫn phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hóa và tính minh bạch.
Đối với công tác giám sát thị trường, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn yêu cầu tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị trong Bộ Tài chính, đặc biệt giữa cơ quan chứng khoán và cơ quan thuế nhằm phục vụ giám sát theo thời gian thực và cảnh báo sớm các dấu hiệu bất thường trên thị trường.
Tọa đàm diễn ra trong bối cảnh Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 10 về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu; Chỉ thị 09 về việc tăng cường tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông điện.
Ông Bùi Trung Kiên - Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC) cho biết, trong tháng 5, lượng tiêu thụ điện của TP.HCM liên tiếp lập kỷ lục mới. Cao điểm ngày 14.5, sản lượng tiêu thụ điện tại thành phố vọt lên 197,68 triệu kWh, tăng cao hơn 10,6% so với mức tiêu thụ điện kỷ lục của năm ngoái. Trong bối cảnh đó, ngành điện cũng đã phối hợp với Sở Công thương TP.HCM, vận động khách hàng dịch chuyển 5 - 10% công suất trong khung giờ từ 17 - 20 giờ sang sau 22 giờ vào các tháng 4 đến tháng 7. Tổng tiềm năng dịch chuyển là 210 MW.
EVNHCMC cũng đã mở rộng chương trình dịch chuyển phụ tải với nhóm khách hàng sản xuất có sản lượng tiêu thụ dưới 1 triệu kWh/năm, ưu tiên những đơn vị có tiềm năng tiết giảm điện vào giờ cao điểm.
Ông Bùi Quốc Hoan - Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực Miền Nam (EVNSPC) thông tin, Tổng công ty đã làm việc với khách hàng để thực hiện các chỉ tiêu phát động theo Chỉ thị 09, Chỉ thị 10 của Chính phủ. Đặc biệt, hoàn tất ký thỏa thuận điều chỉnh phụ tải điện (Demand Response - DR) với 5.371 doanh nghiệp trên địa bàn tám tỉnh thành phía nam (gồm An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Tây Ninh, Vĩnh Long). Với ký kết này, khi hệ thống điện căng thẳng, EVNSPC có thể huy động tức thời 260 MW (trong 2 giờ) và 555 MW (trong 24 giờ) mà không cần đầu tư thêm hạ tầng phát điện.Ngoài ra, dự kiến hết tháng 5, Tổng công ty rà soát 261.901 khách hàng thuộc các nhóm chiếu sáng công cộng, hành chính sự nghiệp, thương mại dịch vụ và sản xuất công nghiệp; tiếp tục mở rộng ký cam kết thực hiện dịch chuyển phụ tải và DR đối với khách hàng sử dụng từ 500.000kWh trở lên; làm việc với khách hàng để ký cam kết tiết kiệm ít nhất 3% điện năng tiêu thụ năm nay.
Liên quan điện mặt trời mái nhà, đại diện EVNSPC thông tin, tại 8 tỉnh phía nam do EVNSPC quản lý, đã có 1.904 nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu, với tổng công suất 487,7 MWp, tương đương 1% điện thương phẩm. "Nguồn điện này cũng đóng góp khá lớn trong mục tiêu tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026 của Tổng công ty", ông Hoan nhấn mạnh.
Theo số liệu từ Sở Công thương TP.HCM, đến nay, TP đã có hơn 22.350 hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất khoảng 1.832 MWp. "Tiềm năng phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tại thành phố vẫn còn rất lớn, nhất là tại khu vực dân cư, thương mại và các khu công nghiệp", ông Kiên - EVNHCMC cho hay.
Đại diện ngành điện miền Nam khẳng định, sẽ hỗ trợ tối đa thủ tục cho người dân và doanh nghiệp lắp đặt điện mặt trời mái nhà. Đặc biệt, EVNSPC cam kết phản hồi ý kiến liên quan đến ngành trong quy định lắp đặt điện mặt trời mái nhà tới Sở Công thương các tỉnh thành từ 1- 3 ngày để sở tổng hợp trả lời người dân và doanh nghiệp.
Tại tọa đàm, ngành điện cũng kiến nghị Bộ Công thương, Chính phủ sớm ban hành cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà có lưu trữ để tăng nguồn điện tái tạo này, qua đó góp phần quan trọng trong mục tiêu đề ra là khoảng 10% cơ quan công sở và 10% hộ gia đình lắp điện mặt trời mái nhà hàng năm.