Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam sẽ cần tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư phát triển. Trong bối cảnh dư địa ngân sách và tín dụng có hạn, bài toán huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và dòng vốn quốc tế đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
Trong cuộc trò chuyện với Người Đưa Tin (NĐT), GS.TS Hoàng Văn Cường – Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV; nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước nhiệm kỳ 2024-2029 đã phân tích các kênh dẫn vốn tiềm năng, những điều kiện để khơi thông nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
NĐT: Thưa ông, trong báo cáo giải trình mới đây về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030, Bộ Tài chính cho biết Việt Nam sẽ cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên. Theo ông, đâu là những kênh dẫn vốn hiệu quả và thực tế nhất hiện nay, đặc biệt để thu hút dòng vốn tư nhân và vốn quốc tế?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Về mặt kinh tế, tăng trưởng là kết quả của đầu tư, cùng với các yếu tố như công nghệ và lao động. Muốn tăng trưởng cao thì không thể không gia tăng đầu tư. Vì vậy, nguồn vốn đầu tư là yếu tố mang tính then chốt, quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Trong nhiều năm qua, tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc rất lớn vào tăng đầu tư vốn. Mặc dù hiện nay chúng ta đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhưng trong giai đoạn chuyển tiếp này chưa thể ngay lập tức thay thế vốn bằng công nghệ. Chúng ta vẫn phải tiếp tục đầu tư lớn để tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi đó. Vì vậy, đáp ứng nhu cầu vốn là nhiệm vụ có tính quyết định.
Nguồn vốn ngân sách, như Bộ Tài chính nêu, chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ. Điều đó có nghĩa là nguồn vốn ngoài ngân sách phải trở thành động lực căn bản cho tăng trưởng.
Từ trước đến nay, huy động vốn ngoài ngân sách ở Việt Nam chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng không thể mãi là trụ cột cho tăng trưởng cao. Chẳng hạn, năm 2025 khi tăng trưởng đạt khoảng 8,5%, tín dụng đã phải tăng tới 19,5%, kéo theo nhiều áp lực như lãi suất tăng để đảm bảo thanh khoản hệ thống.
Nếu tiếp tục phụ thuộc vào tín dụng, lãi suất sẽ bị đẩy lên, làm tăng chi phí vốn và gây khó khăn cho mục tiêu kiểm soát lạm phát. Vì vậy, năm 2026, chính sách tài chính – tiền tệ phải ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, nên Chính phủ cũng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng tối đa khoảng 15%. Do đó, phần vốn còn thiếu phải được huy động từ các kênh khác, thay vì tín dụng truyền thống.
Trước hết là thị trường vốn dài hạn như thị trường trái phiếu và cổ phiếu. Đây là các kênh có khả năng huy động nguồn vốn nhỏ lẻ, ngắn hạn để chuyển hóa thành vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế.
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, thị trường trái phiếu là kênh rất cần được thúc đẩy. Trước đây thị trường trái phiếu từng phát triển nóng do khuôn khổ pháp lý và công cụ giám sát chưa hoàn thiện, dẫn tới rủi ro. Nhưng hiện nay, chúng ta đã có nhiều điều kiện thuận lợi hơn như hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, thể chế quản lý được hoàn thiện hơn, kinh nghiệm quản lý thị trường cũng tốt hơn.
Trái phiếu có thể bao gồm trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu công trình, trái phiếu cho các dự án hạ tầng lớn. Đặc biệt là trái phiếu xanh cho các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, năng lượng tái tạo, metro, giao thông xanh… Đây là thị trường rất tiềm năng để huy động nguồn lực.
Kênh thứ hai là hợp tác công – tư (PPP). Đây là phương thức kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân, trong đó Nhà nước không phải bỏ quá nhiều vốn mà huy động nguồn lực tư nhân vào các lĩnh vực trước đây vốn do Nhà nước đầu tư.
Tuy nhiên, muốn PPP hấp dẫn hơn thì phải hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro, đảm bảo công bằng lợi ích cho nhà đầu tư. Dù vậy, tôi cho rằng đây vẫn là kênh có tiềm năng rất lớn, không chỉ trong hạ tầng mà còn có thể mở rộng sang văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế và dịch vụ công.
Ngoài ra, FDI vẫn luôn là nguồn vốn rất quan trọng vì đi kèm với công nghệ. Nếu thu hút được FDI thế hệ mới, Việt Nam sẽ vừa có vốn, vừa tiếp cận được các công nghệ mới trong các lĩnh vực ưu tiên như AI, chip bán dẫn…
Đặc biệt, việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Tp.HCM và Đà Nẵng cũng có thể trở thành đầu mối thu hút dòng vốn tài chính quốc tế vào Việt Nam.
Bên cạnh đó, cần khơi thông nguồn vốn trong dân và trong doanh nghiệp. Đây là nguồn lực rất lớn. Nếu có cơ chế phù hợp để người dân chuyển tài sản tích trữ thành vốn đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua quỹ đầu tư, trái phiếu, thị trường tài chính…, chúng ta sẽ tạo được nguồn lực rất mạnh cho phát triển.
NĐT: Theo kế hoạch, khoảng 25,5 triệu tỷ đồng sẽ phải huy động từ khu vực tư nhân. Theo ông, mục tiêu này có khả thi trong vòng 5 năm tới không?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Theo tôi, tính khả thi không phụ thuộc vào con số lớn hay nhỏ, mà phụ thuộc vào cơ chế huy động vốn. Nếu có cơ chế tốt thì ngay cả nguồn lực đang nằm trong dân như vàng tích trữ cũng có thể chuyển thành vốn đầu tư. Điều quan trọng nhất là thể chế.
Nếu chúng ta có môi trường đầu tư hấp dẫn, nhà đầu tư nước ngoài sẽ mạnh dạn rót vốn. Nếu trung tâm tài chính quốc tế hoạt động hiệu quả và thu hút được các định chế tài chính lớn thì dòng vốn đổ vào Việt Nam sẽ rất lớn. Tương tự, PPP cũng không chỉ giới hạn ở nhà đầu tư trong nước mà hoàn toàn có thể thu hút nhà đầu tư quốc tế.
Ngoài ra, Việt Nam hiện đang được nâng hạng tín nhiệm quốc gia, khả năng trả nợ được đánh giá tích cực hơn. Thị trường chứng khoán cũng vừa được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Đây là những điều kiện thuận lợi để huy động cả vốn đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp.
NĐT: Thưa ông, tăng đầu tư quy mô lớn thường đi kèm nhiều rủi ro. Theo ông, cần làm gì để vừa đạt tăng trưởng cao vừa kiểm soát được lạm phát, nợ công và ổn định ngân sách?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Đúng là khi gia tăng quy mô đầu tư và dòng vốn thì nguy cơ xảy ra tăng trưởng nóng là điều phải đặc biệt lưu ý. Nếu chạy theo mục tiêu tăng trưởng mà dồn vốn vào những lĩnh vực hấp thụ vốn nhanh nhưng thiếu bền vững, có thể tạo ra tăng trưởng cao trong ngắn hạn nhưng sẽ dẫn đến mất cân đối và bất ổn kinh tế.
Do đó, tăng trưởng phải luôn gắn với ổn định kinh tế vĩ mô. Hai mục tiêu này phải song hành với nhau. Ổn định vĩ mô tốt sẽ tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, từ đó thu hút thêm nguồn lực đầu tư. Ngược lại, tăng trưởng hiệu quả cũng giúp củng cố ổn định vĩ mô.
Điều quan trọng là Nhà nước phải định hướng dòng vốn, cả vốn công và vốn tư, vào những lĩnh vực tạo ra tăng trưởng bền vững, tránh dồn vào các tài sản mang tính đầu cơ như bất động sản hay chứng khoán. Nếu vốn chảy quá mạnh vào tài sản tài chính mà không vào sản xuất, xuất khẩu hay kinh tế thực thì sẽ dẫn đến mất cân đối và khủng hoảng.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần tiếp tục sử dụng hiệu quả các công cụ tài khóa, tiền tệ để ổn định vĩ mô. Thời gian qua chúng ta đã làm khá tốt việc này, từ ứng phó với dịch bệnh cho tới biến động giá dầu hay khủng hoảng kinh tế thế giới.
Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện các lĩnh vực có nguy cơ rủi ro cao, từ đó kịp thời điều tiết dòng vốn.
NĐT: Thủ tướng thời gian qua cũng nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt là giảm hệ số ICOR. Theo ông, việc giảm ICOR có ý nghĩa như thế nào đối với mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
GS.TS Hoàng Văn Cường: ICOR phản ánh mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng. Nói cách khác, nó đo hiệu quả của đồng vốn đầu tư. Giảm ICOR không phải là tìm cách kéo con số xuống một cách cơ học, mà là làm sao để đồng vốn đầu tư nhanh chóng chuyển thành sản phẩm và tăng trưởng. Nếu vốn đầu tư bị nằm đọng, không tạo ra sản phẩm thì ICOR sẽ tăng lên.
Do đó, muốn giảm ICOR thì phải bảo đảm dòng vốn được đưa vào những lĩnh vực có khả năng chuyển hóa nhanh thành sản phẩm, tránh đầu tư đầu cơ hoặc chôn vốn. Đặc biệt, các dự án đầu tư phải hoàn thành nhanh và đưa vào khai thác sớm. Đầu tư công nếu dàn trải sẽ khiến thời gian kéo dài, hiệu quả thấp. Ngược lại, đầu tư tập trung, trọng điểm và dứt điểm sẽ giúp giảm ICOR rõ rệt.
Không chỉ đầu tư công, nhiều dự án tư nhân hiện nay cũng đang bị đình trệ do vướng pháp lý, thủ tục hành chính. Điều này khiến vốn bị “chết”, làm ICOR tăng cao. Vì vậy, cần tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý để khơi thông dòng vốn.
Quan trọng hơn, đầu tư phải gắn với tiềm năng phát triển. Khu vực nào, lĩnh vực nào có tiềm năng thì tập trung đầu tư vào đó. Nếu đầu tư vào nơi không có khả năng phát triển thì rất dễ trở thành nơi “chôn vốn”.
NĐT: Bộ Tài chính cho biết khoảng 3 triệu tỷ đồng đang bị tồn đọng trong các dự án dở dang. Theo ông, đâu là giải pháp để xử lý dứt điểm tình trạng này?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Các dự án tồn đọng, đắp chiếu đang làm chôn vùi nguồn lực rất lớn. Không chỉ vốn đầu tư bị mắc kẹt mà đất đai, cơ hội phát triển và nhiều nguồn lực liên quan khác cũng bị đình trệ.
Nguyên nhân phổ biến nhất hiện nay là vướng mắc pháp lý. Có trường hợp do thay đổi chính sách, quy hoạch; nhưng cũng có trường hợp do doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý vi phạm quy định dẫn tới bị thanh tra, đình lại. Quốc hội vừa qua đã ban hành nghị quyết tháo gỡ các dự án vướng mắc pháp lý. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là khâu thực thi ở địa phương.
Các địa phương phải thực sự năng động, dám làm, dám quyết định thì mới xử lý được các dự án tồn đọng. Ví dụ như việc xác định lại giá đất hay xử lý các thủ tục chuyển tiếp đều đòi hỏi trách nhiệm rất lớn từ chính quyền địa phương.
Ngoài ra, có nhiều dự án chậm do nhà đầu tư yếu năng lực. Trong trường hợp này, Nhà nước cần có cơ chế để chuyển giao cho nhà đầu tư mới có năng lực hơn tiếp tục triển khai dự án.
NĐT: Chính phủ mới ban hành 8 nghị quyết cắt giảm hàng trăm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Theo ông, những cải cách này sẽ tác động thế nào tới huy động vốn và mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Thủ tướng từng nói rằng cách nhanh nhất, rẻ nhất để thúc đẩy tăng trưởng là cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm đó.
Việc cắt giảm này trước hết làm thay đổi tư duy quản lý, chuyển từ cơ chế “xin – cho” sang Nhà nước kiến tạo và phục vụ. Thay vì doanh nghiệp phải chờ cấp phép, Nhà nước xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn để doanh nghiệp tự tuân thủ và tự chịu trách nhiệm. Điều đó sẽ tạo môi trường kinh doanh thông thoáng hơn rất nhiều.
Khi thủ tục được cắt giảm, doanh nghiệp sẽ chủ động đầu tư, chủ động kinh doanh mà không bị ách tắc bởi các khâu xin phép. Nhờ đó, các nguồn lực trong xã hội được huy động mạnh mẽ hơn cho phát triển.
Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Những lĩnh vực thực sự cần quản lý vẫn phải duy trì, nhưng cần chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Nhà nước công bố tiêu chuẩn, điều kiện; doanh nghiệp tự công khai hoạt động của mình và thị trường sẽ cùng tham gia giám sát. Cách quản lý này minh bạch và hiệu quả hơn nhiều so với mô hình cấp phép truyền thống. Chính điều đó sẽ tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh, minh bạch và trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.
Trong hơn một tháng trở lại đây, thị trường sầu riêng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chứng kiến đà giảm giá, biến động liên tục, kéo theo tâm lý lo lắng lan rộng trong giới nhà vườn.
Tại các vùng trồng trọng điểm như Đồng Tháp không khí thu hoạch năm nay kém phần phấn khởi so với những vụ trước. Từ vị thế "vua trái cây" mang lại nguồn thu lớn, sầu riêng đang rơi vào vòng xoáy quen thuộc.
Theo ghi nhận chiều 5/5 tại các vựa thu mua ở Đồng Tháp, giá sầu riêng đã giảm sâu so với thời điểm cách đây vài tháng. Cụ thể, sầu riêng Thái loại A hiện chỉ còn khoảng 80.000 đồng/kg, loại B khoảng 60.000 đồng/kg; Sầu riêng Ri6 có giá dao động từ 40.000 – 48.000 đồng/kg đối với loại A và 24.000 – 33.000 đồng/kg đối với loại B; Sầu riêng Musang King loại A giá khoảng 90.000 đồng/kg, loại B giá khoảng 70.000 đồng/kg.
Đáng chú ý, các loại sầu riêng không đạt chuẩn xuất khẩu hoặc bị lỗi hình thức có giá thấp hơn nhiều.
Không chỉ riêng Đồng Tháp, tình trạng giảm giá cũng ghi nhận tại nhiều vùng trồng sầu riêng trọng điểm khác như ĐBSCL, Đông Nam Bộ hay Tây Nguyên.
Chia sẻ với PV, ông Trần Văn Hùng (xã Hiệp Đức, Đồng Tháp) cho biết, gia đình ông đang thu hoạch gần 2 ha sầu riêng Ri6. Tuy nhiên, niềm vui trúng mùa nhanh chóng bị thay thế bởi nỗi lo về giá.
"Thương lái hiện chỉ trả khoảng 40.000 đồng/kg đối với hàng loại A và khoảng 26.000 đồng/kg đối với hàng xô dạt. Mức giá này thấp nhất từ trước đến nay", ông Hùng nói.
Theo ông, chi phí đầu tư cho vườn sầu riêng ngày càng tăng, từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến công lao động. Trong bối cảnh giá bán giảm sâu, nhiều nhà vườn gần như không có lãi, thậm chí đứng trước nguy cơ thua lỗ nếu tính đủ chi phí.
Không chỉ chịu áp lực từ giá thấp, nhiều nhà vườn còn đối mặt với biến động giá theo từng ngày. Trường hợp của ông Bùi Quang Công (xã Ngũ Hiệp, Đồng Tháp) cho thấy rõ sự bấp bênh này.
Ông Công cho biết, chỉ trong vòng chưa đầy 24 giờ, giá sầu riêng Thái loại A tại vườn đã giảm mạnh. "Chiều 4/5, thương lái vào chốt giá 100.000 đồng/kg, nhưng sang hôm sau quay lại chỉ còn 80.000 đồng/kg, giảm gần 20.000 đồng/kg. Giá lên xuống bất thường quá", ông nói.
Theo tính toán của ông Công, với mức giảm này, mỗi tấn sầu riêng ông đã "bốc hơi" khoảng 20 triệu đồng chỉ sau một ngày. Trước diễn biến khó lường của thị trường, ông quyết định bán sớm để giảm rủi ro thay vì tiếp tục neo hàng chờ giá lên.
"Giá sầu riêng Thái như hiện tại còn bán được. Nếu chờ thêm mà giá xuống nữa, chưa kể trái để lâu trên cây dễ bị sượng hoặc hư hỏng thì thiệt hại còn lớn hơn", ông chia sẻ.
Theo anh Phan Trọng Hiếu (chủ kho sầu riêng Hiếu Nghĩa tại Cai Lậy) cho biết, nguyên nhân khiến giá sầu riêng giảm sâu không chỉ đến từ yếu tố cung vượt cầu, mà còn do những rào cản kỹ thuật ngày càng siết chặt từ thị trường xuất khẩu, đặc biệt là Trung Quốc thị trường tiêu thụ lớn nhất của sầu riêng Việt Nam.
Bên cạnh đó, thời điểm thu hoạch rộ của sầu riêng Việt Nam lại trùng với vụ chính của Thái Lan - quốc gia có lợi thế về sản lượng, chất lượng và hệ thống logistics. Điều này khiến áp lực cạnh tranh tại thị trường Trung Quốc trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
Một yếu tố khác cũng gây ảnh hưởng lớn là hệ thống kiểm nghiệm trong nước chưa đáp ứng kịp nhu cầu. Nhiều phòng kiểm nghiệm rơi vào tình trạng quá tải, thậm chí tạm ngưng tiếp nhận mẫu, khiến doanh nghiệp xuất khẩu bị động, kéo dài thời gian hoàn tất hồ sơ.
Ngoài ra, việc quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói còn tồn tại nhiều bất cập. Một số đơn vị không đạt chuẩn bị thu hồi chứng nhận, trong khi tình trạng "mượn mã số", "xào nấu" hàng hóa vẫn diễn ra, ảnh hưởng đến uy tín chung của ngành hàng.
Trước bối cảnh giá sầu riêng liên tục lao dốc, ngành chức năng tại Đồng Tháp đang đối mặt với áp lực lớn trong việc tìm giải pháp ổn định thị trường và bảo vệ người trồng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp, toàn tỉnh hiện có hơn 32.100 ha sầu riêng, với sản lượng ước đạt khoảng 511.000 tấn mỗi năm. Riêng trong giai đoạn cao điểm từ tháng 5 đến tháng 6, sản lượng thu hoạch dự kiến vượt 111.200 tấn.
Tại cuộc họp do UBND tỉnh tổ chức chiều 4/5 nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, lãnh đạo ngành nông nghiệp đã chỉ ra ba "nút thắt" chính đang kìm hãm sự phát triển của ngành hàng sầu riêng.
Thứ nhất là là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Thời điểm thu hoạch rộ của Đồng Tháp trùng với vụ chính của Thái Lan quốc gia có lợi thế về sản lượng và chuỗi cung ứng khiến thị trường Trung Quốc trở nên cạnh tranh khốc liệt hơn, đặc biệt khi đây là đầu ra chủ lực của sầu riêng Việt Nam.
Nút thắt thứ hai đến từ hệ thống kiểm nghiệm chất lượng. Theo phản ánh của Hiệp hội Sầu riêng tỉnh, nhiều trung tâm kiểm nghiệm đang trong tình trạng quá tải, thậm chí tạm ngưng tiếp nhận mẫu từ khu vực miền Tây. Điều này khiến doanh nghiệp xuất khẩu bị động trong việc hoàn thiện hồ sơ, kéo dài thời gian thông quan và làm lỡ nhịp thị trường.
Thứ ba, tình trạng trái sầu riêng bị cảnh báo nhiễm kim loại nặng (cadimi) và chất vàng O đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín thương hiệu. Việc quản lý mã số vùng trồng còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng "xào nấu" hàng hóa, mượn mã số trái phép.
Dù đã triển khai nhiều giải pháp trong thời gian qua, nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Ngành nông nghiệp địa phương đã phối hợp với các viện nghiên cứu triển khai các mô hình xử lý đất nhằm hạn chế cây hấp thụ cadimi.
Đồng thời nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật để giảm dư lượng kim loại nặng trong đất. Các phòng thí nghiệm cũng được hỗ trợ nâng cao năng lực kiểm nghiệm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.
Song song đó, lực lượng công an đã vào cuộc rà soát các doanh nghiệp được cấp mã số vùng trồng nhưng không hoạt động thực tế tại địa phương, nhằm chấn chỉnh tình trạng ủy quyền xuất khẩu sai quy định.
Theo đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Phước Thiện yêu cầu ngành nông nghiệp tăng cường kiểm tra đột xuất các vùng trồng. Những trường hợp không tuân thủ quy trình canh tác, không ghi chép đầy đủ nhật ký sản xuất sẽ bị kiến nghị thu hồi mã số vùng trồng nhằm giảm thiểu rủi ro cho toàn ngành.
Đối với vấn đề cadimi, lãnh đạo tỉnh chỉ đạo hướng dẫn nông dân cải tạo đất, nâng độ pH để hạn chế khả năng cây hấp thụ kim loại nặng. Đồng thời, khuyến khích áp dụng các bộ kit test nhanh để sàng lọc sớm các vùng trồng an toàn, giúp rút ngắn thời gian kiểm soát chất lượng thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống phòng thí nghiệm.
Về lâu dài, Đồng Tháp đặt mục tiêu xây dựng đề án phát triển sầu riêng theo hướng bền vững. Trong đó, đáng chú ý là kế hoạch thành lập Trung tâm Kỹ thuật công nghiệp theo mô hình của Hàn Quốc, nhằm hỗ trợ nông dân kiểm soát chất lượng đất và sản phẩm sau mỗi vụ thu hoạch.
Theo kết luận, xã Đông Hòa là đơn vị hành chính mới của tỉnh An Giang, được thành lập từ ngày 1/7/2025 trên cơ sở hợp nhất xã Đông Thạnh và xã Đông Hòa thuộc huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang trước đây. Địa phương có diện tích hơn 15.187 ha với dân số trên 45.000 người.
Theo Thanh tra tỉnh, sau khi sáp nhập, xã Đông Hòa có nhiều tiềm năng phát triển về nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái. Tuy nhiên, thời gian qua, tình hình an ninh trật tự tại một số khu vực diễn biến phức tạp, đặc biệt tại ấp Trung Hòa – nơi có phần diện tích đất do Nông trường Sông Hậu giao lại cho địa phương quản lý.
Kết luận thanh tra cho biết, từ năm 2024 đã phát sinh tranh chấp giữa các hộ dân sinh sống trong khu vực này. Nhiều hộ dân liên tục gửi đơn kiến nghị, phản ánh đến các cơ quan chức năng, đề nghị xem xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Qua kiểm tra, xác minh, đoàn thanh tra xác định khu đất xảy ra tranh chấp có diện tích thực tế hơn 113.317 m² nằm tại ấp Trung Hòa (trước đây là ấp Hòa Đông), xã Đông Hòa. Năm 1985, Nông trường Sông Hậu đã tiến hành khai hoang khu đất này để trồng lúa. Đến khoảng cuối năm 1986 – đầu năm 1987, Nông trường bàn giao lại cho tỉnh Kiên Giang quản lý.
Tuy nhiên, từ năm 1986 đến nay, chính quyền địa phương không thực hiện các trình tự, thủ tục để xác lập quyền quản lý đất công ích. Hậu quả là toàn bộ khu đất trên không có hồ sơ kỹ thuật địa chính và hoàn toàn bị buông lỏng quản lý trên thực tế.
Sự lỏng lẻo này thể hiện rõ qua việc vào năm 1994 và 2002, UBND xã Đông Hòa đã tự ý lập hợp đồng cho 6 hộ dân thuê tổng diện tích hơn 23.053 m² trái quy định pháp luật. Mặc dù thời hạn cho thuê chỉ 1 năm, nhưng khi hết hạn, xã không tiến hành thanh lý hay chấm dứt hợp đồng, để mặc người dân tiếp tục sử dụng.
Bên cạnh đó, nhiều công trình công cộng như Trường Tiểu học Đông Hòa 3 (xây dựng từ năm 1998), Trường THCS Đông Hòa 1 (xây dựng từ năm 2007) và Trạm cấp nước Đông Hòa (đưa vào sử dụng năm 2025) đều được xây dựng nhưng chưa thực hiện các thủ tục để được cơ quan có thẩm quyền giao đất theo đúng Luật Đất đai.
Đỉnh điểm của những sai phạm trong công tác quản lý diễn ra vào năm 2012. Khi đó, Chủ tịch UBND huyện An Minh (cũ) đã ban hành quyết định thành lập đoàn "phúc tra" đối với kết luận thanh tra năm 2010. Cơ quan thanh tra tỉnh khẳng định, việc lập đoàn phúc tra này hoàn toàn không đúng với quy định của pháp luật về thanh tra.
Dựa trên kết luận phúc tra thiếu cơ sở pháp lý này, UBND huyện An Minh đã vội vàng ban hành 15 quyết định thu hồi 99.600m² đất của 15 hộ dân. Đáng nói, sau khi triển khai quyết định thu hồi, UBND xã Đông Hòa không hề thực hiện thủ tục quản lý, để 15 hộ dân vẫn tiếp tục sử dụng đất cho đến nay.
Tình trạng thiếu sát sao của chính quyền còn dẫn đến tình hình vi phạm trật tự xây dựng phức tạp. Chỉ tính từ năm 2024 đến năm 2026, khu vực này có tới 14 trường hợp cất nhà, công trình vi phạm pháp luật về đất đai và xây dựng.
Trong đó, có 10 trường hợp xã phát hiện nhưng không lập thủ tục xử lý vi phạm hành chính, 4 trường hợp còn lại chính quyền hoàn toàn không có biện pháp ngăn chặn.
Từ những kết quả xác minh trên, Chánh Thanh tra tỉnh An Giang kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo UBND xã Đông Hòa thực hiện hủy bỏ 15 quyết định thu hồi đất ban hành ngày 14/9/2012 của UBND huyện An Minh do ban hành không đúng quy định.
Chính quyền cần rà soát quá trình sử dụng đất của 21 cá nhân đang sử dụng hiện trạng để giải quyết đúng pháp luật, đảm bảo không thất thoát tài sản Nhà nước và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân.
Yêu cầu các Trường học và Trung tâm nước sạch khẩn trương hoàn thiện thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Mở cửa phiên giao dịch hôm nay, vào lúc 8h34' ngày 27/6, giá vàng miếng SJC được điều chỉnh tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với kết phiên hôm qua, niêm yết ở mức 145,5-148,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).
Giá vàng nhẫn loại 1-5 chỉ của SJC cũng tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả 2 chiều so với chốt phiên hôm qua, giao dịch ở mức 145,4-148,4 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).
Cụ thể, tại Bảo Tín Mạnh Hải, giá vàng miếng SJC giao dịch ở mức 145,5-148,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với kết phiên hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng SJC tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 800 nghìn đồng ở chiều mua vào so với kết phiên hôm qua, niêm yết ở mức 144,3-148,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Chênh lệch giữa 2 chiều mua – bán ở mức 4,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC tại Phú Quý giao dịch quanh mức 145,5-148,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với kết phiên hôm qua. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Riêng Mi Hồng, giá vàng miếng SJC hôm nay đang niêm yết ở mức 146,0 - 148,0 triệu đồng/lượng. Giá mua vào và bán ra cùng tăng thêm 2 triệu đồng/lượng so với ngày hôm qua.
Ngoài ra, giá vàng SJC tại Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) giao dịch ở mức 145,5-148,5 triệu đồng/lượng (mua - bán); giá vàng miếng SJC Hà Nội tại Vàng bạc đá quý Asean giao dịch ở mức 145,5-148,5 triệu đồng/lượng (mua - bán);...
Đối với vàng nhẫn, giá vàng nhẫn tròn ép vỉ của Bảo Tín Mạnh Hải giao dịch quanh mức 145,5 - 148,5 triệu đồng/lượng, tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và chiều bán ra so với kết phiên hôm qua. Chênh lệch chiều mua – bán ở mức 3 triệu đồng.
Giá nhẫn tròn trơn Vàng Rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu, giao dịch ở mức 144,3 - 148 triệu đồng/lượng (mua – bán), tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều bán ra và mua vào so với kết phiên hôm qua. Chênh lệch chiều mua – bán ở mức 3,7 triệu đồng.
Giá vàng nhẫn Doji Hưng Thịnh Vượng 9999 của Tập đoàn Doji tại thị trường Hà Nội giao dịch ở mức 145,5 - 148,5 triệu đồng/lượng, tăng mạnh 1,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và chiều bán ra so với kết phiên hôm qua. Chênh lệch chiều mua – bán ở mức 3 triệu đồng.
Giá vàng hôm nay nhẫn tròn trơn 999,9 tại Công ty Phú Quý giao dịch quanh mức 143,5 - 146,5 triệu đồng/lượng, tăng mạnh 1 triệu đồng/lượng chiều mua vào và chiều bán ra chiều bán ra so với trước phiên sáng qua. Chênh lệch mua – bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thế giới phục hồi
Tính đến 9h30 ngày 27/6/2026 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới đang giao ngay mức 4.088,6 USD/ounce. Ghi nhận tăng 63,0 USD/ounce so với phiên trước. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26.454 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 130,4 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). So sánh với giá vàng miếng SJC trong nước cùng ngày (145,5-148,5 triệu đồng/lượng), giá vàng SJC hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 18,1 triệu đồng.
Giá vàng thế giới tăng nhẹ trong phiên thứ Sáu khi đồng USD hạ nhiệt, còn kỳ vọng về việc Mỹ tăng lãi suất có phần giảm sau dữ liệu lạm phát mới. Tuy vậy, kim loại quý vẫn đang hướng tới tuần giảm thứ tư liên tiếp.
Theo công cụ FedWatch của CME Group, thị trường hiện đánh giá khoảng 60% khả năng Fed tăng lãi suất vào tháng 9, thấp hơn mức 64% trước đó. Việc kỳ vọng lãi suất giảm nhẹ đã hỗ trợ giá vàng hồi phục sau áp lực bán trong tuần.
Dù vậy, giá vàng giao ngay vẫn đã rơi xuống mức thấp nhất hơn 7 tháng trong tuần này và giảm khoảng 2,6% tính từ đầu tuần. Lãi suất cao thường làm giảm sức hấp dẫn của vàng, do vàng không mang lại lợi suất như trái phiếu hay các tài sản sinh lãi khác.
Dự báo giá vàng
Khảo sát vàng hằng tuần của Kitco News cho thấy, giới đầu tư vẫn nghiêng về kịch bản giá giảm trong ngắn hạn, dù tâm lý bi quan đã phần nào dịu bớt. Nhiều chuyên gia nhận định vàng đang trong trạng thái bán quá mức và có cơ hội phục hồi kỹ thuật.
Ông Adrian Day, Chủ tịch Adrian Day Asset Management cho rằng, thị trường vàng đang chịu tác động từ nhiều yếu tố trái chiều. Trong khi căng thẳng địa chính trị và nhu cầu thanh khoản có thể hỗ trợ giá vàng, triển vọng lạm phát hạ nhiệt nhờ giá dầu giảm lại tạo điều kiện để Fed không cần thắt chặt chính sách mạnh hơn.
Các chuyên gia như Darin Newsom của Barchart.com, Rich Checkan của Asset Strategies International và Jesse Colombo, nhà sáng lập BubbleBubble Report, đều đánh giá vàng có khả năng tăng trở lại trong tuần tới. Theo ông Colombo, vùng 3.900 - 4.100 USD/ounce đang đóng vai trò hỗ trợ quan trọng và việc giá giữ vững trên mốc 4.100 USD sẽ giúp cải thiện đáng kể tâm lý thị trường.
Ông Colombo cũng cho rằng thị trường đã phản ứng thái quá trước lập trường cứng rắn của Fed trong những tháng gần đây. Trong bối cảnh kỳ vọng lạm phát giảm dần, lợi suất trái phiếu Mỹ có xu hướng hạ nhiệt và đồng USD suy yếu, vàng vẫn được kỳ vọng duy trì xu hướng tăng trong dài hạn, dù ngắn hạn có thể tiếp tục biến động mạnh.