Loạt quốc gia vùng Vịnh hôm 8/4 trải qua đêm bình yên đầu tiên kể từ khi chiến sự Trung Đông bùng phát ngày 28/2. Các nước trong khu vực như Bahrain, Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), Arab Saudi, Qatar, Kuwait hay Oman đều không ghi nhận bất cứ cuộc tấn công nào bằng tên lửa và máy bay không người lái (UAV) từ Iran, sau khi lệnh ngừng bắn hai tuần giữa Mỹ và Iran được công bố.
Người dân Tehran cũng đổ xuống đường vẫy cờ và hô khẩu hiệu ăn mừng sau khi lệnh ngừng bắn được công bố. Thủ đô Iran mang không khí như kỳ nghỉ lễ khi tiếng bom đạn đã ngừng. Nhiều cửa hàng đóng cửa, trong khi các quán cà phê ngoài trời ở những khu phố cao cấp lại chật kín khách. Các trạm kiểm soát do lực lượng vũ trang canh gác, từng xuất hiện dày đặc khắp thành phố những tuần gần đây, cũng không còn.
Tuy nhiên, nỗi thấp thỏm chưa phải đã đi qua. Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran tuyên bố lệnh ngừng bắn không đồng nghĩa với việc chiến sự đã chấm dứt. “Chúng tôi vẫn luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Chỉ cần đối phương mắc sai lầm dù là nhỏ nhất, họ sẽ phải đối mặt với toàn bộ sức mạnh đáp trả của chúng tôi”, hội đồng cho biết.
Chính phủ Iran cho rằng lệnh ngừng bắn là một chiến thắng, khi họ đã khiến Mỹ phải “đầu hàng”. Trong khi đó, chính quyền Tổng thống Donald Trump cũng mô tả thỏa thuận tạm ngừng giao tranh này là một chiến thắng vì các mục tiêu quân sự cốt lõi đã hoàn thành.
Nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth tuyên bố lực lượng quân sự đã được triển khai đến Trung Đông sẽ “giữ nguyên vị trí, luôn sẵn sàng, cảnh giác và chuẩn bị tái khởi động chiến dịch bất cứ lúc nào”, cho thấy nguy cơ với khu vực chưa qua đi.
Điểm mấu chốt trong thỏa thuận ngừng bắn là việc khai thông eo biển Hormuz chưa rõ ràng. Trong khi ông Trump tuyên bố Iran đã đồng ý “mở cửa hoàn toàn, lập tức và an toàn Hormuz”, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi lại nói việc đi qua eo biển sẽ do lực lượng vũ trang nước này điều phối. Tehran đã thu phí tàu bè băng qua eo biển kể từ khi cuộc chiến nổ ra, hành động mà họ đang tìm cách duy trì lâu dài để lấy kinh phí tái thiết sau xung đột.
Iran đã nhất trí mở lại eo biển, nhưng hoạt động vận chuyển dầu qua tuyến hàng hải quan trọng này vẫn gần như bị đình trệ do thiếu sự hướng dẫn rõ ràng từ Tehran, theo CNN. Chỉ có 10 tàu đi qua eo biển Hormuz kể từ khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, theo thống kê của AFP.
Các bên trung gian và môi giới hàng hải nói rằng Iran yêu cầu tàu hàng phải thỏa thuận trước về phí quá cảnh, sau đó thanh toán bằng tiền điện tử hoặc đồng nhân dân tệ. Mức phí phụ thuộc vào kích thước tàu, bao gồm phí quá cảnh cơ bản, hộ tống an ninh và xử lý hành chính.
Theo Mohammed Baharoon, tổng giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Công B’huth Dubai, tổ chức tư vấn tại UAE, Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã chịu tổn thất nặng nề sau hơn 5 tuần xung đột, nhưng lực lượng này đang nắm trong tay “lá bài tẩy” là quyền kiểm soát eo biển Hormuz, vốn được quy định trong thỏa thuận ngừng bắn.
Tổng thống Trump ngày 9/4 cảnh báo Iran không thu phí tàu di chuyển qua eo biển Hormuz, chỉ trích Tehran đang điều hành “rất tệ”. Tuy nhiên, Baharoon cho rằng lời đe dọa như vậy sẽ không thể khiến IRGC chùn bước.
Dữ liệu theo dõi tàu thuyền ngày 8/4 cho thấy chỉ có một lượng rất ít tàu di chuyển qua hành lang mà Iran thiết lập hồi tháng trước trong vùng lãnh hải của mình và không có dấu hiệu khôi phục lưu thông bình thường qua tuyến hàng hải thông thường vốn đi qua vùng biển Oman.
“Kết quả thực sự cho vấn đề này sẽ ngã ngũ sau cuộc đàm phán tại Islamabad. Nếu Iran rời bàn đàm phán mà vẫn giữ được bất kỳ hình thức kiểm soát nào đối với eo biển Hormuz, đó là một chiến thắng tuyệt đối cho họ”, Nadim Koteich, nhà phân tích kiêm cố vấn chính trị UAE, cho hay.
“Nếu thế giới thành công trong việc tước bỏ khả năng vũ khí hóa eo biển Hormuz của Iran, giống như cách họ từng bị tước bỏ khả năng vũ khí hóa uranium, thì cuộc chiến này, dù cái giá phải trả lớn đến mức nào, vẫn là một thất bại chiến lược đối với Cộng hòa Hồi giáo”, Koteich nói thêm.
Theo Bader al-Saif, giáo sư lịch sử tại Đại học Kuwait, việc biến eo biển Hormuz thành vấn đề then chốt của cuộc chiến đã là một thành công lớn đối với Iran.
“Mọi chuyện bắt đầu từ vấn đề hạt nhân, nhưng Iran đã biến nó thành chuyện ở eo biển Hormuz”, ông nói. “Vì vậy, thay vì tập trung vào vấn đề cốt lõi, một vấn đề phụ giờ đây lại trở thành trọng tâm. Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi đó vẫn hiện hữu và cần phải được giải quyết dứt điểm”.
Chuyên gia Baharoon cho rằng Iran là bên duy nhất hài lòng với kết quả này, trong khi các đồng minh của Mỹ ở vùng Vịnh vẫn sẽ phải hứng chịu hậu quả nặng nề về kinh tế nếu Tehran tiếp tục hạn chế dòng chảy dầu khí qua eo biển Hormuz.
“Giờ đây, họ đã tái lập vị thế giống như một cảnh sát vùng Vịnh”, Baharoon nhận định. “Chúng ta thức dậy với một thỏa thuận không giảm bớt rủi ro, mà trái lại, còn khiến ta đối mặt nguy cơ lớn hơn”.
Tương lai khu vực
Ngoài ra, lệnh ngừng bắn hai tuần không đồng nghĩa với việc chấm dứt hoàn toàn tiếng súng. Phái đoàn Mỹ và Iran nhiều khả năng sẽ gặp trực tiếp ở Islamabad, Pakistan, vào cuối tuần này để thảo luận về thỏa thuận ngừng bắn lâu dài, nhưng chưa có gì đảm bảo nỗ lực này sẽ thành công.
“Điều quan trọng là cần nhìn nhận vấn đề một cách khách quan. Đây chỉ là lệnh ngừng bắn tạm thời trong hai tuần, không phải một thỏa thuận”, Hamad Althunayyan, chuyên gia phân tích chính trị kiêm giáo sư tại Đại học Kuwait, cho hay. “Thời hạn này có thể được gia hạn nhưng xung đột cũng có thể tái diễn nếu vòng đàm phán đầu tiên không thành công”.
Việc ông Trump chuyển từ lời đe dọa “hủy diệt cả một nền văn minh” vào 7/4 đến chấp nhận ngừng bắn với Iran một ngày sau khiến nhiều quốc gia vùng Vịnh hoài nghi về việc liệu Washington sẽ quyết tâm đến mức nào để vừa hoàn thành các mục tiêu đề ra, vừa bảo vệ các đồng minh khu vực, Mahdi Ghuloom, nhà nghiên cứu người Bahrain tại tổ chức tư vấn ORF Trung Đông, nhận định.
“Tổng thống Trump đã quyết định thỏa hiệp và với hành động đó, ông ấy rõ ràng đang gạt các đồng minh của mình tại vùng Vịnh sang một bên”, Ghuloom nói.
Theo Wall Street Journal, chắc chắn không quốc gia vùng Vịnh nào ủng hộ việc Trump đe dọa phá hủy hạ tầng năng lượng và oanh tạc khiến Iran “trở lại thời kỳ đồ đá”, bởi họ mới là bên có thể phải hứng chịu hậu quả từ đòn trả đũa của Tehran. Hôm 8/4, cảm giác nhẹ nhõm có thể thấy rõ tại Dubai, Doha và Kuwait khi họ tránh được nguy cơ các nhà máy điện và cơ sở khử mặn của mình bị Iran tấn công.
“Mỹ và Israel phát động chiến dịch tấn công mà không tính đến lợi ích của các nước vùng Vịnh, biến chúng tôi thành những bên chịu tổn thương gián tiếp”, al-Saif cho biết thêm. “Nỗi lo sợ hiện nay là tình trạng này sẽ kéo dài sang cả thời bình và đây là điều chúng tôi không thể chấp nhận và sẽ đấu tranh để ngăn chặn”.
Giới lãnh đạo vùng Vịnh đến nay chưa công khai chỉ trích quyết định ngừng bắn của Tổng thống Trump. Arab Saudi đã ra tuyên bố nói rằng quyền tự do hàng hải tại eo biển Hormuz phải được đảm bảo mà không kèm theo bất kỳ hạn chế nào.
Anwar Gargash, cố vấn ngoại giao của Tổng thống UAE, đã ca ngợi lệnh ngừng bắn là một chiến thắng đối với nước này, nơi phải hứng chịu phần lớn các cuộc tấn công từ Iran trong 5 tuần qua.
“UAE đã giành thắng lợi trong một cuộc chiến mà chúng tôi đã tìm mọi cách né tránh. Chúng tôi đã vượt qua nhờ nỗ lực phòng thủ kiên định, giúp bảo vệ chủ quyền, phẩm giá và những thành tựu của đất nước”, ông tuyên bố.
Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cho biết ông đã phối hợp với Tổng thống Trump, người mà theo ông đã khẳng định rằng sẽ đảm bảo Iran không còn là mối đe dọa về hạt nhân, tên lửa hay khủng bố đối với Mỹ, Israel, vùng Vịnh cũng như toàn bộ thế giới. Trong khi đó, lãnh đạo phe đối lập Israel Yair Lapid lại tỏ ra ít lạc quan hơn.
“Chưa bao giờ có một thảm họa chính trị nào lớn như vậy trong lịch sử của chúng ta”, ông nói. “Israel thậm chí còn không có ghế trong bàn đàm phán khi các quyết định liên quan đến lợi ích an ninh quốc gia cốt lõi được đưa ra thảo luận”.
Theo Ali Shihabi, chuyên gia phân tích tại Arab Saudi, cuộc xung đột đã khiến Iran “suy yếu trầm trọng và họ sẽ cần rất nhiều nỗ lực cũng như thời gian để tái thiết đất nước”.
Song 5 tuần qua, Tehran cũng đã cho thấy năng lực của họ trong việc tung ra các đòn trả đũa nhắm vào loạt mục tiêu khắp vùng Vịnh, gây tổn thất cho nền kinh tế khu vực, Nikolay Kozhanov, chuyên gia về Iran tại Đại học Qatar, nhận định.
“Các quốc gia còn lại ở vùng Vịnh hiện rơi vào thế không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải tìm cách thỏa thuận với Iran”, Kozhanov nói.
Theo Hãng tin Reuters ngày 19-4, Tổng thống Mỹ Donald Trump cáo buộc Iran "vi phạm hoàn toàn" thỏa thuận ngừng bắn khi tấn công các tàu thuyền gần eo biển Hormuz.
"Iran đã nổ súng ngày hôm qua tại eo biển Hormuz - một sự vi phạm hoàn toàn thỏa thuận ngừng bắn!" - ông Trump viết trên Truth Social.
Tổng thống Mỹ cũng cho biết các quan chức nước này sẽ có mặt tại Islamabad (Pakistan) vào ngày 20-4 để tham gia đàm phán với Iran, đồng thời mô tả đề xuất của Mỹ là "rất công bằng và hợp lý" và kỳ vọng Tehran sẽ chấp thuận.
Tuy nhiên ông cảnh báo nếu đàm phán thất bại, Washington sẵn sàng ra lệnh phá hủy cơ sở hạ tầng trọng yếu của Iran:
"Chúng tôi đã đưa ra một thỏa thuận rất công bằng và hợp lý, tôi hy vọng họ sẽ chấp nhận. Nếu không, Mỹ sẽ đánh sập từng nhà máy điện và từng cây cầu ở Iran. Mỹ sẽ không nhân nhượng!".
Theo Reuters, eo biển Hormuz - tuyến huyết mạch vận chuyển năng lượng chiến lược của thế giới - đã gần như đóng cửa kể từ khi Mỹ và Israel phát động chiến dịch quân sự nhằm vào Iran hôm 28-2.
Khi Iran lần đầu tuyên bố sẽ mở lại tuyến đường này, giá dầu thế giới lập tức giảm mạnh, còn thị trường chứng khoán bật tăng. Tuy nhiên sau khi ông Trump tuyên bố tiếp tục siết chặt hoạt động vận chuyển của Iran, Tehran hôm 19-4 xác nhận vẫn sẽ duy trì đóng cửa eo biển.
Cùng ngày, hai tàu Jag Arnav và Sanmar Herald treo cờ Ấn Độ báo cáo bị nổ súng khi cố tiếp cận khu vực này. Tuy nhiên theo các phương tiện truyền thông khác, hai tàu nói trên chỉ bị Iran chặn lại khi cố đi qua eo biển, mô tả "có nổ súng" trong vụ việc nhưng không nói các tàu này bị tấn công.
Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf cho biết hiện hai bên vẫn còn bất đồng lớn về vấn đề hạt nhân và tình trạng của eo biển Hormuz - hai điểm nghẽn chính trong tiến trình thương lượng.
Xung đột tại vùng Vịnh đã khiến gần một tỷ thùng dầu kẹt lại do eo biển Hormuz bị phong tỏa, làm gián đoạn nghiêm trọng nguồn cung năng lượng toàn cầu. Các nước châu Á và châu Âu phải gấp rút tìm nguồn thay thế cho lượng dầu bị đình trệ, khiến nhu cầu thị trường thế giới đối với dầu thô Mỹ tăng vọt.
Trong khi một số quốc gia đã bắt đầu hạn chế xuất khẩu xăng dầu từ nhiều tuần trước, Mỹ vẫn đang xuất khẩu nhiều dầu hơn lượng nhập khẩu. Theo dữ liệu được Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) công bố hôm 6/5, lượng xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ của Mỹ đã tăng vọt lên mức cao chưa từng thấy, đạt 8,2 triệu thùng mỗi ngày trong tuần qua.
Mức xuất khẩu kỷ lục này được thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ đối với dầu diesel của Mỹ, với lượng xuất khẩu loại nhiên liệu này cũng chạm mốc cao nhất từ trước đến nay. Mỹ hiện đã trở thành nhà cung cấp nhiên liệu quan trọng cho thị trường toàn cầu, bao gồm các mặt hàng chiến lược như dầu diesel, nhiên liệu phản lực và xăng.
Dữ liệu liên bang công bố tuần qua cho thấy lượng tồn kho năng lượng của Mỹ, vốn được xem như "tấm đệm giảm sốc" cho thị trường xăng dầu ở nước này, tiếp tục giảm nhanh.
Trong khi xuất khẩu hàng triệu thùng xăng dầu mỗi ngày, Mỹ lại chứng kiến một nghịch lý khi giá xăng trong nước không ngừng tăng từ cuối tháng 3. Dữ liệu của GasBuddy cho thấy giá xăng trung bình tại Mỹ đã vượt 4,5 USD một gallon (1,2 USD một lít), cao nhất kể từ tháng 7/2022. California hiện là bang có giá xăng trung bình cao nhất cả nước, với 6,14 USD một gallon.
Tình trạng này khiến ngày càng nhiều người cho rằng chính quyền Tổng thống Donald Trump nên áp lệnh hạn chế xuất khẩu xăng dầu để hạ nhiệt giá xăng trong nước. Hạ nghị sĩ Dân chủ Ro Khanna gần đây tái đề xuất dự luật cấm xuất khẩu dầu trong giai đoạn giá nhiên liệu tăng cao.
"Tại sao chúng ta lại xuất khẩu dầu ra nước ngoài trong khi người dân Mỹ dốc sạch túi ở cây xăng? Nguồn cung dầu nên phục vụ người Mỹ trước. Điều đó sẽ giúp hạ giá nhiên liệu tại Mỹ", ông nói với Fox Business.
Một số chuyên gia trong ngành năng lượng thừa nhận việc hạn chế xuất khẩu có thể giúp kiềm chế giá nhiên liệu trong ngắn hạn. Rapidan Energy Group, hãng phân tích đầu tư trong lĩnh vực năng lượng tại Mỹ, đánh giá có 35% khả năng giá năng lượng tăng mạnh đến mức Nhà Trắng phải áp dụng biện pháp kiểm soát xuất khẩu xăng dầu.
"Đây là ý tưởng tồi, nhưng sẽ rất khó cưỡng lại nếu giá xăng tiếp tục tăng", Bob McNally, nhà sáng lập Rapidan Energy Group và từng là cố vấn năng lượng cho cựu tổng thống George W. Bush, nhận định.
Cuộc khủng hoảng nguồn cung năng lượng hiện nay, được nhiều người xem là cú sốc nghiêm trọng nhất lịch sử, cũng khiến một số chuyên gia Mỹ từng phản đối kiểm soát xuất khẩu xăng dầu phải xem xét lại quan điểm này.
McNally không loại trừ khả năng chính quyền Tổng thống Trump sẽ áp đặt một số hình thức hạn chế xuất khẩu, nếu khủng hoảng năng lượng tiếp tục xấu đi như dự đoán của nhiều công ty.
Vikas Dwivedi, chiến lược gia năng lượng toàn cầu tại hãng Macquarie Group, cho rằng lệnh cấm tạm thời xuất khẩu dầu và các sản phẩm dầu mỏ có thể giúp giá năng lượng tại Mỹ giảm mạnh, qua đó giảm áp lực lên người tiêu dùng trước cuộc bầu cử quốc hội giữa kỳ vào tháng 11.
"Tôi không thể tin mình lại nói điều này. Trong suốt sự nghiệp, tôi đã luôn cho rằng lệnh cấm xuất khẩu sẽ không hiệu quả và không nên thực hiện", Dwivedi nói.
Chính quyền Tổng thống Trump đã nhiều lần nói hạn chế xuất khẩu xăng dầu không nằm trong các lựa chọn đang được xem xét, phần lớn vì phương án này quá nhiều rủi ro.
Giới chuyên gia cảnh báo rằng biện pháp kiểm soát xuất khẩu về lâu dài có thể gây tổn hại nặng nề cho ngành lọc dầu Mỹ, làm suy giảm uy tín của Washington với vai trò nhà cung cấp năng lượng đáng tin cậy, đồng thời đẩy các đồng minh vào nguy cơ suy thoái.
Một phần nguyên nhân nằm ở chuỗi cung ứng năng lượng phức tạp của Mỹ, vốn phụ thuộc đồng thời vào cả nhập khẩu lẫn xuất khẩu. Matt Smith, chuyên gia phân tích dầu mỏ tại Kpler, nhấn mạnh rằng dù Mỹ là nước xuất khẩu ròng dầu mỏ, nước này vẫn nhập khoảng 6,5 triệu thùng dầu thô mỗi ngày.
Các nhà máy lọc dầu lâu đời của Mỹ hiện đã sử dụng tối đa lượng dầu nhẹ, ít lưu huỳnh được khai thác từ lưu vực Permian ở bang Texas và New Mexico. Để sản xuất xăng và dầu diesel, họ thường phải pha trộn loại dầu đá phiến này với dầu nặng hơn nhập từ Canada, Trung Đông và Mỹ Latin. Phần dầu thô dư thừa của Mỹ sau đó được xuất khẩu ra nước ngoài, đồng nghĩa Mỹ không thể tự tách khỏi hệ thống năng lượng toàn cầu.
McNally cho rằng bất kỳ đợt giảm giá xăng nào ở Mỹ nhờ lệnh hạn chế xuất khẩu cũng chỉ mang tính tạm thời. Ông cảnh báo lệnh cấm xuất khẩu sẽ buộc các nhà máy lọc dầu Mỹ chỉ sử dụng dầu nội địa, điều có thể làm giảm lợi nhuận của họ, "từ đó dẫn đến sản lượng xăng ít hơn và cuối cùng là giá tăng trở lại".
Robert Auers, phụ trách mảng nhiên liệu tinh chế tại RBN Energy, cũng nhận định lệnh cấm xuất khẩu xăng dầu có thể kéo giá năng lượng giảm trong ngắn hạn, nhưng cái giá dài hạn sẽ rất lớn. Ông động thái này sẽ tạo ra "một núi hỗn loạn", buộc các nhà máy lọc dầu phải cắt giảm sản lượng và thậm chí khiến một số cơ sở đóng cửa vĩnh viễn.
"Bạn có thể kéo giá xuống rất mạnh ngay tuần tới, nhưng tác động đó sẽ giảm dần theo thời gian. Một năm sau, giá có thể chẳng khác gì hiện nay", Auers nói.
Giám đốc điều hành Chevron Mike Wirth tuần này cảnh báo các biện pháp như cấm xuất khẩu hay áp trần giá sẽ không mang lại hiệu quả. Phát biểu tại hội nghị toàn cầu của Viện Milken, ông Wirth cho rằng những chính sách này có thể xuất phát từ ý định tốt, nhưng lịch sử cho thấy chúng thường tạo ra những hệ quả ngoài dự kiến khiến tình hình tệ hơn.
"Một chính sách như vậy sẽ rất tệ và ngành công nghiệp dầu mỏ sẽ phản đối quyết liệt", một nguồn tin trong lĩnh vực dầu khí nói với CNN.
Việc hạn chế nguồn cung xăng dầu Mỹ cho phần còn lại của thế giới còn có thể gây tổn hại nghiêm trọng cho kinh tế toàn cầu và cuối cùng tác động ngược trở lại chính nước Mỹ.
Dwivedi dự đoán giá dầu, xăng, nhiên liệu máy bay và các sản phẩm năng lượng khác trên thị trường thế giới sẽ tăng "điên cuồng" nếu Mỹ hạn chế xuất khẩu. "Bạn có thể đẩy cả thế giới vào nguy cơ suy thoái đột ngột. Và Mỹ không thể miễn nhiễm trước điều đó. Tác động cuối cùng sẽ quay lại với chính chúng ta", ông nói.
Các đồng minh của Mỹ ở châu Âu và châu Á, những bên đang phụ thuộc vào nguồn năng lượng Mỹ trong giai đoạn khủng hoảng, sẽ phải trả giá bằng mức nhiên liệu cực kỳ đắt đỏ.
Quân đội Nga đêm 23/5 mở một trong những đợt không kích lớn nhất kể từ đầu chiến sự Ukraine, phóng khoảng 600 máy bay không người lái (UAV) cùng 30 tên lửa nhằm vào Kiev và các khu vực lân cận. Giới chức Ukraine cho biết đòn tấn công khiến 4 người chết, hơn 100 người bị thương, gây hư hại nhiều chung cư, một số trường học và bảo tàng.
Theo các quan chức quân đội Ukraine, đây là một trong những "chiến dịch sóng thần" mà lực lượng Nga thường triển khai khoảng 1-3 lần mỗi tháng. Việc lên kế hoạch và triển khai các đợt tấn công quy mô lớn và dữ dội như vậy đòi hỏi một hệ thống hậu cần rất phức tạp.
Yuriy Ihnat, người phát ngôn Không quân Ukraine, ước tính Nga đã huy động "hàng chục nghìn quân nhân" cho đòn không kích cuối tuần qua và những dấu hiệu đầu tiên thường xuất hiện từ hoạt động của không quân chiến lược Nga.
"Họ phải chuẩn bị các phương tiện tấn công trước khi khai hỏa, gồm vận chuyển tên lửa hành trình, nạp vũ khí cho máy bay, điều chuyển phi cơ từ các căn cứ thường trực tới 5 hoặc 6 sân bay tác chiến", Ihnat nói. "Những hoạt động này đương nhiên mất nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày".
Tình báo Mỹ và Ukraine đã theo dõi sát sao các động thái của lực lượng Nga, đôi khi còn nắm được thời điểm các loạt tên lửa được phóng trước tới một tuần.
Ruslan, một chỉ huy hơn 50 tuổi ở mặt trận miền nam của quân đội Ukraine, nói với Le Monde rằng lực lượng của ông biết trước 6 ngày về thời điểm diễn ra cuộc tấn công hôm 14/5, khi Nga huy động 1.560 UAV và 56 tên lửa các loại tập kích trong hơn 36 giờ. Đây là cuộc tập kích đường không lớn nhất trong vòng hai ngày kể từ đầu chiến sự.
"Mọi thứ trở nên rõ ràng hơn khi ngày tấn công đến gần, thời điểm Nga triển khai tàu chiến, tàu ngầm và máy bay", Ruslan nói. "Ba giờ trước khi cuộc tấn công bắt đầu, chúng tôi đã hình dung khá rõ về số lượng và chủng loại khí tài mà họ sử dụng".
Theo chuyên gia quân sự Oleksandr Kovalenko, quyết định thực hiện một cuộc tấn công phối hợp quy mô lớn như vậy được đưa ra từ cấp cao nhất của chính quyền Nga.
Ông Kovalenko cho biết Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ "bật đèn xanh", trong khi Tổng tham mưu trưởng Valery Gerasimov và Bộ trưởng Quốc phòng Andrey Belousov chịu trách nhiệm lập kế hoạch tác chiến. Sau đó, chỉ huy các quân chủng tên lửa, hải quân và không quân chiến lược triển khai.
"Việc phối hợp các chiến dịch này thuộc thẩm quyền của tư lệnh Không quân Nga Sergey Kobylash và chỉ huy Không quân Tầm xa Sergey Kuvaldin. Các mệnh lệnh tác chiến được ban hành bởi bộ chỉ huy các căn cứ không quân Engels, Olenya và Shaykovka, cũng như Hạm đội Biển Đen và Hạm đội Caspi", chuyên gia này giải thích.
Kovalenko cho biết yếu tố hạn chế lớn nhất đối với thời điểm tiến hành các cuộc tấn công là tốc độ sản xuất tại các nhà máy vũ khí của Nga.
"Trung bình, quá trình chuẩn bị cho một cuộc tấn công phối hợp với tối đa 50 tên lửa và ít nhất 500 UAV có thể kéo dài tới một tuần", ông Kovalenko nói. "Điều này không chỉ liên quan tới khâu lập kế hoạch, mà còn bao gồm thời gian tập kết vũ khí, nạp đạn và chuẩn bị các phương tiện mang phóng cũng như bệ phóng. Toàn bộ quy trình phụ thuộc vào năng lực sản xuất".
Nga đã đẩy mạnh đáng kể công nghiệp quốc phòng để áp đảo hệ thống phòng không Ukraine. Các nhà máy tại Yelabuga và Izhevsk hiện sản xuất khoảng 130 UAV tấn công mỗi ngày, cùng số lượng UAV mồi nhử tương đương.
Với việc Nga thường phóng từ 150 đến 200 UAV mỗi ngày vào Ukraine, Moskva sẽ cần ít nhất một tuần để tích lũy 500 UAV phục vụ cho một đợt "sóng thần". Ở mảng tên lửa, các nhà máy Nga trung bình sản xuất một tên lửa Kalibr mỗi ngày, hai đến ba tên lửa Kh-101 và hai đến ba tên lửa đạn đạo Iskander.
Ngoài năng lực sản xuất, các đợt tập kích quy mô lớn của Nga còn chịu tác động từ nhiều yếu tố khác, trong đó có các nút thắt hậu cần. Đây được xem là hệ quả sau các cuộc tấn công từ Ukraine, đặc biệt là Chiến dịch Mạng nhện hồi tháng 6/2025 khiến hàng chục máy bay Nga bị phá hủy. Hạm đội Biển Đen cũng bị hạn chế tác chiến một phần do UAV hải quân của Ukraine.
"Sau Chiến dịch Mạng nhện, Nga bắt đầu sử dụng máy bay Tu-160 để tấn công Ukraine vì họ chỉ còn khoảng 5-6 chiếc Tu-95MS, có khả năng mang khoảng 20 đến 25 tên lửa. Tuy nhiên, họ không bao giờ nạp quá 4 tên lửa cho mỗi máy bay do lo ngại hao mòn ở các giá treo đạn", ông Kovalenko nói.
Các tàu chiến và tàu ngầm Kalibr cũng không phóng quá 16 tên lửa trong mỗi đợt tấn công. Vì vậy, Nga ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống cơ động mặt đất vốn khó bị tập kích, như tên lửa đạn đạo đối đất Iskander.
"Các bệ phóng cơ động có thể được triển khai tương đối gần biên giới, chuẩn bị chỉ trong vài phút, khai hỏa rồi nhanh chóng rút lui để bảo toàn lực lượng", Kovalenko giải thích.
"Không quốc gia nào ở châu Âu có khả năng sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công áp đảo như vậy", Oleh Katkov, tổng biên tập trang quốc phòng chuyên ngành Defense Express, nhận định, thêm rằng Nga đang nhanh chóng gia tăng sản lượng tên lửa Iskander lên khoảng 60 quả mỗi tháng, cùng với 10 tên lửa siêu vượt âm Kinzhal.
Trong khi đó, "Mỹ chỉ sản xuất được 56 tên lửa chống đạn đạo PAC-3 mỗi tháng, loại duy nhất có khả năng bắn hạ Iskander. Nhưng phải cần tới hai quả PAC-3 mới có thể đánh chặn một tên lửa Iskander hoặc Kinzhal", ông Katkov cảnh báo. "Và lịch sử đã cho thấy thanh gươm thường xuyên thủng tấm khiên".