Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Công điện số 50/CĐ-TTg ngày 20/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng, bảo đảm chất lượng các trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền.
Theo Công điện, việc triển khai xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền là chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng biên cương của Tổ quốc, được Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, thường xuyên chỉ đạo.
Thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các bộ, ngành, địa phương liên quan đã tập trung triển khai quyết liệt nhằm bảo đảm tiến độ hoàn thành các trường thuộc giai đoạn 1 (khởi công năm 2025) trước ngày 30/8/2026. Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các địa phương, hiện vẫn còn một số công trình chậm tiến độ hoặc có nguy cơ chậm tiến độ, trong khi thời gian còn lại chỉ hơn 40 ngày để hoàn thành theo kế hoạch.
Để bảo đảm hoàn thành xây dựng các trường giai đoạn 1, khánh thành đồng loạt vào ngày 5/9/2026, đưa vào vận hành, sử dụng ngay từ đầu năm học mới 2026-2027 theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị và đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan khẩn trương rà soát tiến độ thực hiện.
Đồng thời, tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; ưu tiên cao nhất các nguồn lực phục vụ xây dựng, hoàn thiện các trường theo mục tiêu, kế hoạch, thời hạn đề ra, bảo đảm chất lượng, an toàn, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực.
Thủ tướng giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm toàn diện theo quy định trước Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai xây dựng các trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền trên toàn quốc.
Tăng cường kiểm tra, đôn đốc, thực hiện nghiêm chế độ báo cáo Thủ tướng Chính phủ tiến độ xây dựng các trường giai đoạn 1 của các địa phương hằng tuần, trường hợp cần thiết báo cáo theo ngày để bảo đảm hoàn thành trước ngày 30/8/2026; chủ động phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan, địa phương liên quan, bảo đảm công tác điều phối giữa các bộ, ngành, địa phương thông suốt, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các địa phương trong quá trình triển khai thực hiện; thực hiện nghiêm chế độ đôn đốc, tổng hợp báo cáo tiến độ xây dựng trường theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 42/CĐ-TTg ngày 23 tháng 5 năm 2026; không để xảy ra tình trạng chậm muộn như thời gian qua.
Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải rà soát, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về tiêu chí tuyển sinh của các trường bảo đảm đúng đối tượng, không tạo “kẽ hở”, lợi dụng chính sách để trục lợi; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh các trường; cùng các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ, hướng dẫn các địa phương kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp làm sai lệch hồ sơ, lách tiêu chí, vi phạm quy định, trục lợi chính sách, gây thất thoát, lãng phí, tiêu cực; kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan, bảo đảm hiệu quả, khả thi, phù hợp thực tiễn.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các cơ quan báo chí, truyền thông, các bộ, ngành, địa phương làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, góp phần tạo đồng thuận xã hội về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp ở các xã biên giới đất liền.
Đối với các địa phương có dự án xây dựng trường nội trú liên cấp, Thủ tướng đề nghị Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy và yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu, chịu trách nhiệm toàn diện theo quy định trước Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ về tiến độ, chất lượng xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp trên địa bàn.
Các địa phương phải huy động tối đa các lực lượng, các nguồn lực, bám sát các công trường, quyết liệt chỉ đạo các nhà thầu tổ chức thi công liên tục “3 ca, 4 kíp”, thi công liên tục 24/24 giờ, bảo đảm an toàn lao động, công trình; rà soát toàn bộ các dự án, công trình; ưu tiên, hỗ trợ, tập trung các nguồn lực, điều chuyển nhân lực từ các dự án không cấp bách, ưu tiên cao nhất cho thi công xây dựng, bảo đảm hoàn thành các trường đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng theo quy định.
Lãnh đạo địa phương kiểm tra tiến độ của từng công trình hằng ngày, hằng tuần; phân công rõ người, rõ việc, chịu trách nhiệm đối với từng hạng mục công trình; có phương án bù tiến độ theo ngày; chủ động các biện pháp xử lý ngay các khó khăn, vướng mắc về giải phóng mặt bằng, nguyên vật liệu, nhân lực, máy móc, thiết kế, thủ tục, vốn đầu tư…; quyết tâm hoàn thành toàn bộ các trường đã khởi công giai đoạn 1 trước ngày 30/8/2026 theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị và đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.
Ngoài việc bảo đảm tiến độ xây dựng, cá địa phương phải tổ chức đánh giá đúng chất lượng công trình, nghiệm thu đầy đủ, đúng quy định đối với từng công trình trước khi đưa vào sử dụng; chỉ đưa vào sử dụng những hạng mục bảo đảm chất lượng, an toàn tuyệt đối cho học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên nhà trường theo quy định.
Đảm bảo đồng bộ các điều kiện cần thiết và sẵn sàng vận hành các trường ngay từ đầu năm học mới 2026-2027; chú trọng hoàn thiện ngay các công trình phụ trợ (nhà ăn, khu nội trú, điện, nước sạch…) và trang thiết bị dạy học, học liệu, sách giáo khoa; sắp xếp, bố trí đủ số lượng người làm việc theo định mức đối với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; khẩn trương tổ chức tập huấn các nội dung chuyên môn, phục vụ vận hành trường theo quy định.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa chính thức ban hành Kế hoạch triển khai Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về tư duy, phương thức và hiệu quả truyền thông đối ngoại, qua đó góp phần xây dựng và nâng tầm thương hiệu quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Chia sẻ với Người Đưa Tin, ông Nguyễn Văn Thuật – Phó Cục trưởng Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại cho biết, Chiến lược được xây dựng trên nền tảng các nghị quyết, kết luận quan trọng của Bộ Chính trị và Chính phủ.
Trong đó có Kết luận 57-KL/TW về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới; Nghị quyết 57-NQ/TW (2024) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế và Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.
Những định hướng này tạo cơ sở chính trị – chiến lược vững chắc cho việc định hình và triển khai truyền thông hình ảnh quốc gia một cách bài bản, đồng bộ.
Một trong những điểm mới nổi bật của Chiến lược, theo ông Thuật là lần đầu tiên đặt ra yêu cầu xây dựng thông điệp và bộ nhận diện hình ảnh quốc gia thống nhất ở tầm chiến lược.
"Đây sẽ là nền tảng xuyên suốt cho mọi hoạt động truyền thông đối ngoại, khắc phục tình trạng phân tán, rời rạc trước đây", ông nhấn mạnh.
Trên cơ sở đó hình ảnh Việt Nam được định vị tổng thể, nhất quán, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt khi triển khai tại các thị trường, khu vực và nhóm công chúng quốc tế khác nhau.
Theo định hướng xuyên suốt của Chiến lược, Việt Nam được xây dựng và lan tỏa như một quốc gia ổn định về chính trị, năng động về kinh tế, giàu bản sắc văn hóa và có khát vọng đổi mới sáng tạo; là môi trường đầu tư – kinh doanh hấp dẫn, điểm đến an toàn, thân thiện và là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Trong đó, con người Việt Nam hội tụ các giá trị truyền thống và hiện đại, sáng tạo nhưng giàu tính nhân văn, hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc được xác định là trung tâm của toàn bộ chiến lược truyền thông hình ảnh quốc gia.
Chiến lược cũng đặt ra mục tiêu cụ thể đến năm 2045 Việt Nam trở thành quốc gia có hình ảnh và thương hiệu mạnh, được cộng đồng quốc tế nhận diện rõ nét và tích cực; phấn đấu nằm trong Top 3 ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm.
Đồng thời trở thành điểm đến hấp dẫn về du lịch, đầu tư, sáng tạo và giao lưu văn hóa quốc tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.
Đề cập đến vai trò của "sức mạnh mềm" trong bối cảnh mới, ông Phạm Anh Tuấn – Cục trưởng Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại cho rằng cách tiếp cận cần có sự thay đổi căn bản. Theo ông câu hỏi quan trọng không còn dừng ở việc "Việt Nam có gì", mà phải trả lời được "Việt Nam là ai" trong nhận thức của cộng đồng quốc tế.
"Sức mạnh quốc gia được cấu thành từ hai yếu tố là sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Nếu sức mạnh cứng thể hiện qua tiềm lực kinh tế, quân sự và vật chất thì sức mạnh mềm lại nằm ở hình ảnh, uy tín và mức độ thiện cảm mà quốc gia tạo dựng trong mắt bạn bè quốc tế. Đây cũng chính là giá trị cốt lõi mà công tác truyền thông hình ảnh quốc gia hướng tới", ông Tuấn nhấn mạnh.
Theo ông các giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc và con người Việt Nam như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm và sáng tạo không chỉ là nền tảng nội sinh mà còn là những yếu tố cốt lõi góp phần định hình hình ảnh Việt Nam trong mắt thế giới, đúng như tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Về giải pháp triển khai, ông Nguyễn Văn Thuật cho biết Chiến lược nhấn mạnh yêu cầu đổi mới toàn diện phương thức truyền thông theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Truyền thông truyền thống và truyền thông số sẽ được kết hợp hài hòa, các hình thức quảng bá trực tiếp và trực tuyến được triển khai đồng bộ nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận và nâng cao hiệu quả lan tỏa trên các nền tảng xuyên biên giới.
"Đáng chú ý, Chiến lược đặt trọng tâm vào việc ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong toàn bộ chu trình truyền thông từ nghiên cứu công chúng, xây dựng thông điệp, tổ chức sản xuất nội dung cho đến phân phối và đo lường hiệu quả.
Trong đó, xây dựng hệ sinh thái truyền thông số quốc gia được xác định là giải pháp mang tính đột phá, giúp nâng cao năng lực chủ động, khả năng thích ứng và hiệu quả lâu dài của công tác quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới", ông Thuật chia sẻ.
Một nội dung xuyên suốt khác, theo ông Thuật là phát huy vai trò của toàn xã hội trong truyền thông hình ảnh quốc gia.
Bên cạnh vai trò nòng cốt của các cơ quan Đảng và Nhà nước, Chiến lược khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cộng đồng sáng tạo và đặc biệt là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Những chủ thể này được kỳ vọng sẽ trở thành các "đại sứ hình ảnh", lan tỏa Việt Nam thông qua chính trải nghiệm, uy tín và tiếng nói của mình.
Cùng với đó, việc tăng cường phối hợp liên ngành, thúc đẩy hợp tác công – tư và huy động đồng bộ các nguồn lực xã hội được coi là yếu tố then chốt để tạo nên sức lan tỏa rộng khắp, bền vững cho hình ảnh quốc gia trong dài hạn.
Chiến lược cũng xác định rõ việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực là yếu tố mang tính quyết định. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ làm truyền thông chuyên nghiệp, có năng lực truyền thông quốc tế, am hiểu truyền thông số, sử dụng đa ngôn ngữ và có khả năng thích ứng linh hoạt với môi trường truyền thông toàn cầu.
Ở cấp địa phương, ông Nguyễn Văn Thuật nhấn mạnh vai trò chủ động của các tỉnh, thành phố trong việc xây dựng chiến lược truyền thông phù hợp với định hướng chung của quốc gia.
Đồng thời phát triển bộ nhận diện thương hiệu địa phương theo hướng quốc tế hóa, tăng cường phối hợp với báo chí đối ngoại và các nền tảng mạng xã hội để lan tỏa thông tin tích cực.
Việc đẩy mạnh liên kết, hợp tác vùng trong truyền thông cũng được xác định là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quảng bá.
Những ngày này, khu vực cửa biển Sa Cần tấp nập tàu câu mực trở về từ ngư trường Trường Sa. Nhiều tàu của ngư dân xã Bình Sơn và Vạn Tường cập bờ sau hơn hai tháng lênh đênh với khoang hàng đầy mực xà khô – loại hải sản đang được thu mua ở mức cao nhất từ trước đến nay, khoảng 315.000–317.000 đồng/kg. Có tàu sau một chuyến biển thu về doanh thu 8–9 tỷ đồng.
Nhưng thay vì đưa tàu vào quê nhà để bốc dỡ như trước đây, các chủ tàu lại phải tiếp tục cho tàu chạy ra cảng Tam Quang hoặc Kỳ Hà (TP Đà Nẵng) để hoàn tất thủ tục xác nhận nguồn gốc thủy sản rồi mới bán hàng.
Theo quy định của Luật Thủy sản 2017, tàu cá có chiều dài từ 15m trở lên hoạt động khai thác xa bờ phải cập cảng cá chỉ định để thực hiện các thủ tục xác nhận nguồn gốc, nhật ký khai thác và các quy trình liên quan. Trong khi đó, khu vực cửa biển Sa Cần – nơi neo đậu truyền thống của hàng trăm tàu cá – lại chưa có cảng cá chỉ định.
Thực tế này khiến toàn bộ đội tàu khai thác xa bờ ở khu vực phải "ăn nhờ" hạ tầng của địa phương khác. Không chỉ phát sinh chi phí, việc di chuyển thêm nhiều hải trình cũng khiến ngư dân thêm vất vả sau mỗi chuyến biển dài ngày.
Hiện xã Bình Sơn và Vạn Tường có gần 1.200 tàu cá, trong đó hơn 300 tàu dài từ 15–26m hoạt động khai thác xa bờ. Phần lớn đều neo đậu ở cửa biển Sa Cần nhưng không thể thực hiện việc bốc dỡ sản phẩm tại địa phương.
Là chủ kiêm thuyền trưởng một tàu câu mực dài hơn 24m, ông Bùi Thanh Nghĩa (xã Bình Sơn) cho biết, sau khi kết thúc chuyến biển, tàu lại tiếp tục hành trình vòng ra Kỳ Hà hoặc Tam Quang để làm thủ tục.
"Nếu được cập cảng ở quê thì giờ nào cân hải sản cũng được. Còn ra cảng ngoài tỉnh phải chờ tàu khác xong mới tới lượt mình. Có lúc tàu phải neo ngoài cảng 2–3 ngày mới vào được", ông Nghĩa nói.
Theo ông Nghĩa, riêng lượng nhiên liệu phát sinh cho việc di chuyển thêm mỗi chuyến đã tiêu tốn khoảng 200 lít dầu.
Không riêng tàu của ông Nghĩa, nhiều chủ tàu khác cho biết, mỗi năm phải chi thêm hàng chục triệu đồng cho nhiên liệu, vận chuyển và các chi phí phát sinh chỉ vì thiếu cảng cá phù hợp.
Ông Phạm Tiếng, thuyền trưởng tàu cá QNg 95579 TS, cho hay, sau nhiều tháng lênh đênh ngoài biển, tàu cập đất liền nhưng ngư dân vẫn chưa thể trở về nhà ngay mà phải tiếp tục đưa hàng ra các cảng ngoài tỉnh để làm thủ tục.
"Tiền dầu tăng, chi phí thuê xe vận chuyển mực về Quảng Ngãi cũng tăng. Nếu có cảng cá chỉ định ở Sa Cần, mỗi năm bà con giảm được 70–80 triệu đồng chi phí", ông Tiếng nói.
Theo ông, việc thiếu cảng cá không chỉ khiến chủ tàu thêm gánh nặng mà còn ảnh hưởng đến nhiều lao động dịch vụ phụ trợ phía sau nghề biển như bốc vác, vận tải, sơ chế thủy sản. Mỗi con tàu không chỉ tạo việc làm cho lao động trên biển mà còn kéo theo cả chuỗi sinh kế phía sau.
Quảng Ngãi hiện có 5 cảng cá chỉ định. Tuy nhiên, theo ngư dân, nhiều cảng hiện chưa đáp ứng được thực tế hoạt động của đội tàu câu mực công suất lớn. Tàu câu mực địa phương thường dài khoảng 24m, rộng 7–10m; khi lắp thêm giàn phơi mực, chiều ngang có thể vượt 20m. Trong khi đó luồng vào một số cảng cá khá hẹp, chỉ cần vài tàu cùng di chuyển đã tiềm ẩn nguy cơ va chạm.
Ông Võ Quốc Nam, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Sơn, cho biết, nghề khai thác thủy sản hiện mang lại nguồn thu hơn 500 tỷ đồng mỗi năm cho địa phương. Quy hoạch cảng cá Sa Cần đã được đưa vào quy hoạch chung nhưng nguồn lực đầu tư vẫn là bài toán khó.
"Địa phương đã nhiều lần kiến nghị cấp trên sớm quan tâm đầu tư cảng cá Sa Cần để phục vụ nhu cầu neo đậu, bốc dỡ thủy sản cho ngư dân trong khu vực", ông Nam nói.
Theo Ban Quản lý các cảng cá tỉnh Quảng Ngãi, việc siết chặt chống khai thác IUU khiến công tác quản lý tàu cá phải tuân thủ nghiêm quy định. Do đó, tàu khai thác xa bờ bắt buộc phải cập cảng cá chỉ định theo quy định pháp luật.
Dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và kỳ nghỉ 30/4 – 1/5/2026 (từ ngày 25/4 đến hết ngày 3/5), du lịch Thủ đô ghi nhận không khí sôi động tại cả khu vực nội thành và ngoại thành, với nhiều sản phẩm, dịch vụ được tổ chức đồng loạt, thu hút đông đảo người dân và du khách.
Theo Sở Du lịch Hà Nội, trong kỳ nghỉ này, Thủ đô ước đón khoảng 1,35 triệu lượt khách. Trong đó, khách quốc tế đạt trên 248.000 lượt (khoảng 175.000 lượt có lưu trú), khách nội địa đạt trên 1,1 triệu lượt. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt trên 5.000 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Trần Quang - Phó Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội cho biết, lượng khách tăng cao trong dịp nghỉ lễ cho thấy sức hút của điểm đến Thủ đô, đặc biệt khi nhiều sản phẩm du lịch mới được đưa vào khai thác, góp phần đa dạng hóa trải nghiệm cho du khách.
Không chỉ chú trọng phát triển sản phẩm, Hà Nội tiếp tục triển khai các hoạt động phục vụ du khách theo hướng nhân văn, thân thiện.
Trong đó, chương trình hỗ trợ nước uống, sữa và bánh mì miễn phí cho người dân và du khách vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được duy trì tại các dịp lễ lớn trong năm. Riêng dịp 30/4 – 1/5, đã có khoảng 45.000 suất quà được trao tận tay du khách.
Hoạt động này không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ thiết thực mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh một Thủ đô hiếu khách, tinh tế trong từng chi tiết phục vụ. Đây cũng được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong chiến lược xây dựng thương hiệu du lịch Hà Nội theo hướng chất lượng, bền vững.
Cùng với đó, thành phố triển khai chính sách miễn phí vé phương tiện giao thông công cộng trong 7 ngày (từ 25/4 đến 27/4 và từ 30/4 đến 3/5) áp dụng cho 128 tuyến xe buýt và 2 tuyến đường sắt đô thị. Chính sách này giúp người dân và du khách thuận tiện di chuyển giảm áp lực giao thông khu vực trung tâm, đồng thời khuyến khích sử dụng phương tiện công cộng.
Hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch trong dịp này cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Công suất phòng bình quân đạt khoảng 71,4%, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2025. Nhiều khách sạn và khu căn hộ cao cấp đạt công suất rất cao, có nơi gần như kín phòng trong các ngày cao điểm.
Tại các khu, điểm du lịch, công tác chỉnh trang đô thị, đảm bảo vệ sinh môi trường, an ninh trật tự được chú trọng. Nhiều chương trình, sự kiện văn hóa – nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm làng nghề được tổ chức, tạo điểm nhấn thu hút du khách.
Khu vực trung tâm với các điểm đến như hồ Hoàn Kiếm, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long tiếp tục là lựa chọn hàng đầu. Trong khi đó, các điểm du lịch ngoại thành tại Ba Vì, Sóc Sơn, Sơn Tây, Hương Sơn… thu hút đông đảo du khách với các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, cộng đồng, góp phần giảm tải cho khu vực nội đô.
Theo thống kê, nhiều điểm tham quan ghi nhận lượng khách lớn trong 8 ngày nghỉ lễ như Vườn thú Hà Nội đón 124.000 lượt khách, di tích Nhà tù Hỏa Lò gần 36.000 lượt, Văn Miếu – Quốc Tử Giám hơn 36.000 lượt, Hoàng thành Thăng Long hơn 23.000 lượt, Công viên Thiên đường Bảo Sơn hơn 33.000 lượt…
Song song với hoạt động phục vụ du khách, Sở Du lịch Hà Nội cũng tăng cường công tác kiểm tra tại các điểm đến đông khách như khu vực Lăng Bác, Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chùa Trấn Quốc…
Qua kiểm tra cho thấy, các đơn vị cơ bản chấp hành nghiêm quy định về an ninh trật tự, an toàn, vệ sinh môi trường, không ghi nhận trường hợp vi phạm phải xử lý hành chính.