Chiều 10.4, trao đổi với PV Thanh Niên, lãnh đạo Công ty cổ phần phát triển đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu (BVEC – chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng mở rộng quốc lộ 51) xác nhận đã đồng ý bàn giao toàn bộ hiện trạng các trạm thu phí T1, T2 trên quốc lộ 51 cho cơ quan chức năng để thực hiện tháo dỡ, đảm bảo an toàn giao thông.
Theo đó, BVEC sẽ bàn giao toàn bộ hiện trạng 2 trạm thu phí cho Khu Quản lý đường bộ IV và Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai trước ngày 15.4.
Sở Xây dựng sẽ tổ chức tháo dỡ, sau đó bàn giao toàn bộ vật tư, thiết bị cho Khu Quản lý đường bộ IV quản lý, bảo quản theo quy định.
Trước đó, Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai đã nhiều lần đề nghị Cục Đường bộ Việt Nam, Khu Quản lý đường bộ IV cùng BVEC tháo dỡ 2 trạm thu phí trên quốc lộ 51, thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai.
Theo Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai, trạm thu phí T1 và T2 không còn chức năng khai thác nhưng vẫn tồn tại kết cấu nhà trạm, đảo phân luồng, móng trụ, biển báo và các hạng mục phụ trợ.
Sự tồn tại của trạm thu phí không còn tác dụng trên gây ra các xung đột về giao thông, che khuất tầm nhìn, thu hẹp mặt đường hiện hữu và tiềm ẩn nguy cơ rất cao xảy ra tai nạn giao thông.
Quốc lộ 51 dài 72 km, đi qua địa bàn 2 tỉnh Đồng Nai và TP.HCM (trước là tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Sau khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng mở rộng quốc lộ 51, BVEC đã đặt 3 trạm thu phí BOT gồm T1, T2 (địa bàn Đồng Nai), T3 (thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, nay là TP.HCM).
Từ năm 2023, dự án BOT quốc lộ 51 tạm dừng thu phí để tính toán lại phương án tài chính, nhưng việc tháo dỡ các trạm thu phí vẫn vướng mắc xung quanh việc đàm phán chấm dứt hợp đồng và xác lập sở hữu toàn dân. Chủ đầu tư cho rằng các trạm thu phí đang là tài sản của ngân hàng nên việc tháo dỡ phải phải có sự đồng ý bằng văn bản của ngân hàng.
Đối với trạm thu phí T3, vào đầu tháng 2.2026, Sở Xây dựng TP.HCM đã phối hợp các đơn vị, lực lượng chức năng liên quan tháo dỡ.
Nguồn: https://thanhnien.vn/dong-nai-sap-thao-do-2-tram-thu-phi-tren-quoc-lo-51-185260410144553949.htm

Bộ Quốc phòng vừa ban hành Thông tư số 50/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 363 của Chính phủ về chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.
Một trong những nội dung đáng chú ý của thông tư, sau thời gian tuyển dụng từ 2 năm, nếu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và có đóng góp nổi bật, cá nhân thuộc diện thu hút có thể được xem xét bổ nhiệm vào các vị trí cán bộ chỉ huy, quản lý phù hợp với trình độ, năng lực chuyên môn, tổ chức biên chế và yêu cầu nhiệm vụ.
Thông tư quy định rõ các nhóm đối tượng được áp dụng chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài.
Trong đó, đối tượng thu hút vào biên chế trong Quân đội nhân dân Việt Nam gồm cán bộ, công chức, viên chức; cá nhân là người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước nhưng không thuộc diện cán bộ, công chức, viên chức.
Đối tượng được thu hút để ký hợp đồng lao động thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, chiến lược của quân đội gồm cá nhân là người Việt Nam ở trong và ngoài nước không là cán bộ, công chức, viên chức; người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài.
Đối tượng được áp dụng chính sách trọng dụng gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang công tác trong quân đội; học viên tốt nghiệp hạng xuất sắc tại các trường trong và ngoài quân đội, ở nước ngoài được phong quân hàm sĩ quan hoặc xếp lương, phong quân hàm quân nhân chuyên nghiệp.
Thông tư cũng quy định nhiều chính sách ưu đãi về quân hàm, tiền lương, môi trường làm việc và cơ hội phát triển.
Theo đó, các đối tượng được thu hút vào biên chế quân đội sẽ được ưu tiên tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước; được hỗ trợ kinh phí tham gia hội nghị, hội thảo chuyên môn; được bố trí công việc phù hợp, tạo điều kiện phát triển và ưu tiên quy hoạch cán bộ chỉ huy, quản lý.
Sau thời gian tuyển dụng từ 2 năm, nếu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và có đóng góp nổi bật, các cá nhân này có thể được xem xét bổ nhiệm vào các vị trí chỉ huy, quản lý phù hợp.
Đối với các đối tượng được trọng dụng, thông tư quy định ưu tiên tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu trong và ngoài nước phù hợp với ngành, lĩnh vực công tác; đáp ứng tiêu chuẩn chức vụ, chức danh, vị trí việc làm và định hướng phát triển trở thành chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành.
Các cá nhân này cũng được giao chủ trì hoặc tham gia các nhiệm vụ khoa học, công nghệ; nghiên cứu đề tài, công trình khoa học kỹ thuật; được hỗ trợ kinh phí tham gia hội thảo trong nước và quốc tế; bảo đảm tài liệu nghiên cứu và các chi phí liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học trong quá trình học tập.
Ngoài ra, các cá nhân này còn được ưu tiên xem xét quy hoạch cán bộ chỉ huy, quản lý các cấp; ưu tiên luân chuyển để đáp ứng tiêu chuẩn về đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm. Nếu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, các cá nhân thuộc diện trọng dụng có thể được xem xét kéo dài thời gian phục vụ tại ngũ hơn so với quy định hiện hành.
Trường hợp đặc biệt, họ có thể tiếp tục đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý và được bảo lưu các chế độ, chính sách hiện hưởng trong thời gian kéo dài phục vụ.
Thông tư cũng nêu rõ, quân nhân chuyên nghiệp thuộc cơ quan quân lực quản lý sẽ được ưu tiên xem xét tuyển chọn vào đội ngũ cán bộ nếu có nguyện vọng và đáp ứng quy định hiện hành.
Đáng chú ý, người chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và không là cán bộ, công chức, viên chức sẽ được xem xét phong quân hàm theo trình độ đào tạo.
Cụ thể, người tốt nghiệp đại học hạng xuất sắc có thể được phong quân hàm Thượng úy; người có trình độ thạc sĩ, bác sĩ hoặc dược sĩ chuyên khoa cấp 1 được xem xét phong quân hàm Đại úy; người có trình độ tiến sĩ, bác sĩ hoặc dược sĩ chuyên khoa cấp 2 được xem xét phong quân hàm Thiếu tá.
Tin Gốc: Dân Trí

Dòng sông uốn lượn qua núi rừng, làng mạc, mang theo phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ven bờ. Không chỉ là nguồn nước, sông Trà Khúc từ lâu còn được ví như "bầu sữa" nuôi sống bao thế hệ cư dân xứ Quảng. cá bống sông trà
Những sản vật đặc trưng như cá bống, don… đã trở thành dấu ấn riêng của vùng đất này. Giữa nhịp sống hiện đại, vẫn còn đó những con người lặng lẽ mưu sinh bằng nghề cũ - đặt ống tre bắt cá bống, một nghề thủ công đã tồn tại hàng trăm năm trên dòng sông Trà.
Khi trời còn tờ mờ sáng, ánh nắng đầu ngày vừa kịp nhuộm vàng mặt sông, những chiếc ghe nhỏ bắt đầu rẽ nước. Không tiếng động ồn ào, chỉ có nhịp chèo khua nhẹ và làn nước loang ra trong buổi sớm tĩnh lặng.
Trên những chiếc ghe ấy, người dân mang theo hàng chục ống tre thả xuống những đoạn sông quen thuộc - nơi họ đã "thuộc lòng" từng con nước, từng luồng cá. Nghề này không cần máy móc hiện đại, chỉ cần sự kiên trì và kinh nghiệm tích lũy qua năm tháng.
Ông Nguyễn Phan Văn Định (65 tuổi, ở tổ dân phố Liên Hiệp 2, P.Trương Quang Trọng, Quảng Ngãi) là một trong những người gắn bó lâu năm với nghề. Hơn nửa thế kỷ lênh đênh trên sông Trà, cuộc đời ông gắn liền với những ống tre và con nước lên xuống mỗi ngày.
"Mỗi ngày tôi dậy từ 4 giờ sáng, chèo ghe ra sông đặt bẫy rồi quay lại gỡ những ống đã đặt trước đó để thu cá. Nghề này không nặng nhọc, nhưng phải hiểu con nước, biết chỗ cá ở thì mới có ăn", ông Định nói.
Trên sông Trà, cá bống sinh sống khá đa dạng với các loại như bống cát, bống dừa, bống mú… Trong đó, cá bống cát được xem là ngon nhất, thịt chắc, thơm, được thị trường ưa chuộng với giá khoảng 300.000 đồng/kg. Các loại khác dao động từ 150.000 - 200.000 đồng/kg. Chính giá trị ấy khiến cá bống trở thành nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ dân ven sông, dù sản lượng ngày nay không còn dồi dào như trước.
Để có được những mẻ cá bống, người làm nghề phải chuẩn bị những chiếc bẫy rất đặc biệt. Những ống tre tưởng chừng đơn giản nhưng lại chứa đựng nhiều kinh nghiệm dân gian.
Theo ông Định, tre dùng làm bẫy thường là tre đã qua sử dụng, được xin hoặc đổi từ người dân. Tre mới có mùi nồng, cá sẽ không vào, vì vậy phải chọn loại đã "già", thậm chí đã từng dùng qua.
Những thân tre được cưa thành từng đoạn dài khoảng 60 - 70 cm, hai đầu thông nhau. Ở giữa thân, người thợ đục một lỗ để đóng cọc dài khoảng 50 cm nhằm cố định khi cắm xuống cát, tránh bị nước cuốn trôi. "Ống tre mới thả xuống thì cá chưa vào đâu. Phải chờ 2 - 3 ngày cho ống có rêu bám, mất mùi tre thì cá mới tìm đến trú ngụ", ông Định giải thích.
Hiện ông sở hữu khoảng 300 ống tre, được đặt luân phiên trên các bãi cát ven sông. Mỗi vị trí đều được đánh dấu bằng một cây tiêu nhỏ, vừa để nhận biết, vừa tránh nhầm lẫn với bẫy của người khác.
Bẫy thường được đặt ở những đoạn nước nông, độ sâu không quá 1,5 m - nơi cá bống thích trú ẩn. Đặc biệt, việc đặt bẫy phải "canh" theo con nước. Khi nước lớn hoặc chảy xiết, người dân không thể thả bẫy, phải chờ nước rút mới tiếp tục công việc.
Nghề này cũng mang tính thời vụ rõ rệt. Một năm chỉ có khoảng 5 tháng, từ tháng 4 đến hết tháng 8 là thời điểm thuận lợi để đặt bẫy. Những tháng còn lại, khi cá còn nhỏ hoặc vào mùa mưa lũ, người dân phải chuyển sang làm nông để duy trì cuộc sống.
Theo ông Định, vào mùa sinh sản, cá bống thường sống theo cặp, thậm chí nhiều con cùng trú trong một ống tre. Có những hôm mở bẫy, ông bắt gặp 3 - 4 con cá mập ú nằm chung, "nhìn mà thích mắt".
Trung bình mỗi ngày vào mùa, ông Định thu được khoảng 3 - 4 kg cá. Cá vừa bắt lên thường được thương lái đến tận nơi thu mua, hoặc người dân trong vùng tìm đến đặt mua từ sớm. "cá bống sông Trà là đặc sản rồi, nên không lo đầu ra. Có bao nhiêu bán hết bấy nhiêu", ông Định nói.
Tuy nhiên, niềm vui từ "lộc sông" không còn trọn vẹn như trước. Ông Định trầm ngâm khi nhắc đến sự suy giảm của nguồn cá. "Hồi trước cá nhiều vô kể, đặt bẫy là có vài ký mỗi ngày. Giờ cá ít dần do môi trường ô nhiễm, rồi có người dùng kích điện đánh bắt nên nguồn cá ngày càng cạn", ông chia sẻ, giọng đầy tiếc nuối.
Không chỉ ông Định, nhiều người dân ven sông cũng cảm nhận rõ sự thay đổi. Sản lượng cá giảm, nhưng giá tăng, phần nào bù đắp thu nhập. Dẫu vậy, nỗi lo về sự mai một của nguồn lợi tự nhiên vẫn luôn thường trực.
Với ông Định, nghề đặt ống tre không chỉ là kế sinh nhai mà còn là ký ức gắn bó suốt đời. Nhờ nghề này, ông nuôi 3 người con ăn học đến nơi đến chốn, nay đều đã trưởng thành, có công việc ổn định. "Giờ tuổi cao rồi, con cái cũng yên bề gia thất, tôi đi bẫy cá chủ yếu để giữ nghề, cho đỡ nhớ sông nước, với lại rèn luyện sức khỏe", ông cười hiền.
Ông nhớ lại thời trước, dọc hai bên sông Trà, người làm nghề chài lưới đông đúc. Mỗi sáng, hàng chục chiếc ghe xuôi ngược, người thả lưới, người đặt rập, người cắm ống tre… gặp nhau giữa dòng sông, rộn ràng tiếng cười nói. "Giờ thì ít hơn nhiều rồi. Người trẻ không còn mặn mà với nghề nữa, họ đi làm công ty, buôn bán. Nghề này chắc rồi cũng mai một dần", ông Định trầm ngâm.
Không chỉ là nguồn sinh kế, cá bống sông Trà còn là một phần ký ức của nhiều người con Quảng Ngãi xa quê. Chị Lê Thùy Trang (30 tuổi, quê Quảng Ngãi, hiện sinh sống và làm việc tại TP.HCM) cho biết, mỗi lần về quê, chị đều mua cá bống sông Trà làm quà cho bạn bè, người thân. "Cá bống sông Trà là ký ức tuổi thơ của tôi. Ngày nhỏ, ba mẹ hay nấu cá bống kho nghệ hoặc cá bống rim, ăn với cơm nóng rất ngon. Cá ở đây thịt chắc, thơm, vị rất riêng, không giống nơi khác", chị Trang chia sẻ.
Hiện nay, trên các quầy bán đặc sản Quảng Ngãi, cá bống sông Trà luôn là mặt hàng không thể thiếu. Từ những món dân dã trong bữa cơm gia đình đến quà biếu cho người thân, cá bống đã trở thành "hồn quê" của vùng đất này. (còn tiếp)
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Lô tô thời nay: Giữ bản sắc cho đời sau 'nhận ra mình' hay phải cải biên?

Khi ánh đèn sân khấu bật sáng, tiếng nhạc nổi lên, những câu rao dí dỏm nối nhau giữa tiếng cười khán giả, lô tô cho thấy mình chưa từng biến mất khỏi đời sống hôm nay.
Ở nhiều nơi, từ sân bãi lưu diễn nhỏ dựng tạm đến những sân khấu được đầu tư bài bản trong trung tâm đô thị, loại hình từng gắn với hội chợ quê vẫn đang tìm cách bước tiếp trong một thời đại rất khác.
Nếu trước đây, lô tô chủ yếu hiện diện trong ký ức của những mùa hội làng, những đêm hội chợ đông người hay các dịp lễ tết náo nhiệt, thì nay nó bước vào bối cảnh mới: nơi khán giả thay đổi thói quen thưởng thức, công nghệ len sâu vào đời sống và ngành giải trí phát triển với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết. Nhưng để tồn tại, lô tô không thể chỉ sống bằng ký ức.
Trao đổi với PV Thanh Niên, PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, Viện Phát triển năng lực lãnh đạo, Đại học Quốc gia TP.HCM cho rằng yếu tố cản trở lớn nhất của nghề hát lô tô chính là tính dân gian tự phát của nó.
Nếu tiến hành cải biên nghệ thuật hát lô tô để đảm bảo yêu cầu về tính nghệ thuật và nội dung, ý nghĩa biểu trưng thì e rằng loại hình diễn xướng này sẽ phải cải biên, thay đổi quá nhiều, rất có thể sẽ chuyển đổi thành một loại hình diễn xướng khác, không còn là hát lô tô nữa.
Khán thính giả càng được định hướng hưởng thụ các loại hình nghệ thuật diễn xướng có tính nghệ thuật và tính biểu trưng ngày càng cao, họ có thể không tìm thấy sự yêu mến và gắn bó với loại hình hát lô tô.
Thêm vào đó, ông Thơ cho rằng hát lô tô bao đời nay gắn bó với đời sống văn hóa nông thôn, khi đứng trước hiện thực xã hội Việt Nam đang đô thị hóa mạnh mẽ sẽ gặp phải thử thách về nguồn khán giả. Để thu hút khán giả, các đoàn hát buộc phải tìm kiếm và áp dụng các hình thức khác nhau vốn chưa được số đông người dân ủng hộ để thu hút khách. Điều này càng làm giảm đi lòng thiện cảm của một số người dân.
Khó có được giải pháp cải thiện tình hình này ngay tức thời. Song, theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, bản thân đoàn lô tô, người hát lô tô trước hết phải gìn giữ nét văn minh, thanh lịch của nghề hát, của không gian tổ chức hát lô tô. Cùng với đó phải tìm cách cải biên một phần ca từ lẫn nghệ thuật hát sao cho đạt được ngưỡng thẩm mỹ, ngưỡng nghệ thuật và hệ giá trị, ý nghĩa cần thiết để có thể đáp ứng nhu cầu của công chúng đương đại.
Nói cách khác, ông Thơ nhận định, loại hình hát lô tô muốn tồn tại và phát triển lâu dài phải tự xây dựng, bồi đắp và trưng bày ra công chúng những nét tinh hoa sâu sắc của chính mình.
Nghề hát lô tô hiện nay có thể trở thành một sinh kế ổn định, lâu dài trong xã hội hiện đại khi người làm nghề phải đối mặt với các vấn đề như tuổi nghề ngắn, sức khỏe và định kiến xã hội.
Bàn về việc này, PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ cho rằng với các điều kiện xã hội đương đại, nhất là làn sóng công nghiệp văn hóa và truyền thông đại chúng phát triển mạnh mẽ, nghề hát lô tô khó có thể trở thành một sinh kế ổn định và lâu dài.
Lý do thì có nhiều, trong đó phải nhấn mạnh tính dân gian tự phát của nghệ thuật hát lô tô. Một loại hình nghệ thuật diễn xướng ngoài các yếu tố giai điệu, âm thanh, hình ảnh phù hợp với thị hiếu thưởng thức của công chúng thì yếu tố nghệ thuật (bao gồm cả tính nghệ thuật trong hệ thống ca từ, hình ảnh biểu trưng về nội dung và tính sâu sắc của ý nghĩa, giá trị) cần được trau chuốt để đảm bảo tính bền vững trong lòng công chúng.
Do xuất phát điểm là loại hình giải trí dân gian, bình dị, ông Thơ đánh giá nghề hát lô tô chưa đạt được ngưỡng nghệ thuật cần thiết để có thể đáp ứng nhu cầu công chúng có trình độ học vấn và nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật ngày càng cao.
Có ý kiến cho rằng nghề hát lô tô là một loại hình văn hóa dân gian, nhưng cũng có quan điểm xem đây là biến tướng của yếu tố may rủi, cờ bạc, đỏ đen. Theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, loại hình này xuất phát từ nhu cầu giải trí của một số người dân nông thôn xưa, khi mà các loại hình giải trí còn đơn sơ, thiếu thốn.
"Yếu tố may rủi thì thực ra loại hình xổ số kiến thiết cũng có, vấn đề là cách tổ chức, cách vận hành và tính pháp lý của loại hình xổ số may mắn trong buổi hát lô tô", ông Thơ nhìn nhận và cho rằng: "Nếu tất cả đã phù hợp với luật pháp quy định và bản thân đoàn hát, người hát lô tô biết giữ chuẩn mực văn minh và tính nghệ thuật thì tôi nghĩ người dân sẽ không đánh giá tiêu cực".
Tuy nhiên, theo ông Thơ, vấn đề còn nằm ở quản lý văn hóa ở địa phương, họ cần rà soát loại hình hoạt động nào của đoàn lô tô không phù hợp với thuần phong mỹ tục và luật pháp đương đại thì cần vận động, hỗ trợ thay đổi, thậm chí loại bỏ.
Cũng theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, hát lô tô có thể xếp vào nhóm các loại hình diễn xướng dân gian đặc thù. Tính đặc thù nằm ở đối tượng hát, đối tượng nghe hát và bản thân loại hình diễn xướng này.
Ở các giai đoạn trước đây, một bộ phận người dân có thể tìm thấy ở các buổi hát lô tô giá trị giải trí tức thời. Ca từ lô tô giản dị, mộc mạc, mang tính "lắp ráp" từ nhiều nguồn khác nhau, từ ca dao tục ngữ, các điệu hò, vè, điệu lý dân gian cho đến các tác phẩm nghệ thuật đại chúng khác, ít nhiều cũng đủ để khán giả xưa cảm thấy thỏa mãn.
Theo ông Thơ, tính tương tác trực tiếp của những người hát với nhau cũng là một điểm thu hút quan trọng của loại hình này đối với công chúng, phần nào cũng thể hiện được trí tuệ và kỹ năng của người hát.
Do vậy, trong bối cảnh ấy, chúng ta có thể nhận thấy hát lô tô là một hoạt động văn hóa dân gian, góp phần bồi đắp đời sống văn hóa các cộng đồng cư dân ở nông thôn hay ngoại ô thành phố lớn.
Tuy nhiên, bối cảnh thay đổi, đối tượng thưởng thức lô tô đã thay đổi về gu thẩm mỹ và ngưỡng nghệ thuật, không ít người cho rằng hát lô tô không còn phù hợp nữa nếu không thay đổi.
Một câu hỏi lớn đặt ra là nếu thay đổi thì liệu hát lô tô có bị đánh mất bản sắc của mình hay không? Câu trả lời là có, nhưng không phải thay đổi nào cũng tiêu cực và cũng không phải được cho là "bản sắc" thật sự là bản sắc.
Bởi lẽ, theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, hát lô tô là loại hình diễn xướng dân gian, được truyền khẩu qua dân gian, sau nhiều thế hệ đã không ngừng được cách tân, bồi đắp liên tục nên ngày một thay đổi. Từ đó, ông đặt ra câu hỏi: "Vậy chúng ta dựa vào đâu để khẳng định hát lô tô ở giai đoạn nào là "bản sắc"?
Cũng có ý kiến cho rằng hát lô tô thời trước khi bùng nổ công nghiệp văn hóa chứa đựng "bản sắc" và cố gắng gìn giữ nguyên trạng, vậy chúng ta phải chấp nhận sự thật là khán giả sẽ ngày một ít đi.
Tựu trung lại, theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, bản thân hát lô tô đã từng là một loại hình văn hóa dân gian, song do sự phát triển của đời sống xã hội, loại hình diễn xướng này đã không còn phù hợp với gu thẩm mỹ và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của số đông công chúng như trước nữa.
"Muốn tồn tại và phát triển, loại hình này phải tự thay đổi và cách tân chính mình. Đây không phải là xu hướng chạy theo khán giả, mà là quá trình hoàn thiện hóa", PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ nhấn mạnh.
Trong câu chuyện của lô tô hôm nay, có lẽ thách thức lớn nhất không phải là thiếu người xem, mà là làm sao bước tới tương lai mà vẫn nhận ra mình trong đó. Khi giữ được cốt lõi và dám thay đổi phần hình thức, lô tô vẫn còn cơ hội sáng đèn lâu dài giữa đời sống hiện đại.
Tin Gốc: Thanh Niên

