Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 sau kiểm toán, hé lộ bức tranh đầu tư tài chính của doanh nghiệp đầu ngành bảo hiểm này.
Cụ thể, danh mục đầu tư vào cổ phiếu niêm yết của BVH có giá gốc 3.528 tỉ đồng tại thời điểm cuối 2025.
Tuy nhiên sau khi trích lập dự phòng giảm giá, giá trị ghi sổ còn 3.381 tỉ đồng, tương ứng khoản lỗ tạm tính gần 150 tỉ đồng.
Phần lớn mức lỗ này đến từ khoản đầu tư vào cổ phiếu VNM của Vinamilk. Tại cuối 2025, Bảo Việt ghi nhận giá gốc khoản đầu tư vào VNM hơn 419 tỉ đồng, song giá trị ghi sổ hiện chỉ còn 311 tỉ đồng, tương đương mức lỗ tạm khoảng 108 tỉ đồng.
BVH cũng không “mát tay” khi đầu tư vào cổ phiếu chưa niêm yết. Theo đó, giá trị gốc của danh mục cổ phiếu chưa niêm yết gần 64 tỉ đồng, nhưng sau khi trích lập dự phòng còn hơn 40,5 tỉ đồng.
Nhìn chung, giá trị đầu tư cổ phiếu trên tổng danh mục các khoản đầu tư tài chính của BVH khá thấp.
Với đặc thù của một doanh nghiệp bảo hiểm, tại thời điểm cuối 2025, tổng giá các khoản đầu tư tài chính nắm giữ đến ngày đáo hạn của BVH lên tới 259.477 tỉ đồng, tăng 15% sau 1 năm.
Trong đó khoản tiền gửi ngân hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong danh mục.
Cụ thể ở kỳ hạn ngắn, tiền gửi đạt gần 119.624 tỉ đồng, tăng mạnh so với mức 96.754 tỉ đồng cuối năm 2024, tương ứng tăng 23%.
Bên cạnh đó, Bảo Việt còn nắm giữ hơn 26.951 tỉ đồng tiền gửi dài hạn.
Như vậy nếu gộp lại cả kỳ hạn ngắn và dài hạn, tiền gửi tại ngân hàng này hơn 146.575 tỉ đồng, chiếm hơn một nửa tổng tài sản.
Ngoài gửi tiền, BVH cũng đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ với hơn 107.861 tỉ đồng, cũng tăng 13% sau 1 năm.
Nhờ lượng tiền gửi tăng lên kèm theo xu hướng đi lên của lãi suất, cả năm 2025, Tập đoàn Bảo Việt “bỏ túi” 7.260 tỉ đồng lãi tiền gửi, tăng hơn 9% so với 2024. Lãi đầu tư trái phiếu cũng mang về 5.402 tỉ đồng, tăng 12%.
Cổ tức được chia mà BVH nhận về khoảng 451 tỉ đồng, ngoài ra lãi đầu tư, kinh doanh chứng khoán cũng lên tới 164 tỉ đồng…
Tổng cộng, doanh thu tài chính cả năm ngoái của “đại gia” ngành bảo hiểm hơn 14.039 tỉ đồng.
Ở chiều ngược lại, BVH cũng phải chi ra 2.919 tỉ đồng cho chi phí hoạt động tài chính, tăng 38%.
Theo dự thảo của Bộ Tài chính, cá nhân, chủ hộ kinh doanh và đại diện doanh nghiệp bỏ địa chỉ đăng ký có thể bị hoãn xuất cảnh nếu nợ thuế từ 1 triệu đồng quá 30 ngày.
Luật sư Lê Thúy Phượng (Công ty Luật LH Legal, nguyên Chánh tòa Hành chính TAND tỉnh Khánh Hòa), đề nghị cân nhắc nâng ngưỡng lên tối thiểu 5 triệu đồng, hoặc chỉ áp dụng với người cố tình trốn thuế. Bởi theo bà, mức 1 triệu đồng là quá thấp so với hậu quả pháp lý khi cá nhân, chủ hộ kinh doanh bị hạn chế quyền xuất cảnh - quyền được Hiến pháp bảo hộ.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính ngân hàng (Đại học Nguyễn Trãi) cho rằng cơ quan soạn thảo cần điều chỉnh ngưỡng nợ lên cao hơn, kết hợp đánh giá mức độ hợp tác và khả năng liên hệ của người nộp thuế.
"Cách tiếp cận này không làm giảm tính nghiêm minh, ngược lại giúp chính sách hướng đúng đối tượng, thuyết phục hơn", ông nói.
Thực tế, đây là lần đầu cơ quan quản lý tính đến việc cấm xuất cảnh người nộp thuế bỏ địa chỉ đăng ký. Hiện tại, cá nhân, chủ hộ kinh doanh chỉ bị tạm hoãn xuất cảnh khi nợ thuế từ 50 triệu đồng trở lên, quá hạn trên 120 ngày. Người đại diện doanh nghiệp sẽ bị cấm xuất cảnh khi nợ từ 500 triệu đồng trở lên và quá hạn trên 120 ngày.
Theo Bộ Tài chính, hiện có khoảng 963.500 người đã bỏ địa chỉ kinh doanh còn nợ thuế, trong đó hơn một nửa nợ dưới 1 triệu đồng. Tổng số thuế nợ lên tới hơn 32.130 tỷ đồng.
Luật sư Lê Thúy Phượng cho rằng việc siết quản lý thuế với nhóm bỏ địa điểm kinh doanh là giải pháp mạnh để xử lý tình trạng cá nhân, hộ đăng ký địa chỉ không có thật, chống thất thu ngân sách. Theo bà, người nộp thuế vẫn có 30 ngày khắc phục sau khi nhận thông báo trước khi bị hoãn xuất cảnh.
"Đây là nhóm có dấu hiệu bỏ địa chỉ, rất khó cưỡng chế bằng các biện pháp thông thường. Trong khi đó, số trường hợp nợ dưới 1 triệu đồng lại rất lớn, nếu không xử lý dễ tạo tâm lý nợ ít cũng không sao", bà nói.
Dẫn số liệu 65.000 người từng bị hoãn xuất cảnh từ Bộ Tài chính, bà đánh giá công cụ cưỡng chế này mang lại hiệu quả thực tế, giúp tăng tính răn đe. Tuy vậy, chuyên gia lưu ý nguy cơ phát sinh vướng mắc trong quá trình thực thi.
Thực tế, có trường hợp hệ thống thuế điện tử ghi nhận chậm nộp do lỗi kỹ thuật hoặc người dân bỏ quên các khoản nợ nhỏ, dẫn tới việc họ bị đưa vào diện cấm xuất cảnh.
Ngoài ra, đặc thù của hộ kinh doanh là thường xuyên thay đổi địa điểm, thuê mặt bằng ngắn hạn hoặc chậm cập nhật thông tin đăng ký. Trong một số trường hợp, cơ quan quản lý có thể xác định là "không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký", dẫn tới nguy cơ cấm xuất cảnh nhầm người.
Ngoài nâng ngưỡng nợ thuế, luật sư Phượng đề nghị cơ quan quản lý phân loại hành vi trốn thuế và chậm nộp. Nhà điều hành cũng cần xây dựng cơ chế xử lý ngay tại cửa khẩu theo hướng cho phép nộp thuế tại chỗ và gỡ bỏ lệnh tạm hoãn xuất cảnh tức thời (không phải chờ 24 giờ).
Ông Nguyễn Quang Huy gợi ý cách tiếp cận theo hướng cảnh báo sớm - đồng hành - phân loại rủi ro. Cụ thể, khi người nộp thuế bắt đầu phát sinh chậm trễ, hệ thống tự động nhắc nhở qua các kênh điện tử, giúp người nộp thuế nhận biết sớm và dễ khắc phục.
Ông Huy nói thêm, khi người nợ thuế chậm nộp, cơ quan thuế cần gửi thông báo chính thức. Trường hợp không được phản hồi, việc xác minh thực tế là cần thiết để cân loại rủi ro.
"Chỉ khi hội tụ đủ dấu hiệu né tránh, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mới nên được xem xét", ông nói.
Ấn Độ - quốc gia nhập khẩu vàng lớn thứ hai thế giới - đang đối mặt áp lực lớn lên nguồn ngoại tệ, khiến Thủ tướng Narendra Modi phải đưa ra lời kêu gọi người dân hạn chế mua vàng trong ít nhất một năm.
Phát biểu mới đây, ông Modi khuyến khích người dân thực hành tiết kiệm trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động và xung đột Trung Đông tiếp tục đẩy giá năng lượng leo thang. Trong đó, việc giảm mua vàng được xem là giải pháp trực tiếp nhằm hạn chế dòng USD chảy ra nước ngoài.
Trong năm tài khóa 2026, Ấn Độ đã chi khoảng 72 tỷ USD để nhập khẩu vàng, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước. Theo Hội đồng Vàng Thế giới, tổng lượng vàng tiêu thụ của nước này trong năm 2025 vượt 710 tấn, riêng nhu cầu trang sức đạt khoảng 430,5 tấn.
Tại Ấn Độ, vàng không đơn thuần là tài sản đầu tư mà còn gắn chặt với văn hóa, tín ngưỡng và các nghi lễ truyền thống. Người dân thường mua vàng trong các dịp lễ lớn, mùa cưới hoặc như biểu tượng của địa vị xã hội. Chính vì vậy, bất kỳ lời kêu gọi nào liên quan đến việc hạn chế mua vàng đều được đánh giá là tác động mạnh tới nền kinh tế và đời sống xã hội.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ Ấn Độ xem đây là biện pháp mà người dân có thể chủ động tham gia để giảm áp lực lên cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối.
Thị trường phản ứng
Lời kêu gọi hạn chế mua vàng của Thủ tướng Narendra Modi đã ngay lập tức tạo ra làn sóng phản ứng trên thị trường tài chính Ấn Độ trong các phiên giao dịch sau đó.
Nhóm cổ phiếu ngành vàng và trang sức đồng loạt lao dốc khi giới đầu tư lo ngại nhu cầu tiêu dùng sẽ suy giảm mạnh. Áp lực bán lan rộng khiến chỉ số chứng khoán Sensex có lúc giảm hơn 1.000 điểm, phản ánh tâm lý lo ngại về nguy cơ gián đoạn kinh tế nếu người dân cắt giảm chi tiêu và nhu cầu tiêu dùng suy yếu kéo dài.
Thông điệp của Thủ tướng Modi nhận được sự ủng hộ từ nhiều tập đoàn và doanh nghiệp lớn tại Ấn Độ như Bharti Enterprises, EY India hay KPMG. Một số doanh nghiệp cho biết đã bắt đầu rà soát các khoản chi phí công tác và kế hoạch tiêu dùng để thích ứng với bối cảnh kinh tế mới.
Theo Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI), dự trữ ngoại hối của nước này tính đến đầu tháng 5 còn khoảng 690,7 tỷ USD, giảm đáng kể so với mức 728 tỷ USD hồi tháng 2. Trong khi đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo thâm hụt tài khoản vãng lai của Ấn Độ năm nay có thể lên tới 84,5 tỷ USD, trong đó nhập khẩu vàng là một trong những nguyên nhân chính.
Thâm hụt tài khoản vãng lai xảy ra khi lượng ngoại tệ chi cho nhập khẩu lớn hơn nguồn thu từ xuất khẩu và dòng tiền từ nước ngoài. Với vàng, toàn bộ giao dịch nhập khẩu đều phải thanh toán bằng USD, khiến nhu cầu ngoại tệ tăng mạnh.
Nếu tình trạng này kéo dài, đồng rupee sẽ chịu áp lực mất giá, kéo theo nguy cơ lạm phát tăng cao và chi phí vay nợ nước ngoài trở nên đắt đỏ hơn.
Trong tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 775 tỷ USD của Ấn Độ, bốn nhóm hàng lớn nhất gồm dầu thô, vàng, dầu thực vật và phân bón chiếm hơn một phần ba giá trị. Dầu thô đứng đầu với 134,7 tỷ USD nhưng là mặt hàng thiết yếu khó cắt giảm. Dầu thực vật và phân bón cũng đóng vai trò quan trọng với an ninh lương thực.
Trong khi đó, hóa đơn nhập khẩu vàng lên tới 72 tỷ USD - gần gấp đôi tổng giá trị nhập khẩu dầu thực vật và phân bón cộng lại - khiến mặt hàng này trở thành mục tiêu dễ kiểm soát nhất để giảm áp lực ngoại tệ.
Áp lực đối với nền kinh tế Ấn Độ càng gia tăng khi chiến sự tại khu vực Trung Đông đe dọa các tuyến vận tải dầu mỏ quan trọng, đặc biệt là eo biển Hormuz - nơi vận chuyển khoảng 20% nguồn cung năng lượng toàn cầu. Khi nguy cơ gián đoạn nguồn cung tăng lên, giá dầu có thể tiếp tục leo thang, buộc Ấn Độ phải dành nhiều ngoại tệ hơn cho nhập khẩu năng lượng.
Theo dự báo của NDTV, nếu Ấn Độ giảm 30-40% lượng vàng nhập khẩu, nước này có thể tiết kiệm khoảng 25 tỷ USD. Trong kịch bản cắt giảm một nửa lượng nhập khẩu vàng, số ngoại tệ tiết kiệm được có thể lên tới 36 tỷ USD.
Khoản tiền này có thể được ưu tiên cho nhập khẩu năng lượng và các nhu cầu thiết yếu khác trong bối cảnh giá dầu thế giới tăng mạnh vì căng thẳng Trung Đông.
Trong văn bản thuyết minh dự thảo nghị quyết của Chính phủ đang được lấy ý kiến, Bộ Công Thương đã đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn nhằm đẩy nhanh lộ trình sử dụng xăng sinh học E10.
Về thị trường tiêu thụ, dự thảo cho biết việc tiêu thụ xăng E5 từng đạt khoảng 40% thị phần. Tuy nhiên, hiện nay giảm còn 15-20% do chênh lệch giá thấp và tâm lý người tiêu dùng. Theo đó, cơ quan soạn thảo cho rằng cần có chính sách phải đủ mạnh, giá phải có chênh lệch rõ và truyền thông rất quan trọng trong quá trình thực hiện.
Về phân tích khoa học, kỹ thuật, Bộ Công Thương cho biết ethanol E100 có hàm lượng oxy khoảng 34,7% và chỉ số octan cao, khoảng 108 RON, qua đó giúp quá trình cháy diễn ra hiệu quả hơn.
Đối với ảnh hưởng động cơ, cơ quan soạn thảo cũng cho biết các nghiên cứu đã chỉ ra xăng E10 tương thích với hơn 90% phương tiện đang lưu hành và không cần cải tiến động cơ khi sử dụng. Về môi trường, xăng E10 góp phần giảm phát thải khí CO từ 20-30% và giảm hydrocarbon (HC) từ 10-20% so với xăng khoáng thông thường.
Về thực trạng triển khai nhiên liệu sinh học, Bộ Công Thương cho biết nhu cầu ethanol (E100) để phối trộn xăng sinh học E5, E10 hiện ước khoảng 92.000-100.000 m3/tháng với mức tiêu thụ xăng trung bình khoảng 1 triệu m3/tháng (trong đó, khoảng 15% E5 RON 92 và 85% E10 RON 95).
Tuy nhiên, sản lượng trong nước từ tháng 4 chỉ đạt khoảng 25.000 m3/tháng. Nếu các nhà máy nâng công suất và một số dự án tái hoạt động, tổng công suất có thể tăng lên khoảng 44.000 m3/tháng, song vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu.
Việt Nam có 6 nhà máy E100, tổng công suất thiết kế khoảng 500.000-600.000m3/năm. Tuy nhiên công suất thực tế chỉ đạt 30-40%. Vì vậy, Việt Nam dự kiến vẫn phải nhập khẩu khoảng 75.000 m3 E100 mỗi tháng trong ít nhất một năm tới để đáp ứng phối trộn xăng E5, E10.
Đến cuối tháng 3, cả nước có 12/26 thương nhân đầu mối đầu tư trạm phối trộn xăng sinh học. Ngoài ra, 9 doanh nghiệp khác đang chờ cấp phép với tổng công suất hơn 260.000 m3/tháng. Nếu được phê duyệt, tổng công suất phối trộn xăng E10 toàn thị trường sẽ đạt hơn 1,15 triệu m3/tháng. Các thương nhân đầu mối còn lại vẫn chưa đầu tư hoặc đang hoàn thiện thủ tục cho trạm phối trộn.
Theo dự thảo, việc chuyển đổi từ xăng khoáng RON 95 sang xăng sinh học E10 RON 95 không cần đầu tư thêm bồn bể mới. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải cải tạo, nâng cấp hệ thống bồn bể để phù hợp với đặc tính của xăng E10.
Tại thời điểm chuyển đổi, doanh nghiệp có hai phương án xử lý lượng xăng khoáng còn tồn trong bồn bể. Phương án thứ nhất là hút hết lượng xăng còn lại và thau rửa toàn bộ hệ thống trước khi đưa E10 vào kinh doanh. Cách làm này đảm bảo chất lượng xăng E10 đúng quy chuẩn nhưng phát sinh thêm thời gian và chi phí.
Phương án thứ hai là bổ sung trực tiếp xăng E10 vào bồn vẫn còn tồn khoảng 20% xăng khoáng. Cách này giúp giảm thời gian và chi phí chuyển đổi, song trong giai đoạn đầu khoảng 15 ngày, hàm lượng ethanol trong xăng có thể chưa đạt đúng quy định theo quy chuẩn kỹ thuật.
Về tính khả thi, dự thảo cho biết hiện nay Việt Nam đã có nền tảng nhất định để triển khai xăng sinh học E10, bao gồm: Hệ thống phân phối xăng E5 đã được hình thành trên phạm vi toàn quốc và đã tiến hành pha chế, phối trộn và kinh doanh xăng E10 tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước từ đầu tháng 8/2025.
Một số thương nhân đầu mối đã đầu tư hệ thống phối trộn nhiên liệu sinh học; hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật cơ bản đã được ban hành; một số nhà máy ethanol nhiên liệu có khả năng khôi phục và mở rộng công suất; người tiêu dùng đã bước đầu tiếp cận với nhiên liệu sinh học.
Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo cho rằng để triển khai đồng bộ xăng E10 cần tiếp tục tháo gỡ các khó khăn về hạ tầng, nguồn cung ethanol, cơ chế giá và chính sách hỗ trợ.