Cuối tháng 7, trong căn nhà ở phường Bảo Vinh (Đồng Nai), cựu binh 77 tuổi vừa trải qua cơn bạo bệnh vẫn gượng dậy theo dõi tin tức về cuộc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng, TP HCM.
Trong số các hài cốt đã quy tập, một trường hợp còn giấy tờ mang tên Huỳnh Văn Quên. Kết quả xác minh ban đầu cho thấy liệt sĩ thuộc Tiểu đoàn 1 Long An, đơn vị từng tham gia trận đánh cầu Chữ Y (khu vực quận 5 và 8 cũ) – cửa ngõ vào trung tâm thành phố, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Thông tin ấy khiến ký ức của ông Sửu trở lại những năm tháng chiến đấu cùng Tiểu đoàn 1, khi ông mới 17 tuổi.
Cha tham gia kháng chiến chống Pháp, thường xuyên vắng nhà. Nhờ người quen làm y tá, Sửu được gửi vào quân y tỉnh, hàng ngày cắt cỏ, nấu cơm cho bộ đội. Vì nhỏ tuổi, ông được gọi vui là “lính sữa”.
Hai tháng sau, thấy những người lính lần lượt ra trận, ông trốn khỏi đơn vị quân y, xin vào Tiểu đoàn 1. Từ một thiếu niên nhỏ con, gầy gò, Sửu dần trở thành xạ thủ B41 của Trung đội 2, Đại đội 4.
Theo sách Tiểu đoàn 1 Long An – Đơn vị ba lần Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cuối năm 1967, khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân được chuẩn bị, Sài Gòn – Chợ Lớn và vùng phụ cận được chia thành nhiều phân khu. Tiểu đoàn 1 trở thành lực lượng nòng cốt của Phân khu 3, phụ trách hướng nam Sài Gòn.
Đơn vị ông Sửu hành quân về căn cứ Ba Thu, huyện Đức Huệ, Long An cũ, để nhận vũ khí và tập cách chiến đấu trong đô thị. Bộ đội được huấn luyện bên những bãi trống, bờ mương nhưng chưa ai biết chính xác nhiệm vụ sắp tới.
Ngày 30 Tết, họ được lệnh lau chùi súng đạn, sáng mùng Một lên đường. Khi chỉ huy thông báo đây là cuộc tiến công lớn vào Sài Gòn, những người lính trẻ rất phấn chấn. Nhiều người bỏ lại đồ dùng không cần thiết, tin rằng ngày hôm sau sẽ vào được trung tâm thành phố.
Tuy nhiên, diễn biến chiến trường khó khăn hơn dự kiến. Lực lượng đối phương đông, được máy bay và pháo binh yểm trợ, khiến các đơn vị tiến công không thể vào sâu nội thành.
Trong một trận đánh ở quận 8 cũ gần lộ số 5, nay là quốc lộ 50, ông Sửu được điều đến hỗ trợ Đại đội 1 đang bị vây. Quân đối phương đặt khẩu đại liên trên tầng một, khống chế các hướng di chuyển. Dù chưa từng sử dụng B40, ông nhận nhiệm vụ tiêu diệt hỏa điểm. “Nếu chần chừ, anh em phía trước sẽ không trụ được”, ông nhớ lại.
Ông bò sát mặt đất, vượt qua làn đạn đến căn nhà cách mục tiêu khoảng 70 m rồi khai hỏa, làm tê liệt hỏa điểm. Quân đối phương sau đó bắn trả bằng súng phóng lựu, khiến một chiến sĩ bên cạnh ông hy sinh.
Đại đội bám trụ gần một tuần trên tầng hai của một tòa nhà trước khi được lệnh rút, do lo ngại đối phương sẽ sử dụng bom phá hủy khu vực. Trong đêm, những người lính bò qua bãi cỏ sình lầy, bùn ngập đến đầu gối. Quãng đường hơn 2 km mất gần một giờ mới vượt qua.
Tiểu đoàn 1 sau đó rút về Cần Giuộc để củng cố lực lượng. Ông Sửu được thăng từ tiểu đội trưởng lên trung đội phó. Ba tháng sau, đêm 5/5/1968, đơn vị ông đi xuồng theo rạch Cây Khô, đổ bộ tại vị trí cách cầu Chữ Y khoảng 2 km, mở màn trận đánh trong đợt hai tiến công Sài Gòn.
Trời gần sáng, khi bộ đội chuẩn bị vượt đường, một toán lính đối phương ném lựu đạn chặn lại. Nhóm ông Sửu phải bắn vỡ các bóng đèn hai bên đường, lợi dụng bóng tối tiếp tục tiến lên.
Khoảng 8h, khi đến gần cầu Chữ Y, bộ đội phát hiện xe chở quân chi viện nên khai hỏa. Trực thăng sau đó liên tục quần thảo, bắn xuống khu vực. Các chiến sĩ phải tỏa vào những dãy nhà ven đường tìm chỗ ẩn nấp.
Một quả rocket lao vào căn nhà nơi nhóm ông Sửu trú quân. Vụ nổ làm căn nhà rung chuyển, một số chiến sĩ bị thương. Ông và vài đồng đội thoát nạn nhờ nằm dưới sàn một bộ ván gỗ.
“Đến đêm, cả dãy nhà dài chừng 100 m sáng rực. Tường đổ ầm ầm, mái tôn văng khắp nơi, khói bốc cuồn cuộn”, ông kể. Phía trước và sau đều bị bao vây, đơn vị phải vòng sang hướng khác. Mỗi người được cấp một ruột tượng đựng cơm rang cùng hộp sữa, nhưng sau những đợt giao tranh, họ gần như không còn sức để ăn.
Sau nhiều đợt giằng co, Tiểu đoàn 1 đánh bật lực lượng bảo vệ cầu, đồng thời ngăn đối phương từ bờ bên kia tiến sang. Các đại đội ở hai cánh chiếm lĩnh trận địa tại cầu Mật và cầu Rạch Bần. Đơn vị kiểm soát một đoạn dài trên đường Phạm Thế Hiển, phía nam cầu Chữ Y.
Ở bờ đối diện, quân đội Việt Nam Cộng Hòa dựng kẽm gai, bao cát và điều xe bọc thép đến yểm trợ.
Ông Sửu nhớ tại Đại đội 1 có trung đội phó tên Tài, xạ thủ B40 nổi tiếng gan dạ. Mỗi khi phát hiện xe bọc thép, người này một mình luồn qua các mô đất, bụi cây để tiếp cận, khai hỏa rồi nhanh chóng rút về công sự.
Theo ông Sửu, xạ thủ Tài đã bắn hỏng 6 xe bọc thép trong trận cầu Chữ Y, giúp củng cố tinh thần đơn vị.
Chiến sự ác liệt khiến người dân phải sơ tán. Trước khi đi, nhiều người căn dặn bộ đội: “Chúng tôi gửi nhà lại cho các chú, cần gì cứ lấy mà dùng”.
Sang ngày thứ hai, ông Sửu bị trúng đạn, phải rời trận địa. Diễn biến những ngày tiếp theo được ông tìm hiểu qua đồng đội và lịch sử đơn vị.
Theo tài liệu Tiểu đoàn 1, cầu Chữ Y khi đó trở thành một trong những mặt trận ác liệt tại Sài Gòn. Quân Mỹ và quân đội Sài Gòn sử dụng hỏa lực từ nhiều hướng, đốt và đánh sập các dãy nhà hai bên sông nhằm triệt nơi trú quân của bộ đội.
Đến ngày thứ tư, lực lượng Mỹ tập trung Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 9 cùng nhiều đơn vị quân đội Sài Gòn nhưng chưa đẩy được Tiểu đoàn 1 khỏi khu vực phía nam cầu.
Ngày thứ sáu, quân Mỹ đóng thành nhiều cụm dọc đường Phạm Thế Hiển. Tiểu đoàn tập hợp tất cả những người còn khả năng chiến đấu, tổ chức thành các phân đội tập kích ban đêm.
Ngày cuối, một tiểu đoàn quân Mỹ được đổ xuống cánh đồng phía nam, trong khi hai cánh quân từ cầu Mật và cầu Rạch Bần dần khép vòng vây. Trực thăng soi đèn trên không, chuẩn bị đổ thêm quân.
Sau một tuần bám trụ, Tiểu đoàn 1 được lệnh rút về Đông Thạnh, Cần Giuộc.
Khi trở lại đơn vị, ông Sửu hỏi thăm nhóm bạn cùng xóm nhập ngũ chung đợt, chiến đấu tại Đại đội 2. “Cư làm liên lạc, Lẵm là y tá, còn Vinh cũng đi cùng đợt. Sau trận ấy, cả ba đều hy sinh khi mới 19, 20 tuổi”, ông kể.
Trận cầu Chữ Y sau đó được báo cáo tại hội nghị tổng kết chiến trường miền Nam tháng 9/1968, được đánh giá cao về khả năng bám trụ và tác động quân sự, chính trị trong đợt hai tiến công Sài Gòn.
Sau hai tháng điều trị, ông Sửu trở lại đơn vị. Năm 1970, ông giữ chức đại đội trưởng, sau đó tham gia chiến đấu tại Campuchia. Năm 1980, sức khỏe suy giảm, ông giải ngũ. Ba năm sau, gia đình chuyển đến Long Khánh, Đồng Nai sinh sống.
Gần 6 thập kỷ sau trận đánh, người cựu binh vẫn day dứt khi nghĩ đến những đồng đội chưa được tìm thấy. “Mình còn sống đến giờ là quá may mắn. Chỉ thương anh em vẫn nằm lại đâu đó ngoài đồng, dưới sông suốt mấy chục năm. Tôi mong mọi người sớm được tìm thấy, đưa về với gia đình”, ông nói, mắt đỏ hoe.
Bệnh nhân dù có bảo hiểm y tế (BHYT) nhưng vẫn phải bỏ tiền túi mua bên ngoài các loại thuốc thuộc danh mục được BHYT thanh toán lẫn thuốc ngoài danh mục là vấn đề nhức nhối kéo dài tại nhiều cơ sở y tế hiện nay. Dù các cơ quan quản lý đã nhiều lần lên tiếng về công tác đấu thầu, cung ứng, và một số "sự cố kỹ thuật" khác, nhưng tình trạng vẫn tái diễn đẩy người bệnh vào thế khó khăn... Thực trạng này thu hút nhiều ý kiến của bạn đọc (BĐ) Thanh Niên.
Nhiều năm qua, hình ảnh bệnh nhân cầm toa thuốc đi lòng vòng khắp các hiệu thuốc bên ngoài bệnh viện (BV) đã không còn hiếm. BĐ Nguyễn Hữu Trọng chia sẻ: "Tôi làm trong ngành quân y gần 40 năm, đã nghỉ hưu gần 10 năm, năm nay 70 tuổi. Thế nhưng suốt thời gian qua, mỗi lần đi khám bệnh, dù thuộc diện được hưởng BHYT 100%, cuối cùng tôi vẫn phải chi tiền túi khá nhiều. Vậy những người chỉ được hưởng 80% hoặc thuộc diện khó khăn sẽ còn vất vả đến mức nào? Người dân rất cần một hệ thống BHYT minh bạch hơn, công khai rõ danh mục thuốc, quyền lợi được hưởng và có giải pháp để giảm gánh nặng chi phí thực tế cho người bệnh, nhất là người cao tuổi và người có thu nhập thấp".
BĐ Vũ Thị Thu Hương cũng bày tỏ: "Ông anh tôi bị tim, mỗi lần đi khám đều mang theo thẻ BHYT nhưng vẫn thủ sẵn tiền riêng vì sợ thiếu thuốc trong viện. Nhìn cảnh có người cầm toa rồi hỏi nhỏ "uống thiếu vài hôm có sao không bác sĩ?" nghe đau lòng thật".
BĐ An Gia cho biết có chú ruột điều trị ung thư, kể lại: "Có BHYT nhưng tiền thuốc mua ngoài suốt mấy tháng gần bằng số tiền tích cóp cả năm. Nhà đông con còn đỡ, chứ nhiều cô chú già chỉ sống bằng lương hưu ít ỏi thì rất dễ bỏ điều trị giữa chừng...".
Đặc biệt, cái gọi là "ngoài danh mục" hay "BV tạm hết" đã biến quá trình điều trị thành yếu tố "may rủi" như phản ánh của BĐ Nguyễn Thanh: "Hồi bà xã tôi nằm viện tim mạch, sáng nào người nhà cũng thấp thỏm xem hôm nay có bị yêu cầu ra ngoài mua thuốc nữa không. Có hôm mua được gần BV, có hôm chạy vài cây số mới có đúng loại thuốc bác sĩ dặn. Người dân chỉ cần tới BV mà có đủ thuốc điều trị là mừng rồi. Bệnh nhân đang đau mà còn phải chạy khắp nơi mua thuốc thì thật quá vất vả".
"Bệnh nhân phải tự thích nghi với tình trạng thiếu thuốc kéo dài thì rõ ràng hệ thống y tế có vấn đề?", BĐ Trần Đức Hoàn đặt câu hỏi. Cũng theo BĐ này: "Tôi nhớ thời điểm dịch bệnh từng nghe giải thích thiếu thuốc do đứt gãy nguồn cung nên còn hiểu được. Nhưng giờ qua bao nhiêu năm rồi mà đi khám vẫn gặp cảnh "thuốc này BV tạm hết". Liệu việc bệnh nhân tự mua thuốc bên ngoài đang dần bị xem là bình thường?
Trong khi đó, BĐ Hữu Toàn ví von, đi khám bệnh giờ đây không khác nào "chơi trò đoán chữ". Thậm chí, cùng một loại thuốc, BV này thanh toán nhưng nơi khác lại từ chối. Do đó, BĐ Nguyễn Văn Hùng đề nghị: "Nếu đã có danh mục thì phải công khai, sao cho dễ hiểu để bệnh nhân tra cứu. Hiện giờ, người bệnh không có cách nào kiểm chứng. Nhiều cô chú lớn tuổi còn nghĩ bác sĩ kê gì là BHYT phải chi trả cái đó, đến lúc cầm hóa đơn mới tá hỏa. Tôi thấy cái thiếu lớn nhất là thiếu minh bạch thông tin cho người tham gia BHYT". BĐ Nguyễn Thị Ngân Hà cũng chỉ ra rằng, "quy trình hoàn tiền dù có tồn tại nhưng lại chưa phổ biến rộng rãi và nhiều người chưa tiếp cận được".
Bệnh nhân tự mua thuốc bên ngoài không chỉ gây ra áp lực tài chính cho chính họ và gia đình, mà còn có thể gây rủi ro sức khỏe lâu dài cho người bệnh. BĐ Bùi Đình Hùng chia sẻ: "Nhìn mấy cô chú lớn tuổi đứng trước quầy thuốc cứ hỏi nhỏ "bớt được thuốc nào không con?" nghe xót lắm". Còn theo BĐ Đỗ Mạnh Đức, tình trạng không cung ứng đủ thuốc đang "ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi người bệnh và quá trình điều trị lâu dài".
Dù các giải pháp như tăng cường công nghệ thông tin hay minh bạch hóa danh mục thuốc được đề xuất, nhiều BĐ đang mong chờ thay đổi thực chất như kỳ vọng của BĐ Trần Khánh Linh: "Hy vọng các đơn vị y tế sẽ tăng cường dự phòng nguồn thuốc, minh bạch trong phối hợp... để không ai phải chịu cảnh bệnh tật kéo dài".
Thông tin từ UBND đặc khu Cô Tô cho biết lực lượng chức năng cùng ngư dân địa phương đã tìm thấy anh Lê Văn Bền (58 tuổi, quê Ninh Bình), ngư dân mất tích cuối cùng trong vụ chìm tàu cá xảy ra trên vùng biển Cô Tô.
Theo thông tin ban đầu, sức khỏe của anh Bền hiện ổn định sau nhiều giờ trôi dạt trên biển. Như vậy, toàn bộ 4 thuyền viên trong vụ chìm tàu cá tại Cô Tô đều đã được cứu sống an toàn.
Trước đó, như Thanh Niên đã thông tin, khoảng 1 giờ ngày 9.5, thuyền câu do ông Nguyễn Văn Tùng (58 tuổi, trú khu 4, đặc khu Cô Tô) làm chủ, khi đang khai thác thủy sản thì gặp sự cố bục thuyền, nước tràn vào khiến phương tiện bị chìm.
Thời điểm xảy ra vụ chìm tàu cá, trên thuyền có 4 người gồm ông Nguyễn Văn Tùng, ông Nguyễn Mạnh Hùng (25 tuổi, quê Thanh Hóa), ông Lê Văn Út (36 tuổi, quê Cần Thơ) và ông Lê Văn Bền. Vị trí tàu cá gặp nạn được xác định cách Cô Tô khoảng 7 hải lý.
Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Tùng, khi tàu cá bị chìm, cả 4 ngư dân đã rời thuyền và trôi dạt trên biển. Sau đó, 3 người gồm ông Tùng, ông Hùng và ông Út được một tàu cá phát hiện, cứu vớt kịp thời. Riêng anh Lê Văn Bền mất tích nhiều giờ trên biển.
Ngay sau vụ chìm tàu cá, Đảng ủy và UBND đặc khu Cô Tô đã huy động lực lượng chức năng phối hợp cùng ngư dân triển khai tìm kiếm xuyên đêm. Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 cũng điều động lực lượng hỗ trợ công tác cứu nạn.
Qua vụ việc chìm tàu cá tại Cô Tô, cơ quan chức năng tiếp tục khuyến cáo người dân và ngư dân cần thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết trước khi ra khơi; tuyệt đối không chủ quan trước các hiện tượng thời tiết cực đoan, bất thường trên biển để hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản.
Từ năm 1965, Mỹ dùng không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc trên quy mô lớn, cường độ ngày càng khốc liệt. Huyết mạch giao thông bến phà Gianh bị đánh phá dữ dội. Ngoài bom đạn, nơi đây còn hứng chịu thủy lôi do máy bay thả xuống với mục đích cắt đứt tuyến đường chi viện từ miền Bắc vào Nam.
Tháng 10/1965, chàng trai Trần Xuân Khuể mới 19 tuổi viết đơn tình nguyện vào lực lượng hải quân. Sau đợt khám sức khỏe, ông không đạt tiêu chuẩn nên nhập ngũ vào công binh C26, Tỉnh đội Quảng Bình. Đơn vị của ông làm nhiệm vụ tại phà Giang, vận chuyển xe, vũ khí, lương thực vào chiến trường miền Nam.
Ban đầu được biên chế làm nhiệm vụ đưa phà qua sông, sau 4 tháng ông được đi học lái cano, là một trong 25 người của trung đội làm nhiệm vụ lái cano phá thủy lôi trên sông Gianh.
Mỗi lần máy bay địch quần thảo trên bầu trời thường theo hai chiếc, mỗi chiếc thả 12 quả thủy lôi xuống sông. Tại đây có một đại đội quan sát ngày đêm, khi phát hiện thủy lôi rơi ở vị trí nào sẽ báo cho đội rà phá.
Sông Gianh rộng khoảng 800 m, bờ Nam và bờ Bắc mỗi bên bố trí một đại đội. Để phá thủy lôi, một sợi dây được kéo qua sông, cứ mỗi đoạn 5 m buộc một cục nam châm, tiếp theo 5 m buộc một cục sắt. Sợi dây dài hơn 800 m được kéo qua kéo lại trong khu vực bán kính khoảng 100 m. Mỗi khi dây đi qua gặp thủy lôi, từ trường sẽ kích nổ.
Sau khi kéo dây, đại đội của ông Khuể lái cano rà phá. Công việc chia theo ca kíp, mỗi lần có một người lái và hai người hỗ trợ. Cano chạy qua lại trên sông Gianh theo hang lối, khi gặp thủy lôi sẽ kích nổ.
Thủy lôi địch thả xuống có gắn dù nên thường cách mặt nước khoảng một mét. Để kích nổ, ông cho cano chạy hết tốc độ, khoảng 50-70 km/h. Khi cano băng qua, thủy lôi phát nổ phía sau nên không gây thương tích cho người lái.
Sinh ra ở vùng sông nước Gianh, ông Khuể thông thạo luồng lạch, biết rõ chỗ sâu, chỗ cạn, lợi thế so với nhiều đồng đội từ nơi khác đến. Vì vậy, những khu vực nguy hiểm, khó khăn thường được giao cho ông. "Lái cano mà mắc cạn gặp thủy lôi thì gần như không còn cơ hội sống. Nhờ kinh nghiệm nên tôi biết cách xử lý", ông nói.
Trên sông Gianh, ngoài công binh còn nhiều đơn vị khác phối hợp làm nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam. Hàng ngày địch dội bom đạn, nhiều người chết và bị thương. Thời điểm chiến tranh khốc liệt, hầu như ngày nào địch cũng cho máy bay thả thủy lôi xuống sông Gianh.
Khi máy bay đến, các đơn vị khác có thể xuống hầm trú ẩn, còn những người lái cano, vận hành bến phà thì trên trời bom đạn, dưới sông thủy lôi, không có gì che chắn. "Mọi người làm việc trong tâm thế sống chết là may rủi của số phận, nhưng ai cũng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ", ông nhớ lại tâm thế ngày đó.
Năm 1967, mẹ bị trúng rocket qua đời, ông Khuể sống một mình. Do chưa lập gia đình, ông thường nhận những nhiệm vụ nguy hiểm nhất với suy nghĩ "nếu có hy sinh cũng không vướng bận".
Trong hàng trăm lần làm nhiệm vụ, ông nhớ nhất chuyến đi khoảng 4h một ngày tháng 8/1968. Hôm đó trời âm u, ông lái cano cùng hai đồng đội xung phong đi rà phá thủy lôi. Nhóm xuất phát từ sông Gianh ra cửa biển, nơi địch vừa thả thủy lôi và được tiên lượng chuyến đi "lành ít dữ nhiều".
Trước khi làm nhiệm vụ, đơn vị tổ chức lễ truy điệu sống cho ba người. Chiếc mũ cối cùng nắm cơm vắt được đặt xuống đất, thắp ba nén hương.
"Chính trị viên vừa thật vừa đùa rằng thắp hương cho vui thôi, chứ không chết đâu", ông nhớ lại. Đó là lời động viên trước giờ xuất phát, còn ai cũng nghĩ có thể bị thương hoặc hy sinh, nhưng không ai từ chối nhiệm vụ. May mắn chuyến đi phá hủy được nhiều thủy lôi và cả ba trở về an toàn.
Năm 21 tuổi, ông được kết nạp Đảng nhờ thành tích trong rà phá thủy lôi. 6 năm cầm lái cano phá thủy lôi trong chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất và lần thứ hai của Mỹ, ông không nhớ đã phá được bao nhiêu quả. "Chỉ nhớ 7 lần thoát chết khi thủy lôi nổ gần. Năm 1968, có lần thủy lôi nổ trúng, tôi bị hất tung lên rồi rơi xuống nước, may được đồng đội cứu", ông kể.
Ngày 6/7/1972, khi đang ở dưới hầm, ông được cán bộ tỉnh đến trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được thưởng 180 đồng, phích nước và bộ ấm chén. Số tiền đó ông dành 80 đồng mua hai con lợn, hai cây thuốc lá để toàn đơn vị liên hoan, một phần biếu những gia đình từng cưu mang mình, còn lại 20 đồng gửi về cho người vợ mới cưới, dặn mua bộ quần áo mới.
Cuối năm 1973, Mỹ ngừng bắn ở miền Bắc, đơn vị chuyển sang ngành giao thông, ông cũng chuyển sang lái phà. Đến năm 1998, cầu Gianh được xây dựng, chấm dứt hoạt động của bến phà cuối cùng trên quốc lộ 1, ông chuyển sang làm nhân viên bán vé cho đến năm 2006 thì nghỉ hưu.
Từ một thanh niên nông thôn nhập ngũ, khi trở về ông tiếp tục làm nông, trồng lúa, nuôi gà, lợn. Vợ chồng ông có 5 người con, đều đã lập gia đình. Hai ông bà hiện sống trong căn nhà cấp bốn xây từ năm 1991, ở thôn La Hà, xã Nam Gianh, ngay bên sông Gianh.