Thông tư 26 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học, thoạt nhìn là một văn bản kỹ thuật: quy định tiêu chí, chuẩn hóa đội ngũ, phân hạng chức danh. Đây cũng là một thông điệp mạnh mẽ: đại học Việt Nam đang bước vào một giai đoạn buộc phải chuyên nghiệp hóa thực sự, không chỉ ở hệ thống, mà ở từng con người đứng lớp.
Dưới góc nhìn của một giảng viên, tôi cho rằng điểm đáng chú ý nhất của thông tư này không nằm ở số lượng bài báo hay số đề tài nghiên cứu, mà nằm ở cách định nghĩa lại “nghề giảng viên”.
Thông tư 26 đặt “đạo đức” lên vị trí đầu tiên trong ba nhóm tiêu chuẩn. Điều này không mới, nhưng lần này được nhấn mạnh cụ thể hơn: giảng viên phải giữ gìn liêm chính khoa học, trung thực trong nghiên cứu, công bố, giảng dạy. Trong bối cảnh hiện nay, đây không phải là điều thừa.
Không khó để thấy những biểu hiện đáng lo ngại: chạy theo số lượng bài báo, công bố quốc tế bằng mọi giá; “đồng tác giả” mang tính hình thức; thậm chí đạo văn, trích dẫn thiếu chuẩn mực. Những hiện tượng này không phổ biến đến mức đáng báo động toàn hệ thống, nhưng đủ để làm xói mòn niềm tin học thuật nếu không được chấn chỉnh.
Vấn đề là: đạo đức không thể chỉ được “quy định”. Một giảng viên có thể đáp ứng đầy đủ tiêu chí về bằng cấp, bài báo, đề tài, nhưng vẫn thiếu trung thực trong nghiên cứu. Ngược lại, có những người làm khoa học nghiêm túc, nhưng lại không “đạt chuẩn” vì thiếu số lượng công bố.
Nếu chỉ dừng ở tiêu chí, chúng ta có nguy cơ biến liêm chính khoa học thành một khẩu hiệu. Điều cần thiết hơn là xây dựng một hệ sinh thái học thuật minh bạch: quy trình phản biện nghiêm túc, cơ chế kiểm tra đạo văn hiệu quả, và quan trọng nhất là văn hóa tôn trọng sự thật. Khi đó, đạo đức không còn là điều phải “nhắc nhở”, mà trở thành một chuẩn mực tự nhiên.
Thông tư 26 quy định khá rõ về yêu cầu nghiên cứu khoa học: từ giảng viên chính phải có bài báo quốc tế, đến giảng viên cao cấp phải có số lượng công bố nhất định, kèm theo đề tài, sách chuyên môn. Về nguyên tắc, đây là bước đi đúng. Đại học không thể chỉ dạy mà không nghiên cứu.
Một giảng viên không làm khoa học sẽ khó cập nhật tri thức, khó dẫn dắt sinh viên. Nhưng trong thực tế, câu chuyện không đơn giản.
Ở nhiều cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường ngoài công lập hoặc trường định hướng ứng dụng, điều kiện nghiên cứu còn hạn chế: thiếu kinh phí, thiếu nhóm nghiên cứu, thiếu thời gian vì áp lực giảng dạy lớn.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu “chuẩn hóa” dễ biến thành áp lực hình thức. Hệ quả là gì? Là sự nở rộ của những bài báo “cho đủ chuẩn”, những đề tài làm để nghiệm thu, không phải để giải quyết vấn đề thực tiễn.
Một nền học thuật không thể phát triển bền vững nếu bị chi phối bởi tâm lý “làm cho có”. Do đó cần một cách tiếp cận linh hoạt hơn. Không nên đánh giá giảng viên chỉ bằng số lượng bài báo, mà cần nhìn vào chất lượng, tác động và tính ứng dụng. Với những ngành nghề đặc thù, có thể chấp nhận các sản phẩm thay thế như chuyển giao công nghệ, sáng kiến, hoặc đóng góp cho cộng đồng. Chuẩn hóa là cần thiết, nhưng chuẩn phải phù hợp với thực tế.
Một điểm mới quan trọng của thông tư là áp dụng cho toàn bộ giảng viên, cả công lập và ngoài công lập. Điều này giúp tạo mặt bằng chung, tránh tình trạng “hai chuẩn” trong cùng một hệ thống.
Tuy nhiên, sự khác biệt về điều kiện giữa các loại hình trường là rất lớn. Các trường công lập lớn có truyền thống nghiên cứu, có đội ngũ mạnh, có nguồn lực. Trong khi đó, nhiều trường ngoài công lập tập trung vào đào tạo ứng dụng, phục vụ nhu cầu thị trường lao động, với mô hình vận hành linh hoạt hơn.
Nếu áp dụng cùng một bộ tiêu chí cứng, nguy cơ là làm giảm tính đa dạng của hệ thống đại học. Các trường có thể buộc phải “chạy theo chuẩn” thay vì phát triển theo thế mạnh riêng.
Giải pháp không phải là hạ chuẩn mà là phân tầng chuẩn. Có thể xây dựng các nhóm tiêu chí khác nhau, tương ứng với định hướng nghiên cứu, ứng dụng, hay thực hành nghề nghiệp. Một hệ thống đại học khỏe mạnh không phải là hệ thống đồng nhất, mà là hệ thống đa dạng nhưng có chuẩn mực chung.
Thông tư 26 cũng đặt ra yêu cầu về ngoại ngữ, công nghệ thông tin, khả năng đổi mới sáng tạo. Đây là những năng lực không thể thiếu trong bối cảnh giáo dục đại học đang chuyển đổi số mạnh mẽ. Nhưng một câu hỏi cần đặt ra: liệu chúng ta đang đào tạo giảng viên như những “người làm đủ việc”, hay như những “chuyên gia trong lĩnh vực”?
Một giảng viên giỏi không nhất thiết phải giỏi mọi thứ. Điều quan trọng là họ có thể làm tốt vai trò của mình: giảng dạy, nghiên cứu, hoặc kết nối với thực tiễn. Do đó, thay vì yêu cầu tất cả giảng viên đạt cùng một bộ tiêu chí toàn diện, cần khuyến khích sự chuyên sâu. Có người mạnh về nghiên cứu, có người giỏi giảng dạy, có người kết nối doanh nghiệp. Khi mỗi người phát huy được thế mạnh, tập thể sẽ mạnh lên.
Để thông tư 26 thực sự đi vào đời sống, theo tôi cần ba hướng chính:
Một là, xây dựng cơ chế đánh giá đa chiều. Không chỉ dựa vào số liệu cứng, mà cần có đánh giá định tính từ sinh viên, đồng nghiệp và các bên liên quan.
Hai là, đầu tư cho môi trường nghiên cứu. Nếu yêu cầu giảng viên làm khoa học, phải tạo điều kiện: quỹ nghiên cứu, thời gian, kết nối quốc tế và đặc biệt là giảm tải hành chính.
Ba là, nuôi dưỡng văn hóa học thuật. Đây là yếu tố cốt lõi nhưng khó nhất. Một môi trường tôn trọng tri thức, khuyến khích tranh luận, đề cao sự trung thực sẽ tự khắc tạo ra những giảng viên “đúng chuẩn” theo nghĩa sâu nhất.
Xét cho cùng, Thông tư 26 không phải là câu chuyện của những con số mà là câu chuyện về việc chúng ta muốn đại học Việt Nam trở thành gì. Nếu chỉ dừng ở việc “đủ chuẩn”, chúng ta sẽ có một đội ngũ giảng viên đạt yêu cầu trên giấy tờ. Nhưng nếu đi xa hơn, hướng đến “đúng nghề”, chúng ta mới có thể xây dựng một nền giáo dục đại học thực sự có chiều sâu. Và ở đó, giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức, mà là người giữ lửa cho một nền học thuật tử tế.
Ba năm qua, cả khu vực TP HCM, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu cũ đều tổ chức thi tuyển vào lớp 10 bằng các môn Toán, Văn, Tiếng Anh. Tuy nhiên, ngoài đề thi, cách tính điểm xét tuyển của Bà Rịa - Vũng Tàu khác biệt với TP HCM và Bình Dương.
Điểm chuẩn vào lớp 10 ở TP HCM, Bình Dương cũ phân hóa giữa trung tâm và ngoại thành trong khi các trường ở Bà Rịa - Vũng Tàu biến động mạnh trong năm 2025 do thay đổi công thức tính điểm.
Xét riêng khu vực TP HCM cũ, điểm xét tuyển vào lớp 10 là tổng điểm ba môn Toán, Văn, Anh hệ số 1 cộng điểm ưu tiên (nếu có). Ở đa số các trường, điểm chuẩn có xu hướng giảm dần từ năm 2023 đến 2025, với mức 0,25-4 điểm.
Điểm trúng tuyển vào THPT Nguyễn Thượng Hiền luôn dẫn đầu với 23,5-25,5 điểm. Các gương mặt quen thuộc trong top 10 thường lấy mức trên 22 điểm, như THPT Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Thị Minh Khai, Phú Nhuận, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Hữu Cầu, Trần Phú.
Ở chiều ngược lại, các trường ngoại thành ở khu vực Cần Giờ, Bình Chánh có đầu vào thấp nhất, thường loanh quanh mức 10 điểm.
Biến động điểm chuẩn lớp 10 của khu vực TP HCM từ năm 2023 đến 2025, tính theo nguyện vọng 1:
Năm nay, TP HCM sau sáp nhập có hơn 169.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng gần 43.000 so với năm ngoái. Sở đặt mục tiêu gần 118.400 em vào lớp 10 công lập, tỷ lệ đỗ là 70%.
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 diễn ra ngày 1-2/6. Học sinh thi ba môn Toán, Văn, Ngoại ngữ (chủ yếu Tiếng Anh) để lấy điểm xét tuyển. Nhóm có nguyện vọng vào trường chuyên sẽ làm bài môn chuyên tương ứng. Riêng ở xã đảo Thạnh An, đặc khu Côn Đảo, các trường xét tuyển vào lớp 10 bằng học bạ.
Năm nay, không ít trường đào tạo ngành y dược xét tuyển cả các tổ hợp mới. Tuy nhiên, ngành y khoa của nhiều trường vẫn giữ tổ hợp xét tuyển truyền thống. Chẳng hạn, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm nay bổ sung nhiều tổ hợp mới cho nhiều ngành, như: B08 (toán - tiếng Anh - sinh), D07 (toán - hóa - tiếng Anh), A00 (toán - lý - hóa), A01 (toán - lý - tiếng Anh), D01 (toán - văn - tiếng Anh). Bên cạnh đó, một số ngành vẫn duy trì sử dụng một tổ hợp truyền thống B00 (toán - hóa - sinh) gồm: y khoa, răng - hàm - mặt, kỹ thuật xét nghiệm y học.
Năm nay, Trường ĐH Y Dược TP.HCM vẫn chỉ sử dụng kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2026 để xét tuyển. Tuy nhiên, so với năm trước, trường mở rộng tổ hợp môn xét tuyển hơn. Hầu hết các ngành đều sử dụng từ 2 - 3 tổ hợp khác nhau. Riêng với 2 ngành y khoa và răng - hàm - mặt, trường chỉ sử dụng tổ hợp B00 để xét tuyển. Trường ĐH Y Hà Nội cũng chỉ dùng B00 xét tuyển ngành y khoa, răng - hàm - mặt. Ngoài 2 ngành trên, Trường ĐH Y Dược Cần Thơ dùng tổ hợp B00 cho cả ngành y học cổ truyền.
Trong khi đó, ngoài tổ hợp B00 một số trường sử dụng tổ hợp khác cho các ngành y. Chẳng hạn, Trường ĐH Khoa học sức khỏe (ĐH Quốc gia TP.HCM) xét thêm tổ hợp A02 (toán - lý - sinh) cho các ngành: y khoa, răng - hàm - mặt, y học cổ truyền và điều dưỡng. Trường Y - Dược (ĐH Phenikaa) sử dụng tới 6 tổ hợp môn với ngành y khoa và răng - hàm - mặt. Ngoài B00, trường còn sử dụng loạt tổ hợp: A00, B03 (toán - sinh - ngữ văn), B08, C02 (ngữ văn - toán - hóa) và D07.
Trường ĐH Đại Nam sử dụng tới 10 tổ hợp cho ngành y khoa, hầu hết đều bảo đảm sự hiện diện của toán - hóa hoặc toán - sinh như: B00, A00, B01, B03, B08, C02 , D07, D08 (toán - sinh - tiếng Anh), X13 (toán - sinh - giáo dục kinh tế pháp luật)…
Với một số trường chuyên ngành, tổ hợp môn mới chỉ được bổ sung với nhóm ngành cử nhân hoặc các ngành y khác. Ví dụ, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm nay bổ sung tổ hợp B08, A01, D01 với ngành y học cổ truyền; thêm tổ hợp A00, D01 với ngành dược học; B08 với ngành hộ sinh; A00 với ngành kỹ thuật hình ảnh y học; A00 và A01 với ngành kỹ thuật phục hồi chức năng; D07 với ngành khúc xạ nhãn khoa.
Trường ĐH Y Dược TP.HCM năm ngoái chỉ xét tuyển B00 cho ngành y học cổ truyền thì năm nay bổ sung thêm B08 và D07. Nhiều ngành năm ngoái chỉ sử dụng 2 tổ hợp B00 và A00 năm nay bổ sung thêm tổ hợp môn thứ ba là D07, như: dược học, hóa dược, điều dưỡng, điều dưỡng chuyên ngành gây mê hồi sức, hộ sinh, kỹ thuật xét nghiệm y học, kỹ thuật hình ảnh y học, kỹ thuật phục hồi chức năng, dinh dưỡng. Ngoài ra, 2 ngành bổ sung tổ hợp môn thứ ba là B08 gồm: y tế công cộng và y học dự phòng. Ngành công tác xã hội năm nay điều chỉnh tổ hợp môn, bên cạnh A00 và B00 trường bổ sung D01 và bỏ 2 tổ hợp B03 (toán - sinh - ngữ văn) và B08. D01 cũng được sử dụng xét tuyển ngành mới là tâm lý học bên cạnh A00 và B00.
Ngoài các tổ hợp A00, B00 và D07, Trường ĐH Y Hà Nội còn sử dụng các tổ hợp có môn văn hay địa để xét tuyển năm nay như: D01, D10 (toán - địa - tiếng Anh). Tuy nhiên, tổ hợp này chỉ sử dụng để xét tuyển vào các ngành như: y tế công cộng, tâm lý học, công tác xã hội. Trường ĐH Y tế công cộng cũng sử dụng nhiều tổ hợp có môn văn vào hầu hết các ngành như: B03, C01 (toán - lý - văn), C02 (toán - văn - hóa), D01 (toán - văn - tiếng Anh) và D13 (văn - sinh - tiếng Anh). Trong khi đó, Trường ĐH Y Dược Cần Thơ đưa tổ hợp C00 (văn - sử - địa) vào tuyển sinh các ngành: y tế công cộng và tâm lý học. Đây là trường đào tạo y dược hiếm hoi sử dụng tổ hợp C00 cho ngành đào tạo lĩnh vực khoa học sức khỏe trong năm nay.
Với các trường tư thục, số lượng tổ hợp có môn văn, sử, địa xuất hiện nhiều hơn. Chẳng hạn, ĐH Phenikaa sử dụng các tổ hợp A05 (toán - hóa - sử), A06 (toán - hóa - địa), B01 (toán - sinh - sử), B02 (toán - sinh - địa), B03... để xét tuyển một số ngành như: y học cổ truyền, khoa học y sinh. Riêng ngành điều dưỡng, Trường ĐH Đại Nam quy định tổ hợp môn gồm toán hoặc văn cộng với 2 môn tự chọn. Thí sinh lựa chọn môn 2 và môn 3 trong danh sách gồm: toán, văn, lý, hóa, sinh, ngoại ngữ, địa, sử, giáo dục công dân, giáo dục kinh tế - pháp luật, tin học, công nghệ.
PGS-TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM, cho rằng đây là xu hướng rõ nét từ vài năm gần đây. Nhiều trường ĐH cả công lập lẫn tư thục bổ sung tổ hợp mới để tăng cơ hội tuyển sinh trong bối cảnh thí sinh thi khối tự nhiên, đặc biệt hóa và sinh, giảm dần do chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Cách làm này giúp tăng cơ hội cho thí sinh có thế mạnh về toán - tiếng Anh hoặc toán - sinh - văn vẫn có thể vào các ngành như: điều dưỡng, kỹ thuật xét nghiệm, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, y tế công cộng, tâm lý học lâm sàng, công nghệ dược phẩm… Các ngành mang tính ứng dụng, giao tiếp cao (như điều dưỡng, phục hồi chức năng, tâm lý học, y tế công cộng) cần kỹ năng mềm, giao tiếp, ngoại ngữ nên tổ hợp có tiếng Anh (D07, B08, D01) hoặc thậm chí có văn là hợp lý. "Thực tế tuyển sinh năm nay cho thấy nhiều trường vẫn giữ môn cốt lõi là toán - sinh hoặc toán - hóa, chỉ thay môn thứ ba (thêm tiếng Anh, văn, lý…) vẫn đảm bảo nền tảng cơ bản", PGS Dũng nhận định.
Ngược lại, PGS Dũng cho rằng sẽ đáng lo ngại về chất lượng đầu vào với trường hợp thiếu môn hóa - sinh cho những ngành cần nền tảng khoa học tự nhiên mạnh (như dược học, kỹ thuật xét nghiệm y học, điều dưỡng, hộ sinh…). Sinh viên sẽ gặp khó khăn ở các môn chuyên ngành nên nhiều trường vẫn ưu tiên B00 cho các ngành này. "Một số tổ hợp "lạ" có văn - sử - địa hoặc chỉ toán - lý - tiếng Anh mà thiếu môn sinh và hóa chủ yếu dùng cho ngành ít yêu cầu thí nghiệm sâu như: y tế công cộng, tâm lý học... Với những ngành này thì có thể chấp nhận được tổ hợp môn mới vì trọng tâm là kiến thức cộng đồng, hành vi, chính sách chứ không phải đào sâu sinh, hóa", PGS Dũng nói thêm.
Nhận định chung, PGS Dũng cho rằng sẽ phù hợp ở mức độ vừa phải nếu trường phân biệt rõ tổ hợp theo hướng giữ môn cốt lõi với ngành đòi hỏi kiến thức nền tảng, dùng tổ hợp xã hội cho ngành "mềm" hơn. Đây là cách làm linh hoạt, phù hợp xu hướng giáo dục hiện đại và nhu cầu nhân lực đa dạng.
Cùng quan điểm, trưởng phòng đào tạo một trường ĐH công lập tại TP.HCM cho rằng tổ hợp môn xét tuyển có tác động đến kết quả học tập của sinh viên, đặc biệt các ngành đặc thù. Đó là lý do Bộ GD-ĐT ra quy định yêu cầu tổ hợp xét tuyển có ít nhất 3 môn phù hợp với đặc điểm, yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo. Do đó, việc mở rộng tổ hợp môn cần đảm bảo có môn nòng cốt theo yêu cầu ngành học. "Một ngành thuần lĩnh vực khoa học sức khỏe không nên sử dụng tổ hợp C00 (văn - sử - địa), không có sự xuất hiện các môn nòng cốt toán - hóa - sinh", trưởng phòng đào tạo này nêu ý kiến.
Vũ Lương Ngọc Anh, 22 tuổi, hoàn thành chương trình Chất lượng cao Kinh tế đối ngoại, Đại học Ngoại thương (FTU), với điểm 3,99/4. Cô gái quê Gia Lai nhận bằng tốt nghiệp sáng 5/4, là sinh viên có điểm cao nhất đợt này.
"Mình hơi bất ngờ, vì nghĩ sẽ có bạn nào đó giỏi hơn", Ngọc Anh nói. "Trong những năm cấp ba, mình giống như 'vua về nhì', vì hiếm khi đứng nhất. Kết quả này khiến mình rất vui và tự hào".
Sinh ra và lớn lên ở Gia Lai, trường Ngoại thương cũng có phân hiệu ở TP HCM, nhưng Ngọc Anh vẫn quyết định vượt hơn 1.100 km để "Bắc tiến". Nữ sinh kể bố mẹ là người gốc Hải Phòng nên muốn trải nghiệm cuộc sống, văn hóa miền Bắc, đồng thời tiện về thăm người thân.
Là cựu học sinh lớp chuyên Anh, trường THPT chuyên Hùng Vương, Ngọc Anh nói đã quen với môi trường học tập cạnh tranh. Tuy nhiên, những ngày đầu đại học, cô nhanh chóng nhận ra khoảng cách về kỹ năng so với bạn bè đến từ các thành phố lớn.
Ngọc Anh từng đăng ký vào ban hậu cần, truyền thông của hai câu lạc bộ, nhưng đều trượt. "Cũng buồn" song thay vì nản lòng, nữ sinh xem đây là cơ hội quan sát các câu lạc bộ vận hành, học hỏi kỹ năng làm việc nhóm, cải thiện cách thể hiện bản thân.
Sau đó, cô trúng tuyển ban truyền thông của Cộng đồng sinh viên Chất lượng cao Kinh tế đối ngoại và Câu lạc bộ Nhiếp ảnh, dần bắt nhịp môi trường mới, mở rộng vòng kết nối.
Trong học tập, Ngọc Anh duy trì cách tiếp cận chủ động: đi học đầy đủ, ghi chép ý chính và hỏi ngay khi chưa hiểu, giúp giảm áp lực thi cuối kỳ. Ngoài ra, cô chú trọng sự liên kết giữa các môn học, coi đây là cách để hiểu sâu kiến thức và tiết kiệm thời gian ôn thi.
Kết quả, Ngọc Anh chỉ có một môn điểm B ở kỳ I năm thứ hai, ở môn Chủ nghĩa xã hội khoa học. Nữ sinh cho rằng có thể mình chưa nắm được yêu cầu cốt lõi của môn để trả lời đúng hướng.
"Mình không học lại để cải thiện điểm vì muốn giữ điều chưa hoàn hảo này, như sự nhắc nhở bản thân luôn cố gắng", Ngọc Anh nói.
Ngọc Anh tham gia nghiên cứu khoa học từ năm thứ hai, khởi đầu từ một bài tập lớn môn Kinh tế lượng và thấy hấp dẫn. Vì thế, các năm sau, cô chủ động kết nối bạn bè cùng định hướng, rủ làm chung và nhờ giảng viên hướng dẫn để thực hiện đề tài bài bản hơn.
Đề tài tâm đắc nhất của nữ sinh là nghiên cứu về ứng dụng học máy (machine learning) để giải các bài toán về lý thuyết trò chơi (game theory), được xếp hạng A* tại Hội thảo khoa học quốc tế AAAI-26 ở Singapore.
Nữ sinh kể ban đầu chỉ định làm thuần về kinh tế, nhưng sau đó nhận ra có thể kết hợp với học máy để xử lý vấn đề hiệu quả hơn. Cùng với một người bạn, Ngọc Anh tự tìm hiểu nền tảng lý thuyết trò chơi, các thuật toán học máy, đồng thời chuyển hóa các mô hình kinh tế sang dạng có thể xử lý bằng code.
Cô nhìn nhận quá trình này giúp bản thân định hình rõ hơn hướng đi, là kết hợp kinh tế với công nghệ để giải quyết các bài toán khoa học dữ liệu. Vì thế, Ngọc Anh học thêm ngôn ngữ truy vấn SQL, ngôn ngữ lập trình Python, nền tảng phân tích kinh doanh Power BI. Cô còn cùng bạn bè ở Đại học Bách khoa Hà Nội tham gia một số cuộc thi, từng đạt ngôi quán quân Data Science Talent Competition (Tìm kiếm tài năng khoa học dữ liệu) năm 2024.
Từ tháng 10/2025, Ngọc Anh trở thành nhân viên chính thức ở một ngân hàng, đảm nhận vị trí xây dựng và kiểm định các mô hình học máy, nhằm đánh giá rủi ro thanh khoản của khách hàng.
Song song với công việc toàn thời gian, Ngọc Anh hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp. Cô nhìn nhận đây là giai đoạn áp lực nhất trong suốt những năm đại học vì đi làm về muộn, rồi lại tiếp tục viết luận tới 1-2 giờ sáng.
Để cân đối, nữ sinh tận dụng buổi trưa ở công ty để đọc tài liệu, sửa khóa luận, lên kế hoạch chi tiết cho từng đầu việc, chủ động trao đổi với giảng viên và anh chị khóa trước để rút ngắn thời gian xử lý.
Ngọc Anh cho biết cảm giác "luôn về nhì" theo suốt những năm phổ thông. Kể cả khi đã vào đại học, cô cũng thấy mình hiếm khi đứng đầu, mà thường chỉ trong top có kết quả tốt. Vì vậy, việc tốt nghiệp sớm với điểm cao nhất không phải là mục tiêu đặt ra từ đầu, mà là kết quả của quá trình tích lũy.
Điều cô còn tiếc nuối là sự thiếu tự tin trong một số thời điểm, nên bỏ lỡ cơ hội.
"Có những cơ hội như thi khoa học dữ liệu ở nước ngoài, mình từng ngại thử vì lo lắng", cô nói.
Sau khi tốt nghiệp, Ngọc Anh muốn tiếp tục làm việc để tích lũy kinh nghiệm, trước khi theo học thạc sĩ trong lĩnh vực phân tích định lượng hoặc khoa học dữ liệu.