Thông tư 26 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học, thoạt nhìn là một văn bản kỹ thuật: quy định tiêu chí, chuẩn hóa đội ngũ, phân hạng chức danh. Đây cũng là một thông điệp mạnh mẽ: đại học Việt Nam đang bước vào một giai đoạn buộc phải chuyên nghiệp hóa thực sự, không chỉ ở hệ thống, mà ở từng con người đứng lớp.
Dưới góc nhìn của một giảng viên, tôi cho rằng điểm đáng chú ý nhất của thông tư này không nằm ở số lượng bài báo hay số đề tài nghiên cứu, mà nằm ở cách định nghĩa lại “nghề giảng viên”.
Thông tư 26 đặt “đạo đức” lên vị trí đầu tiên trong ba nhóm tiêu chuẩn. Điều này không mới, nhưng lần này được nhấn mạnh cụ thể hơn: giảng viên phải giữ gìn liêm chính khoa học, trung thực trong nghiên cứu, công bố, giảng dạy. Trong bối cảnh hiện nay, đây không phải là điều thừa.
Không khó để thấy những biểu hiện đáng lo ngại: chạy theo số lượng bài báo, công bố quốc tế bằng mọi giá; “đồng tác giả” mang tính hình thức; thậm chí đạo văn, trích dẫn thiếu chuẩn mực. Những hiện tượng này không phổ biến đến mức đáng báo động toàn hệ thống, nhưng đủ để làm xói mòn niềm tin học thuật nếu không được chấn chỉnh.
Vấn đề là: đạo đức không thể chỉ được “quy định”. Một giảng viên có thể đáp ứng đầy đủ tiêu chí về bằng cấp, bài báo, đề tài, nhưng vẫn thiếu trung thực trong nghiên cứu. Ngược lại, có những người làm khoa học nghiêm túc, nhưng lại không “đạt chuẩn” vì thiếu số lượng công bố.
Nếu chỉ dừng ở tiêu chí, chúng ta có nguy cơ biến liêm chính khoa học thành một khẩu hiệu. Điều cần thiết hơn là xây dựng một hệ sinh thái học thuật minh bạch: quy trình phản biện nghiêm túc, cơ chế kiểm tra đạo văn hiệu quả, và quan trọng nhất là văn hóa tôn trọng sự thật. Khi đó, đạo đức không còn là điều phải “nhắc nhở”, mà trở thành một chuẩn mực tự nhiên.
Thông tư 26 quy định khá rõ về yêu cầu nghiên cứu khoa học: từ giảng viên chính phải có bài báo quốc tế, đến giảng viên cao cấp phải có số lượng công bố nhất định, kèm theo đề tài, sách chuyên môn. Về nguyên tắc, đây là bước đi đúng. Đại học không thể chỉ dạy mà không nghiên cứu.
Một giảng viên không làm khoa học sẽ khó cập nhật tri thức, khó dẫn dắt sinh viên. Nhưng trong thực tế, câu chuyện không đơn giản.
Ở nhiều cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường ngoài công lập hoặc trường định hướng ứng dụng, điều kiện nghiên cứu còn hạn chế: thiếu kinh phí, thiếu nhóm nghiên cứu, thiếu thời gian vì áp lực giảng dạy lớn.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu “chuẩn hóa” dễ biến thành áp lực hình thức. Hệ quả là gì? Là sự nở rộ của những bài báo “cho đủ chuẩn”, những đề tài làm để nghiệm thu, không phải để giải quyết vấn đề thực tiễn.
Một nền học thuật không thể phát triển bền vững nếu bị chi phối bởi tâm lý “làm cho có”. Do đó cần một cách tiếp cận linh hoạt hơn. Không nên đánh giá giảng viên chỉ bằng số lượng bài báo, mà cần nhìn vào chất lượng, tác động và tính ứng dụng. Với những ngành nghề đặc thù, có thể chấp nhận các sản phẩm thay thế như chuyển giao công nghệ, sáng kiến, hoặc đóng góp cho cộng đồng. Chuẩn hóa là cần thiết, nhưng chuẩn phải phù hợp với thực tế.
Một điểm mới quan trọng của thông tư là áp dụng cho toàn bộ giảng viên, cả công lập và ngoài công lập. Điều này giúp tạo mặt bằng chung, tránh tình trạng “hai chuẩn” trong cùng một hệ thống.
Tuy nhiên, sự khác biệt về điều kiện giữa các loại hình trường là rất lớn. Các trường công lập lớn có truyền thống nghiên cứu, có đội ngũ mạnh, có nguồn lực. Trong khi đó, nhiều trường ngoài công lập tập trung vào đào tạo ứng dụng, phục vụ nhu cầu thị trường lao động, với mô hình vận hành linh hoạt hơn.
Nếu áp dụng cùng một bộ tiêu chí cứng, nguy cơ là làm giảm tính đa dạng của hệ thống đại học. Các trường có thể buộc phải “chạy theo chuẩn” thay vì phát triển theo thế mạnh riêng.
Giải pháp không phải là hạ chuẩn mà là phân tầng chuẩn. Có thể xây dựng các nhóm tiêu chí khác nhau, tương ứng với định hướng nghiên cứu, ứng dụng, hay thực hành nghề nghiệp. Một hệ thống đại học khỏe mạnh không phải là hệ thống đồng nhất, mà là hệ thống đa dạng nhưng có chuẩn mực chung.
Thông tư 26 cũng đặt ra yêu cầu về ngoại ngữ, công nghệ thông tin, khả năng đổi mới sáng tạo. Đây là những năng lực không thể thiếu trong bối cảnh giáo dục đại học đang chuyển đổi số mạnh mẽ. Nhưng một câu hỏi cần đặt ra: liệu chúng ta đang đào tạo giảng viên như những “người làm đủ việc”, hay như những “chuyên gia trong lĩnh vực”?
Một giảng viên giỏi không nhất thiết phải giỏi mọi thứ. Điều quan trọng là họ có thể làm tốt vai trò của mình: giảng dạy, nghiên cứu, hoặc kết nối với thực tiễn. Do đó, thay vì yêu cầu tất cả giảng viên đạt cùng một bộ tiêu chí toàn diện, cần khuyến khích sự chuyên sâu. Có người mạnh về nghiên cứu, có người giỏi giảng dạy, có người kết nối doanh nghiệp. Khi mỗi người phát huy được thế mạnh, tập thể sẽ mạnh lên.
Để thông tư 26 thực sự đi vào đời sống, theo tôi cần ba hướng chính:
Một là, xây dựng cơ chế đánh giá đa chiều. Không chỉ dựa vào số liệu cứng, mà cần có đánh giá định tính từ sinh viên, đồng nghiệp và các bên liên quan.
Hai là, đầu tư cho môi trường nghiên cứu. Nếu yêu cầu giảng viên làm khoa học, phải tạo điều kiện: quỹ nghiên cứu, thời gian, kết nối quốc tế và đặc biệt là giảm tải hành chính.
Ba là, nuôi dưỡng văn hóa học thuật. Đây là yếu tố cốt lõi nhưng khó nhất. Một môi trường tôn trọng tri thức, khuyến khích tranh luận, đề cao sự trung thực sẽ tự khắc tạo ra những giảng viên “đúng chuẩn” theo nghĩa sâu nhất.
Xét cho cùng, Thông tư 26 không phải là câu chuyện của những con số mà là câu chuyện về việc chúng ta muốn đại học Việt Nam trở thành gì. Nếu chỉ dừng ở việc “đủ chuẩn”, chúng ta sẽ có một đội ngũ giảng viên đạt yêu cầu trên giấy tờ. Nhưng nếu đi xa hơn, hướng đến “đúng nghề”, chúng ta mới có thể xây dựng một nền giáo dục đại học thực sự có chiều sâu. Và ở đó, giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức, mà là người giữ lửa cho một nền học thuật tử tế.
Giữa tháng 4-2026, phóng viên Tuổi Trẻ đến quan sát tiết học giáo dục thể chất tại một số trường học ở TP.HCM. Tại Trường THPT Võ Thị Sáu (phường Gia Định, TP.HCM), trong sân trường học sinh các khối 10, 11, 12 thay nhau học đá cầu, cầu lông, bóng rổ...
Thầy giáo Trịnh Hoàng Quân - Hiệu trưởng - thông tin trường có gần 2.600 học sinh với 59 lớp. "Diện tích trường nhỏ, để xe là hết chỗ học thể dục. Làm sao vừa có nơi để xe cho học sinh vừa có tập thể dục thể thao là bài toán khó của trường nhiều năm qua" - ông Quân cho biết.
Trong khi đó, giáo viên N.T.K. (dạy thể dục ở phường Thủ Đức) nói thật khó để dạy hiệu quả trong khuôn viên chật hẹp. Thầy này dẫn chứng với nội dung nhảy xa - chạy bền, giáo viên phải truyền được kiến thức của các động tác, nắm kỹ thuật chạy đà giậm nhảy trên không và tiếp đất. Còn ném bóng cần nắm kỹ thuật bốn bước, ném bóng đi xa và giữ thăng bằng sau khi ném; hay chạy bền là chạy trên địa hình tự nhiên, học trò chỉ cần hiểu được kỹ thuật cơ bản là hoàn thành.
Thầy K. nói: "Chuẩn bị một tiết dạy chỉ cần giáo án, còi, tranh ảnh về động tác bổ trợ. Còn học sinh trang phục gọn gàng, giày tập... Trường có gì thì vận dụng đó. Ngoài ra không cần yêu cầu nào khác cũng như không có phòng tập đa năng.
Giáo viên tự liệu tính toán, học sinh đúng là cũng không hứng thú nhiều. Tôi có nhiều năm dạy thể dục nhưng thừa nhận đây là tiết học nghĩa vụ để hoàn thành các môn trong hệ thống học tập chung".
Thầy giáo Nguyễn Đình Đảo - Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ (phường Xóm Chiếu) - cho biết theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, bộ môn thể dục thể chất lựa chọn các môn như bóng rổ, cầu lông, bóng chuyền, bóng đá...Trường có gần 2.200 học sinh.
"May mắn của trường chúng tôi là giáo viên thể chất có chuyên môn đầy đủ năm môn. Các em được lựa chọn thoải mái, đi theo lớp. Ngoài chương trình đó, học sinh của trường lựa chọn các môn thể thao khác.
Các em trong trường chọn nhiều môn bóng bàn. Đây là môn không mất sức, luyện mắt nhìn, dẻo dai... nên nắm được sở thích, nhà trường đầu tư 15 bàn. Đây là tự chọn năng khiếu, học theo chương trình nhà trường, mức phí 80.000 đồng/tháng", ông Đảo thông tin.
Tuy nhiên, nhìn nhận bức tranh chung về thể dục thể chất, thầy Đảo thẳng thắn nhìn nhận tiếng là môn thể dục tự chọn nhưng "o ép học sinh vào môn trường chỉ đáp ứng được".
Ông Đảo giải thích: "Đa số các môn học sinh tự chọn, nhà trường làm sao có thể đáp ứng đầy đủ kỹ thuật của bộ môn. Trường nào may mắn lắm sẽ có diện tích để làm sân bóng cỏ nhân tạo, sân bóng chuyền. Có trường tận dụng sân chào cờ làm sân thể thao và ngược lại... Đa số diện tích sân không có, khó đẩy mạnh tinh thần phát triển thể dục thể thao".
Tương tự, thầy giáo Nguyễn Xuân Đắc - Hiệu trưởng Trường THCS Hoàng Hoa Thám (phường Tân Bình) - thừa nhận lâu nay nhà trường luôn đẩy mạnh thể dục thể chất nhưng cũng khó thực hiện cho đạt được tinh thần là phát huy năng lực thể chất học sinh.
Ông Đắc nói: "Học sinh chọn môn thể dục nhưng có nơi trường có giáo viên dạy môn nhảy xa lại thiếu giáo viên dạy môn cầu lông, buộc học sinh phải chọn môn mình không muốn chọn. Chưa kể cơ sở vật chất chưa đầy đủ.
Cái khó nhất là cần không gian luyện tập. Những trường có sẵn không gian mà lại thiếu sân tập, dụng cụ luyện tập sơ sài với các môn nhảy xa, nhảy cao, ném bóng, chạy ngắn... gây nhàm chán với học sinh và phát triển chiều sâu thể dục thể thao".
Trong khi đó, thầy giáo Đinh Hữu Đắc - Hiệu trưởng Trường tiểu học Nguyễn Thái Sơn (phường Xuân Hòa, TP.HCM) - cho hay ngôi trường mình giữa trung tâm TP là trường học hạnh phúc vì có sân chơi cho học sinh. Theo ông Đắc, xung quanh các lớp học của trường là khoảng sân rộng, chia ra nhiều khu vực gắn với các bộ môn thể thao học đường.
"Quyết định cho việc phát triển thể dục thể thao học đường là sân bãi, dụng cụ, cơ sở vật chất, kể cả con người phải là những giáo viên có chuyên môn, những huấn luận viên chuyên nghiệp.
Trường chúng tôi may mắn có sân trường lớn nhưng lại thiếu hồ bơi, trong khi các trường khác có điều kiện có hồ bơi trong tổ chức dạy luyện bơi lội. Mỗi trường có mỗi lợi thế, mỗi khó khăn riêng nhưng nhìn chung không gian lớn là thuận tiện cho việc học thể dục. Các trường ở trung tâm TP luôn bị hạn chế do diện tích" - ông Đắc đánh giá.
Thực tế trên chỉ ra dù vẫn là điểm đến quen thuộc, sức hút của Úc trong mắt phụ huynh và người học lại đang có dấu hiệu suy giảm, nhất là khi nước này liên tục phát đi tín hiệu thắt chặt chính sách visa và quyền làm việc trong vài năm trở lại đây.
Theo thống kê công bố hồi tháng 4 của Bộ Giáo dục Úc, tổng số sinh viên quốc tế đến nước này học tập đến hết năm 2025 là 845.933 người, giảm 1% so với 2024. Số du học sinh Việt là 36.595, giảm 2,7% so với năm trước và xếp thứ 4 về số lượng. Trong đó, 30.619 người là người học cũ, tăng 8,8%. Còn lại (5.976) là những người mới tới Úc lần đầu để học tập, giảm 36,8% so với năm 2024.
Đây cũng là năm thứ hai liên tiếp số lượng tân sinh người Việt đến Úc giảm mạnh, khi năm 2024 ghi nhận tỷ lệ giảm ở mức 32,9% - ít hơn 4.632 người so với 2023. Trong khi đó, số lượng tân sinh từ năm 2021 tăng đều đến 2023, từ gần 1.800 tới hơn 6.200, và cuối cùng là hơn 14.000. Điều này góp phần khiến 2023 bùng nổ về số lượng khi đông hơn năm trước tới 46,2% - mức tăng cao nhất từ 2009 tới nay và lần đầu vượt hơn 30.000 người.
Việc gia tăng số lượng tân sinh cũng giúp năm 2024 sau đó lập kỷ lục cao nhất mọi thời về số người Việt du học Úc, ở mức 37.598 và vào top 5 nhóm đông nhất ở xứ sở chuột túi. Số lượng người Việt cũng tăng trưởng đều đặn từ 2021-2024 trước khi giảm nhẹ vào 2025. Trước đó, số lượng người Việt du học Úc cũng tăng đều trong giai đoạn 2015-2019, rồi giảm đáng kể trong thời điểm Covid-19 bùng nổ là 2020 và 2021.
Đà giảm vẫn đang diễn ra vào năm 2026. Theo dữ liệu cập nhật nhất tính tới tháng 1, có 24.789 người Việt hiện du học Úc, ít hơn 10,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Dù giảm nhẹ số lượng vào năm 2025, song nhóm du học sinh Việt lại tăng hạng, vào top 4 cộng đồng sinh viên quốc tế đông nhất tại Úc - lập lại thành tích cách đây 4 năm. Song thứ hạng này chưa phải cao nhất, khi 3 năm liên tiếp từ 2013-2015 số du học sinh Việt tại Úc luôn nằm trong top 3.
Về phân bổ khóa học, bởi một sinh viên quốc tế có thể ghi danh vào nhiều khóa khác nhau nên tổng số lượt ghi danh cao hơn tổng số du học sinh. Theo thống kê tháng 1, người Việt ghi danh nhiều nhất ở bậc giáo dục ĐH với 15.584 lượt, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái. Xếp sau đó là đào tạo nghề (hơn 2.600) và giáo dục phổ thông (hơn 2.400).
Trong khi đó, lượt ghi danh sụt mạnh nhất ở các khóa tiếng Anh (ELICOS), giảm tới 56,5%.
Nhìn chung, người Việt chuộng nhất nhóm ngành quản trị và thương mại; xếp sau đó là các chương trình liên ngành và công nghệ thông tin. Trong khi đó, lĩnh vực ít thu hút nhất với sinh viên Việt luôn là nông nghiệp, môi trường và các ngành học liên quan.
Đằng sau số lượng sinh viên quốc tế là một bức tranh phức tạp hơn về tỷ lệ chấp thuận cấp visa du học cho các đương đơn nộp hồ sơ từ ngoài lãnh thổ Úc. Theo thống kê của Bộ Nội vụ Úc, 40,8% hồ sơ xin học ĐH bị từ chối cấp visa du học trong tháng 3, mức cao nhất trong 21 năm qua kể từ khi công bố dữ liệu. Tỷ lệ này cao hơn 8,4% so với tháng trước, và hai tháng qua cũng lần lượt lập kỷ lục mới về tỷ lệ từ chối cấp visa trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, bức tranh có phần sáng sủa hơn khi chỉ 9% đương đơn xin học ĐH tại Úc bị từ chối cấp visa trong tháng 3 vừa qua và con số vào tháng 2 là 16,6%. Đây đều là tỷ lệ gần như tương tự mọi năm, không có chênh lệch đáng kể.
Nhìn rộng hơn ở bức tranh chấp thuận cấp visa du học cho đương đơn Việt Nam nằm ngoài lãnh thổ Úc, năm tài chính 2024-2025 (bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 6 năm sau-PV) ghi nhận tỷ lệ 81,1%, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái và cũng là lần tăng đầu tiên sau 4 năm. Điều này đồng nghĩa, cứ 5 người học Việt Nam xin visa Úc thì có tới 4 người thành công.
Tuy nhiên, bức tranh lại khá phân mảnh nếu xét riêng từng mục đích. Với những trường hợp muốn theo học các khóa đào tạo nghề, tỷ lệ cấp visa du học chỉ là 7%, giảm đến 35,7% so với năm trước. Tương tự, nhóm ứng tuyển bậc giáo dục phổ thông giảm từ 81,5% xuống còn 65,5%, trong khi những đương đơn muốn học các khóa tiếng Anh chỉ có 45,8% cơ hội được cấp visa - dù tỷ lệ đã tăng thêm 12,8% so với năm ngoái.
Nhóm muốn học các trường ĐH cũng đang chứng kiến tỷ lệ đậu visa giảm dần trong 4 năm qua dù vẫn duy trì ở mức cao, từ 99,7% vào 2020-2021 xuống còn 87,1% ở năm xét duyệt mới nhất. Tương tự, nhóm không cấp bằng và nhóm nghiên cứu sau ĐH vốn có tỷ lệ chấp thuận cấp visa 100% trong 2022-2023, đến 2024-2025 giảm nhẹ xuống chỉ còn 96,9% và 99,5%.
Riêng lĩnh vực đối ngoại hoặc quốc phòng luôn duy trì tỷ lệ đậu visa 100% từ năm tài chính 2015-2016 tới nay.
Từ 2024 đến nay, Úc công bố nhiều điều chỉnh về chính sách visa và quyền làm việc, được cho là để quản lý, kiểm soát tốt hơn ngành giáo dục quốc tế cũng như số lượng người nhập cư. Để chọn lọc những đương đơn chân chính muốn du học nước này, Úc ra mắt bài thi GS thay thế cho GTE và nhiều lần thay đổi cơ chế xét duyệt visa du học, từ Chỉ thị 107 tới Chỉ thị 111 và nay là Chỉ thị 115.
Ngoài ra, Úc cũng ban hành nhiều điều chỉnh với hai loại visa phổ biến với sinh viên quốc tế.
Với visa du học, nước này tăng yêu cầu chứng minh tài chính, năng lực tiếng Anh và lệ phí ứng tuyển - lên mức 2.000 AUD (khoảng 38 triệu đồng) và không hoàn lại nếu đương đơn bị từ chối. Với visa làm việc sau tốt nghiệp, Úc rút thời gian hiệu lực từ 4-6 năm xuống còn 2-3 năm, bổ sung tiêu chí ứng tuyển và mới đây tăng gấp đôi lệ phí lên 4.600 AUD (khoảng 87 triệu đồng) - cũng không hoàn lại nếu đương đơn trượt visa.
Tuy nhiên, nước này thời gian qua cũng khuyến khích các trường tăng cường hợp tác với khu vực Đông Nam Á để hỗ trợ chiến lược kinh tế Đông Nam Á của Úc đến năm 2040, thông qua các chương trình đào tạo, quan hệ đối tác, học bổng...
Song song đó, các ĐH Úc cũng ngày càng ưu ái tuyển sinh du học sinh Việt, thể hiện rõ nét qua chính sách tuyển thẳng học sinh Việt Nam vào năm nhất ĐH chứ không bắt buộc phải học khóa dự bị như trước, cũng như ra mắt các chương trình học bổng dành riêng cho Việt Nam. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều trường Úc trực tiếp đến Việt Nam để tư vấn tuyển sinh và kết nối với chính quyền, cựu sinh viên và công ty du học.
Tại buổi giao lưu, các bạn sinh viên được giới thiệu về lịch sử hình thành, quá trình phát triển của báo Tuổi Trẻ cũng như mô hình vận hành của một tòa soạn báo hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số và các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển mạnh mẽ.
Nhà báo Nguyễn Thanh Liêm - Thư ký tòa soạn hội tụ, cho biết mong muốn chuyến tham quan lần này sẽ giúp các bạn sinh viên có cơ hội tiếp xúc thực tế với môi trường báo chí chuyên nghiệp, đặc biệt là quy trình xử lý thông tin quốc tế, biên dịch, biên tập và sản xuất nội dung tiếng Anh.
Hiện Tuổi Trẻ là một trong những cơ quan báo chí điện tử có lượng độc giả lớn tại Việt Nam, đồng thời vẫn duy trì thế mạnh ở cả báo in và báo điện tử.
Trong gần 51 năm phát triển kể từ tháng 9-1975, nhiều thế hệ người làm báo đã góp phần xây dựng thương hiệu Tuổi Trẻ trở thành một trong những tờ báo có uy tín và sức ảnh hưởng lớn.
Ông Thanh Liêm cũng giới thiệu với sinh viên về mô hình hoạt động của tòa soạn hội tụ của báo Tuổi Trẻ hiện nay, với các khu vực sản xuất nội dung báo điện tử, báo in cùng không gian, quy trình làm việc của đội ngũ phóng viên, biên tập viên Ban Quốc tế và Tuổi Trẻ Tiếng Anh trong việc sản xuất các tin bài về các vấn đề thời sự quốc tế cũng như phục vụ bạn đọc người nước ngoài.
Phát biểu tại chương trình, TS Lê Xuân Quỳnh - phụ trách ngành ngôn ngữ, Khoa Truyền thông và Thiết kế, Trường đại học RMIT Việt Nam - gửi lời cảm ơn đến báo Tuổi Trẻ đã tạo điều kiện để sinh viên được tiếp cận thực tế môi trường làm báo, đặc biệt là lĩnh vực tin tức quốc tế và báo chí tiếng Anh.
Ông cho biết bản thân đã gắn bó với Tuổi Trẻ từ hồi còn nhỏ tuổi và luôn xem đây là một trong những nguồn thông tin chính thống, uy tín để theo dõi hằng ngày.
"Trong bối cảnh AI và mạng xã hội phát triển rất nhanh, những cơ quan báo chí chính thống như Tuổi Trẻ càng khẳng định vai trò bằng tính xác thực, độ tin cậy và trách nhiệm với bạn đọc", TS Lê Xuân Quỳnh chia sẻ.
Đại diện nhà trường cũng cho biết hiện sinh viên được khuyến khích tiếp cận và sử dụng AI trong học tập, song song với việc nâng cao tư duy phản biện, khả năng kiểm chứng thông tin và năng lực chuyên môn để thích ứng với môi trường truyền thông hiện đại.
Theo TS Lê Xuân Quỳnh, việc tăng cường kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp và các cơ quan báo chí sẽ giúp sinh viên có thêm trải nghiệm thực tế, mở rộng kỹ năng nghề nghiệp cũng như cơ hội việc làm trong tương lai.
Trong khuôn khổ chương trình, sinh viên được tham quan khu vực làm việc của Ban Quốc tế - Tuổi Trẻ Tiếng Anh, gặp gỡ các phóng viên, biên tập viên, đồng thời tìm hiểu quy trình lựa chọn, xử lý và sản xuất tin bài quốc tế tiếng Việt trên Tuổi Trẻ Online và phục vụ bạn đọc người nước ngoài trên trang Tuổi Trẻ News.