Sáng nay (18.5), Trường tiểu học Nguyễn Trường Tộ, phường Xóm Chiếu, TP.HCM, tổ chức chương trình nghệ thuật chủ đề “Dấu ấn lịch sử – Sáng mãi tên Người”. Đạo diễn, nhà văn 97 tuổi Xuân Phượng – người đã nhiều lần được gặp Bác Hồ kể lại nhiều câu chuyện xúc động cho các em học sinh.
Đạo diễn, nhà văn Nguyễn Thị Xuân Phượng sinh năm 1929, quê làng Nham Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Năm 16 tuổi (1945) bà thoát ly gia đình, xếp bút nghiên lên đường tranh đấu giành độc lập cho đất nước. Bà từng làm nhiều nghề như kỹ thuật viên thuốc nổ, y tá, phóng viên bản tin kháng chiến của Bộ Tài chính, thông dịch viên, bác sĩ nhi khoa phòng y tế khu Ba Đình, dịch và thuyết minh phim tiếng Pháp, đạo diễn phim tư liệu chiến trường…
Có mặt trong chương trình sáng nay, đạo diễn Xuân Phượng bồi hồi: “Có lẽ đến nay chỉ còn 1-2 người còn sống trên đời, mà được gặp Bác từ những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc. Vừa rồi, tôi nghe các cháu học sinh nói về 5 điều Bác Hồ dạy, trong đó có dặn học sinh “giữ gìn vệ sinh thật tốt”, tôi nhớ tới lời dặn dò “vệ sinh sạch sẽ” của Bác. Đã gần 80 năm rồi, khi đó chúng tôi ở chiến khu Việt Bắc, trong rừng, điều kiện ăn ở còn nhiều thiếu thốn lắm. Nhà chúng tôi ở cách nhà Bác 2 con suối, thi thoảng Bác tới thăm nhưng không báo trước. Hôm đó là chủ nhật, chúng tôi định ngủ nướng, bỗng nhiên có tiếng kẻng thông báo mọi người dậy đi, Bác Hồ đang tới. Tôi vừa tung chăn dậy thì đã nghe phía sau mình có tiếng nói “Trễ rồi cháu ơi”. Bác đã đứng sau lưng, thấy quang cảnh chỗ ở chúng tôi đồ đạc để lung tung, lộn xộn, không xếp gọn gàng gì hết. Bác lắc đầu, nói một câu đến giờ tôi vẫn còn nhớ “Đàn bà con gái ăn ở thế này không thấy xấu hổ à”. Thế rồi Bác đi về luôn. Bài học Bác dạy tôi vẫn nhớ cho mãi đến bây giờ. Các cháu học sinh ơi, hãy nhớ kỹ lời Bác dặn, phải chú ý giữ gìn trật tự, vệ sinh xung quanh mình từ bé, sau này mới có thể trở thành một người cẩn thận, sống đàng hoàng”.
Đạo diễn, nhà văn Xuân Phượng, người được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh năm 2011 vì những đóng góp cho sự hiểu biết sâu sắc hơn giữa Việt Nam và Pháp cả trong thời chiến và thời bình, nhìn các em học sinh Trường tiểu học Nguyễn Trường Tộ hạnh phúc trong những hoạt động giáo dục ngoài sân trường.
Bà chú ý tới nhiều em lấy tay che nắng, khi nắng sớm chiếu tới. Bà ôn tồn: “Cháu nào ở đây cũng có giày dép, được mặc áo quần đẹp đến trường. Cách đây 71 năm, học sinh ở những vùng bom đạn tàn phá, trẻ em đi học ở dưới hầm, mỗi khi đi học phải mang nón rơm trên đầu tránh bom bi, lội nước bằng chân đất dưới hầm, nước đầy những con đỉa. Ban đêm, trẻ em phải thắp đèn dầu để đi. Trong hoàn cảnh điều kiện mọi thứ đều khó khăn như vậy, trẻ em vẫn cố gắng học tập, không khuất phục trước khó khăn và kẻ thù. Ngày này các cháu được đi học thế này, không thể tưởng tượng cảnh ngày xưa khó khăn ra sao”.
Bà Xuân Phượng, chứng nhân lịch sử cũng kể lại dấu ấn cách đây hơn 70 năm về trước, sau khi được lệnh từ Bác Hồ, hơn 30.000 em học sinh là con em cán bộ, chiến sĩ, gia đình miền Nam di tản về học tập ở miền Bắc, để được đào tạo thành những con người có ích cho đất nước. Để ra tới được miền Bắc, các em học sinh ngày ấy đã đi chân trần, đầu đội nắng mưa, vượt dãy Trường Sơn, có lúc được vận chuyển bằng tàu xe, nhưng bom đạn ác liệt quá, các em phải đi bộ những quãng đường xa rất gian khổ.
“Bây giờ các cháu được ngồi đây nghe bà kể lại câu chuyện này, thấy mình hạnh phúc, may mắn vô cùng khi được học tập trong hòa bình, thống nhất đất nước. Những bàn chân nhỏ bé ngày xưa đã tạo nên con đường mà các cháu đi lại thênh thang hạnh phúc ngày hôm nay”, bà Xuân Phượng rưng rưng.
Cùng trong phần giao lưu với đạo diễn Xuân Phượng là nghệ sĩ ưu tú Phạm Thế Vĩ, Trưởng khoa thanh nhạc, Nhạc viện TP.HCM, người đã có cơ hội thể hiện rất nhiều những bài hát về Bác.
Nghệ sĩ ưu tú Phạm Thế Vĩ bộc bạch: “Là thế hệ sau này, được lắng nghe, kể những câu chuyện về cuộc đời Bác qua những bài hát, khi hát những ca khúc này, tôi thấy trong mình những cảm xúc đặc biệt thiêng liêng. Tôi mong mỏi các em học sinh ở đây cũng cảm nhận được cảm xúc ấy, biết yêu quê hương, đất nước, sống đẹp mỗi ngày với tràn ngập sự biết ơn”.
Chương trình nghệ thuật “Dấu ấn lịch sử – Sáng mãi tên Người” có sự hiện diện của bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm, Phó trưởng phòng Văn hóa Văn nghệ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TP.HCM; Phó giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TP.HCM Nguyễn Hồng Thanh; cùng các đồng chí trong Đảng ủy, UBND phường Xóm Chiếu, TP.HCM; Ban chỉ huy quân sự phường Xóm Chiếu và các nghệ sĩ khách mời. Chương trình được dẫn dắt bởi MC Như Nguyễn, Đài tiếng nói Việt Nam (VOV).
Ông Phan Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường tiểu học Nguyễn Trường Tộ, cho biết chương trình được tổ chức hướng về kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890 – 19.5.2026) và 115 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 5.6.1911 – 5.6.2026).
“Năm 2026 là kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, dấu mốc càng giúp chúng ta thêm tự hào và xúc động trước ý chí lớn lao của người thanh niên Nguyễn Tất Thành năm xưa. Từ Bến Nhà Rồng lịch sử, Người đã bắt đầu hành trình tìm con đường cứu nước, cứu dân, mở ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Trường tiểu học Nguyễn Trường Tộ rất vinh dự được tọa lạc trên địa bàn phường Xóm Chiếu, nơi giàu truyền thống lịch sử, gắn liền với Bến Nhà Rồng thiêng liêng. Chính vùng đất này đã lưu dấu bước chân của Bác trong thời khắc lịch sử ra đi tìm đường cứu nước. Vì vậy, việc giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh đối với thầy và trò nhà trường càng có ý nghĩa sâu sắc hơn bao giờ hết”, ông Phan Anh Tuấn nói.
Tại chương trình, ông Phan Anh Tuấn phát biểu: “Sinh thời, Bác Hồ luôn dành tình yêu thương đặc biệt cho thiếu niên, nhi đồng. Lời dạy của Người “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”, mãi là động lực để các thế hệ học sinh không ngừng học tập và rèn luyện”.
Bức thư ngỏ do các nhà toán học tại cơ sở Berkeley (UC Berkeley) khởi xướng, gửi tới Đại học California - hệ thống đại học công lập hàng đầu nước Mỹ, gồm 9 trường. Trong đó có 7 trưởng khoa Toán, 37 trưởng khoa khác.
"Chúng tôi thấy sinh viên đang thiếu hụt kiến thức nền nghiêm trọng. Giảng viên vừa phải dạy lại kiến thức toán cấp hai, vừa phải dạy chương trình chuyên ngành Khoa học, Kỹ thuật, Kinh tế và các lĩnh vực đòi hỏi tính toán cao khác", trích thư.
Sáu năm trước, UC xóa bỏ quy định nộp điểm thi chuẩn hóa như SAT, ACT vốn tồn tại nhiều thập kỷ, sau các làn sóng chỉ trích cho rằng đây là rào cản, gây bất lợi với nhóm thí sinh yếu thế, không có điều kiện luyện thi.
Thời điểm dịch Covid-19 bùng phát, 9 cơ sở thành viên của hệ thống này cùng hàng trăm đại học khắp nước Mỹ đồng loạt bỏ bắt buộc nộp điểm SAT, ACT. Trong năm đầu áp dụng, UC thu về lượng hồ sơ cao kỷ lục, đồng thời đón nhận khóa tân sinh viên có quy mô lớn và đa dạng sắc tộc nhất lịch sử.
Tuy nhiên, mặt trái của chính sách này đã lộ rõ sau 5 năm. Theo báo cáo cuối năm 2025 của Nhóm công tác quản lý tuyển sinh thuộc UC San Diego, số sinh viên có năng lực toán dưới mức phổ thông trung học đã tăng gấp 30 lần. Đáng ngại hơn, 70% trong số này chưa đạt trình độ toán cấp trung học cơ sở. Điều này đồng nghĩa cứ 12 tân sinh viên bước vào giảng đường UC thì có một em hổng kiến thức căn bản.
"Yêu cầu điểm thi toán SAT/ACT không phải là rào cản đối với sự công bằng, ngược lại, nó là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự công bằng", các giáo sư nhấn mạnh. "Bỏ qua việc kiểm tra kiến thức đầu vào không giúp xóa bỏ rào cản, mà chỉ đẩy nó vào giảng đường, nơi các em sẽ càng khó vượt qua hơn".
Các giảng viên lập luận rằng trong bối cảnh lạm phát điểm số ở bậc phổ thông và tình trạng lạm dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để viết bài luận, các kỳ thi chuẩn hóa vẫn là thước đo khách quan để đánh giá năng lực thực tế của ứng viên. Họ kiến nghị khôi phục việc nộp điểm thi sớm nhất từ mùa tuyển sinh năm 2027.
Ông Ahmet Palazoglu, Chủ tịch Hội đồng Học thuật UC, cho biết Hội đồng Tuyển sinh và Quan hệ trường học sẽ lập tức bắt tay giải quyết vấn đề cấp bách về năng lực học đại học của sinh viên và quy trình tuyển sinh.
Còn bà Rachel Zaentz, người phát ngôn của hệ thống UC, thừa nhận việc suy giảm năng lực toán nền tảng đang là "thách thức chung của cả quốc gia", là hệ quả từ giai đoạn học trực tuyến kéo dài trong đại dịch. Bà khẳng định UC sẽ tập trung nâng cao chất lượng giảng dạy, thúc đẩy hợp tác và hỗ trợ sinh viên bằng cách liên kết chặt chẽ với cả khối phổ thông lẫn các tổ chức giáo dục bậc cao.
Năm học 2025-2026, UC có khoảng 300.000 sinh viên tại tất cả cơ sở, đông nhất trong lịch sử, cùng 265.000 giảng viên và nhân viên. Trong số này, 8 cơ sở lọt top 25 đại học công tốt nhất Mỹ, theo tổ chức xếp hạng US News.
Có những quyết định nhân sự, nếu nhìn riêng lẻ, chỉ là một chuyển động bình thường trong bộ máy hành chính. Nhưng đặt trong một thời điểm đặc biệt, nó có thể gợi ra những suy nghĩ rộng hơn về nhu cầu quản trị của một ngành.
Việc một nhân sự có nền tảng luật học, từng trải qua môi trường đào tạo luật, đào tạo chức danh tư pháp, quản trị đại học và quản lý nhà nước, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ GD-ĐT diễn ra đúng vào lúc dư luận đang đặc biệt quan tâm đến vụ việc thi cử ở Tuyên Quang khiến câu chuyện trở nên đáng chú ý hơn. Bởi Tuyên Quang không chỉ là một vụ việc giáo dục. Nhìn từ góc độ pháp lý, đây là một bài kiểm tra rất lớn đối với năng lực quản trị kỳ thi, kiểm soát quyền lực trong phòng thi, xử lý khủng hoảng và năng lực bảo vệ công bằng của hệ thống giáo dục.
Trong nhiều năm khi nói đến giáo dục, chúng ta thường nói nhiều đến chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, chất lượng giáo viên, áp lực thi cử, tự chủ đại học. Những vấn đề đó đều quan trọng. Nhưng vụ việc ở Tuyên Quang cho thấy một vấn đề khác cũng quan trọng không kém. Đó là giáo dục cần được quản trị bằng pháp luật một cách chặt chẽ hơn.
Một kỳ thi quốc gia không thể chỉ dựa vào đạo đức của người coi thi. Trong quản trị công, chỉ trông chờ vào đạo đức là chưa đủ. Nơi nào có quyền lực, nơi đó phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Phòng thi cũng là một không gian quyền lực. Trưởng điểm thi có quyền điều hành, giám thị có quyền giám sát thí sinh, cán bộ coi thi có quyền lập biên bản, nhắc nhở, xử lý tình huống. Khi thứ quyền lực ấy không được kiểm soát tốt thì e rằng sự công bằng của kỳ thi có thể bị xâm phạm từ chính bên trong hệ thống.
Điều đáng lo trong vụ việc ở Tuyên Quang không chỉ là con số điểm 10 bất thường. Điều đáng lo hơn là nếu kết quả điều tra chứng minh sai phạm phát sinh từ người có nhiệm vụ tổ chức, coi thi, giám sát thi, thì sự cố này đã vượt ra khỏi phạm vi một sai sót nghiệp vụ. Nó đặt ra câu hỏi về trách nhiệm công vụ, về cơ chế phân công, về giám sát nội bộ, về báo cáo bất thường và về khả năng phát hiện sớm rủi ro trong kỳ thi.
Trong môi trường giáo dục, tư duy pháp lý có vai trò rất quan trọng. Tư duy pháp lý trước hết đòi hỏi không được quy chụp. Không thể vì một điểm thi có bất thường mà mặc nhiên coi mọi thí sinh đạt điểm cao là gian lận. Không thể vì một số cán bộ coi thi có dấu hiệu sai phạm mà phủ nhận nỗ lực học tập thật sự của những học sinh ngay tình. Nhưng tư duy pháp lý cũng không cho phép sự dễ dãi. Nếu có thí sinh chủ động móc nối, biết rõ hành vi gian lận, cùng tham gia hoặc cố ý hưởng lợi từ sai phạm, thì cũng không thể xem các em hoàn toàn là nạn nhân. Công bằng trong pháp luật không nằm ở sự thương cảm chung chung. Công bằng nằm ở việc cá thể hóa trách nhiệm. Ai có lỗi đến đâu, xử lý đến đó. Ai không có lỗi, phải được bảo vệ đến cùng.
Vụ Tuyên Quang vì vậy đang đặt Bộ GD-ĐT trước một bài toán rất khó. Nếu xử lý quá nhẹ, kỷ cương kỳ thi bị tổn thương. Nếu xử lý quá rộng, quyền lợi của thí sinh ngay tình có thể bị xâm phạm. Nếu thi lại vội vàng, có thể tạo thêm bất công mới. Nếu không thi lại trong khi kết quả thi đã bị tác động nghiêm trọng, niềm tin xã hội lại tiếp tục bị bào mòn.
Trong bối cảnh đó, việc lãnh đạo Bộ GD-ĐT có thêm nhân sự am hiểu pháp luật có thể được nhìn như một tín hiệu tích cực. Không phải vì một cá nhân có thể giải quyết ngay mọi vấn đề của ngành, càng không nên đặt kỳ vọng quá mức vào một quyết định nhân sự. Nhưng một người có nền tảng luật học, kinh nghiệm đào tạo pháp luật và quản lý nhà nước có thể góp phần làm cho các quyết sách giáo dục được đặt trên nền tảng pháp lý chặt chẽ hơn.
Một kỳ thi nghiêm túc không chỉ cần đề thi tốt, giám thị đủ, camera nhiều hay máy dò kim loại hiện đại mà còn là thiết kế thể chế. Ai chịu trách nhiệm cuối cùng? Ai giám sát người giám sát? Dữ liệu bất thường được xử lý ra sao? Khi có dấu hiệu gian lận, cơ chế phản ứng nhanh vận hành thế nào? Khi xảy ra sai phạm, quyền lợi của học sinh ngay tình được bảo vệ bằng phương án nào?
Nếu chỉ mua thêm thiết bị mà không thay đổi cách vận hành, gian lận có thể chuyển từ hình thức này sang hình thức khác. Nếu chỉ tăng cường khẩu hiệu đạo đức mà không siết trách nhiệm pháp lý, sai phạm vẫn có thể lặp lại. Nếu chỉ xử lý sau khi dư luận phát hiện, hệ thống quản trị vẫn ở thế bị động.
Từ vụ Tuyên Quang, điều ngành giáo dục cần không chỉ là một phương án xử lý cụ thể cho một điểm thi mà là một cuộc rà soát nghiêm túc về cơ chế tổ chức kỳ thi quốc gia. Quy chế thi phải đủ rõ để không ai có thể viện lý do "không biết". Trách nhiệm của trưởng điểm thi phải đủ cụ thể để không thể né tránh. Cơ chế giám sát phải đủ độc lập để không bị vô hiệu hóa bởi quan hệ nội bộ. Dữ liệu kết quả thi phải được phân tích đủ sớm để phát hiện bất thường trước khi xã hội bức xúc. Và mọi phương án xử lý phải được giải thích công khai, có căn cứ, có lý lẽ, để người dân thấy rằng công bằng không chỉ được tuyên bố mà đang được thực thi.
Một nền giáo dục muốn dạy học sinh trung thực thì chính hệ thống giáo dục phải vận hành bằng những nguyên tắc trung thực. Muốn kỳ thi quốc gia giữ được niềm tin, không thể chỉ dựa vào niềm tin cá nhân, mà phải có một cơ chế pháp lý đủ minh bạch để người tốt được bảo vệ và người sai không thể dễ dàng vượt qua ranh giới.
Giáo dục không chỉ đào tạo tri thức mà còn đào tạo ý thức công dân. Đó mới là ý nghĩa sâu xa của tư duy pháp lý trong giáo dục.
Hai chữ "thành tích" nghe quen đến mức người ta dễ lướt qua. Nhưng đặt trong một vụ án hình sự liên quan đến kỳ thi quốc gia, hai chữ ấy khiến người có con đang đi học như tôi phải dừng lại. Một hành vi làm sai lệch kết quả thi, nếu không vì tiền mà vì thành tích, liệu có nhẹ hơn không?
Nhiều người sẽ trả lời là có. Vì thành tích nghe không giống tham nhũng. Người thầy không bỏ túi đồng nào. Tôi hiểu cách nhìn đó. Áp lực thành tích không tự sinh ra trong đầu một người. Nó đến từ cách nhà trường được đánh giá, cách địa phương báo cáo, cách xã hội quen ngợi ca những con số đẹp mà ít khi hỏi con số ấy ra đời thế nào. Ở tầng nguyên nhân, thành tích là một áp lực có thật, và nó không chừa riêng ai.
Nhưng luật hình sự không chấm điểm động cơ theo cảm giác đạo đức của số đông. Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử lý người vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ.
Thành tích, danh tiếng, uy tín nghề nghiệp, vị trí trong nhà trường… tất cả nằm gọn trong khái niệm động cơ cá nhân khác. Làm sai vì thành tích vì thế không phải một tình tiết được luật xem là nhẹ hơn làm sai vì tiền. Đó là một dạng động cơ phạm tội độc lập, cấu thành tội danh y hệt.
Có một điểm ít người để ý. Từ lần sửa đổi năm 2017, điều luật này bổ sung cụm gây thiệt hại khác bên cạnh thiệt hại về tài sản. Nghĩa là tội phạm có thể hoàn thành mà không cần một thiệt hại vật chất nào. Sự công bằng của một kỳ thi bị xâm phạm đã là thiệt hại mà điều luật bảo vệ.
Nhìn ở góc này, động cơ thành tích không làm hành vi bớt nguy hiểm. Nó chỉ làm hành vi khó nhận diện hơn, vì nó khoác lên mình thứ mà xã hội vốn quen tưởng thưởng.
Cũng cần công bằng với chiều ngược lại. Động cơ vì thành tích hiện mới là kết luận điều tra ban đầu. Để buộc tội thì cơ quan tố tụng vẫn phải chứng minh từng hành vi cụ thể. Ai làm gì, ở khâu nào, tác động ra sao đến bài thi, hậu quả đến đâu? Sự bất thường của phổ điểm chỉ là dấu hiệu. Cái quyết định trách nhiệm hình sự là hành vi và mối quan hệ nhân quả, không phải một con số thống kê.
Điều khiến tôi suy nghĩ nằm ở chỗ khác. Nếu động cơ thật sự là thành tích thì vụ án này khó được đọc như sai phạm của vài cá nhân đơn lẻ. Thành tích của một điểm thi là sản phẩm của một hệ quy chiếu, nơi con số đẹp mang lại uy tín và uy tín được quy đổi thành đánh giá, vị thế, danh dự tập thể. Khi một hệ quy chiếu như vậy tồn tại thì nó tạo ra động cơ cho cả những người ban đầu không hề tính toán vụ lợi.
Vì vậy tôi cho rằng xử lý nghiêm những người trực tiếp làm sai là cần thiết, nhưng chưa đủ. Câu hỏi lớn hơn là vì sao một kỳ thi được canh gác nhiều lớp vẫn có thể bị tác động chỉ bởi áp lực thành tích. Đạo đức nghề nghiệp là cần nhưng một quy trình khiến người muốn làm sai cũng khó làm được còn cần hơn.
Đề xuất lắp camera giám sát phòng thi là một phản ứng đúng. Nhưng camera chỉ chặn được bàn tay. Cái cần chặn nằm sâu hơn, ở chỗ ta đã để thành tích trở thành một giá trị đủ lớn để người ta đánh đổi.
Chúng ta đang phải dùng máy quay để bảo vệ một thứ lẽ ra được giữ bằng lòng trung thực. Một điểm 10 có thể làm đẹp một bản báo cáo. Nhưng nó không làm một học sinh giỏi hơn, không làm một ngôi trường mạnh hơn và không đáng để một người thầy đánh đổi tự do của mình.
Điều nguy hiểm nhất của bệnh thành tích không phải vài con điểm được nâng. Nguy hiểm hơn là nó âm thầm dạy rằng kết quả quan trọng hơn cách người ta đạt tới kết quả.
Trong phòng thi ở Tuyên Quang hôm ấy, những đứa trẻ đã học một điều nằm ngoài đề toán. Rằng người lớn có thể gian lận, miễn là con số đủ đẹp. Bài học đó không có trong sách giáo khoa nào và nó ở lại lâu hơn bất kỳ điểm 10 nào.
Chừng nào một con số đẹp còn được tưởng thưởng nhiều hơn một quá trình trung thực, chừng đó ngành giáo dục vẫn còn nợ chính những học sinh mà nó có nhiệm vụ bảo vệ.