Bài viết Lạ lùng giới trẻ không muốn làm sếp, chỉ muốn làm nhân viên suốt đời nhận về nhiều ý kiến tranh luận của bạn đọc.
Nhiều bạn đọc xem việc làm quản lý là áp lực, cho rằng không phải ai cũng cần hoặc nên làm lãnh đạo.
Bạn đọc Sao Xẹt nói ngày đi bán sức lao động kiếm ăn, cũng có thời điểm bạn đọc được cái chức cỡ “bật mã ôn”.
Nếu thực sự ham mê chức quyền, bạn đọc này nghĩ mình cũng gắng để tiến xa hơn. Nhưng Sao Xẹt không đặt nặng điều đó. Mỗi kỳ lấy phiếu tín nhiệm hay bầu chọn vị trí, bạn đọc thường né tránh, có khi xin đi học hoặc xin nghỉ phép năm.
“Cứ làm tốt chuyên ngành, tranh thủ thời gian rảnh kiếm tiền thêm. Ôm chức vụ vào, quyền rơm, vạ đá, phải nêu gương, thời gian cũng phải triệt để ở công ty, không thể “tạt té” được để kiếm thêm. Cho nên hoàn thành tốt công việc, lợi ích trên hết, chức quyền chỉ là phù vân”, bạn đọc này bày tỏ.
Còn bạn đọc Nguyễn Văn Cường cho rằng đơn giản là vì không thích phải quản lý người khác, không thích giao việc rồi theo dõi nhân viên làm theo, cũng không thích phải đưa ra hình phạt khi nhân viên không đạt KPI.
Bạn đọc Mr Hoàn kể làm quản lý công ty gần 1 năm thì tóc bạc thêm, mặt mũi hốc hác. Giám đốc lại chỉ quan tâm đến kết quả, nên cứ làm nhân viên cho nhẹ đầu, hết ngày về ngủ ngon.
Bạn đọc Tấn Lợi cho rằng câu không có tinh thần cầu tiến vì không muốn làm lãnh đạo là sai. Lấy ví dụ một bác sĩ giỏi, họ có thể lựa chọn tập trung phát triển sâu về chuyên môn phẫu thuật, không ngừng nâng cao tay nghề trong chính lĩnh vực của mình.
Bạn đọc Ngựa trời nhìn nhận vị trí lãnh đạo trong công ty không nhiều, nên sa thải tỉ lệ càng cao. Chấp nhận giỏi nhưng không làm lãnh đạo để trách nhiệm không nặng đầu khi về nhà, đó cũng là hạnh phúc.
Bạn đọc Minh Trần thẳng thắn nói lương không chênh lệch bao nhiêu, thậm chí bên khối nhà nước còn không có phụ cấp thì làm quản lý chi cho mệt.
Bạn đọc Thuận Đức Nguyễn nói những người thích làm nhân viên không phải họ không muốn cầu tiến, mà vì nếu làm lãnh đạo ngoài phải lo chuyện hoàn thành kế hoạch sao cho tốt, còn phải lo chuyện khác ngoài chuyên môn như đoàn kết nội bộ, lấy lòng cấp trên… Mà những chuyện ngoài chuyên môn, người ta không thích ai làm phiền mình bởi chuyện khác.
“Giờ lại thêm chuyện, có gì cứ lôi người đứng đầu ra vì là cấp cao hơn, nên người ta ngại đứng đầu”, bạn đọc này nói.
Bạn đọc Thủy nói lương quản lý thường chỉ cao hơn nhân viên giỏi 20-30%, nhưng áp lực, trách nhiệm và thời gian làm việc lại tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba. Nhiều bạn trẻ tính toán “lợi ích/áp lực” và thấy không đáng.
Tương tự bạn đọc Thiện nói làm nhân viên xuất sắc, 17h là có thể cắm tai nghe và ra về, không phải lo lắng về KPI của cả đội, không phải giải quyết xích mích nội bộ. Sự nhẹ nhàng về mặt tinh thần này là thứ mà tiền bạc khó mua được.
Cờ đến tay ai, người nấy phất
Nhiều bạn đọc cho rằng né tránh làm quản lý là ngại thử thách và thiếu chí tiến thủ.
Bạn đọc Phong nói nếu được làm quản lý thì các bạn trẻ nên đón nhận vui vẻ. Đây là cơ hội để bản thân vượt qua vùng an toàn, thử thách.
Còn bạn đọc Thiên cho rằng sẽ là vấn đề nếu bạn từ chối cơ hội chỉ vì… sợ thay đổi, sợ thất bại, hoặc vì quá an phận.
“Một người thực sự “cầu tiến” không nhất thiết phải lên làm tổ trưởng, mà là ngày hôm nay làm việc tốt hơn hôm qua. Nếu bạn vẫn đang học hỏi, vẫn đang nâng cao tay nghề, vẫn say mê công việc hiện tại, bạn vẫn đang “tiến”, dù không thay đổi chức danh”, bạn đọc này nói.
Bạn đọc An nhìn nhận biết đủ là khi bạn đã trải nghiệm, đã nỗ lực và nhận ra đâu là điểm dừng phù hợp với năng lực và giá trị sống của mình. Bạn hài lòng với vị trí nhân viên vì bạn có thời gian cho gia đình, sở thích và sức khỏe. Đó là một sự lựa chọn tỉnh táo.
Bạn đọc Đức nói hôm nay bạn thấy hạnh phúc khi là nhân viên, biết đâu 5 năm nữa, khi có đủ trải nghiệm và sự tự tin, bạn lại muốn thử sức ở vị trí quản lý, lãnh đạo. Điều quan trọng là đừng khép mình vào khuôn khổ cứng nhắc.
Bạn đọc Hà cho rằng câu hỏi không nên là “có cầu tiến không”, mà là “bạn đang tiến theo hướng nào”. Leo cao chưa chắc đã hạnh phúc, nhưng đứng yên chắc chắn sẽ bị tụt lại. Quan trọng là bạn có đang tiến, theo cách của riêng mình hay không.
“Cái đáng bàn không phải là bạn làm nhân viên hay lãnh đạo, mà là bạn có đang “chủ động chọn” hay không. Nếu bạn hiểu rõ mình muốn gì và chấp nhận hệ quả, đó là trưởng thành. Còn nếu chỉ trôi theo hoàn cảnh thì dễ hối tiếc”, bạn đọc này nói.
"Situationship" là thuật ngữ chỉ kiểu quan hệ mập mờ giữa hai người, có tương tác tình cảm hoặc tình dục nhưng thiếu thỏa thuận rõ ràng về sự cam kết, tính độc quyền hay đích đến lâu dài.
Báo cáo Year in Swipe của Tinder từng ghi nhận tần suất sử dụng của thuật ngữ này trong phần giới thiệu cá nhân của người dùng đã tăng tới 49%, biến nó trở thành một "đặc sản" hẹn hò của giới trẻ hiện đại.
Dù biết bản thân xứng đáng với những điều tốt đẹp hơn, nhiều người vẫn không thể dứt bỏ mối quan hệ vô danh này do chịu sự chi phối của hai cơ chế tâm lý sâu xa.
"Hiệu ứng máy đánh bạc" trong cảm xúc
Huấn luyện viên hẹn hò Matthew Hussey (Anh), tác giả của hai cuốn sách bán chạy về tâm lý tình yêu, ví những mối quan hệ mập mờ vận hành giống như một chiếc máy đánh bạc. Cảm xúc và sự quan tâm từ đối phương không xuất hiện đều đặn mà lúc có lúc không, tạo ra một cơ chế thưởng ngẫu nhiên. "Cứ 10 lần chờ đợi mới có một lần được đáp lại, nhưng bấy nhiêu đó vẫn đủ để người ta tìm ra lý do tiếp tục", ông nói.
Trong "situationship", người trong cuộc thường xuyên nếm trải sự bất an. Nhưng thỉnh thoảng, họ lại được xoa dịu bởi những đỉnh cảm xúc ngắn ngủi, ví dụ một cuộc trò chuyện sâu sắc thâu đêm, một ngày cuối tuần mang cảm giác bước ngoặt, hay một cử chỉ ân cần đúng vào lúc họ vừa định cất bước rời đi.
Theo chuyên gia, trong thời buổi việc tìm kiếm sự kết nối ngày càng khó khăn, khi gặp được người có sức hút, nhiều người sợ rằng sẽ rất lâu nữa mới tìm lại được cảm giác rung động này. Con người thường dễ bị hút về phía những đối tượng không cam kết, thay vì chọn những người luôn sẵn sàng gắn bó. Nỗi sợ đánh mất cảm xúc hiếm hoi đó khiến nhiều người tiếp tục hy vọng và chấp nhận tổn thương.
Bẫy tâm lý "lỗi chi phí chìm"
Nguyên nhân thứ hai trói buộc con người trong tình cảnh mập mờ là hội chứng "lỗi chi phí chìm" (sunk cost fallacy). Nghiên cứu của TS Michael R. Langlais tại Đại học Baylor (Mỹ) chỉ ra rằng, đây là xu hướng con người tiếp tục lao vào một việc chỉ vì họ đã lỡ đầu tư quá nhiều tiền bạc, thời gian hoặc cảm xúc, bất chấp việc hiện tại nó không mang lại giá trị gì.
Thay vì dừng lại khi thấy mối quan hệ đang bào mòn tâm lý, người trong cuộc tự huyễn hoặc bản thân: "Đã quen nhau 6 tháng rồi, bỏ thì tiếc" hay "Mình đã dành cho họ quá nhiều tình cảm, không thể rời đi lúc này".
Chính tâm lý tiếc nuối những "chi phí chìm" đã khiến họ ngần ngại nhấn nút kết thúc. Họ quên mất rằng, việc tiếp tục duy trì một mối quan hệ một chiều không giúp họ thu hồi lại quãng thanh xuân hay tình cảm đã mất, mà chỉ vắt kiệt sức lực của chính họ trong một sự gắn kết không bao giờ có đích đến.
Không có cam kết: Không có định nghĩa rõ ràng về mối quan hệ giữa hai người (ví dụ: tránh trả lời câu hỏi "mối quan hệ của chúng ta là gì?").
Giao tiếp và kế hoạch không nhất quán: Kế hoạch thường được lập vào phút cuối, và giao tiếp không thường xuyên, thường chỉ xoay quanh sự tiện lợi.
Không có kế hoạch cho tương lai: Bạn không lên kế hoạch cho các sự kiện hoặc chuyến đi sắp tới cùng nhau, chỉ tập trung vào hiện tại.
Thiếu hòa nhập xã hội: Bạn chưa gặp bạn bè hoặc gia đình của họ và họ cũng chưa gặp bạn bè hoặc gia đình của bạn, cho thấy sự thiếu hòa nhập vào cuộc sống của nhau.
Cảm giác "gần gũi nhưng không an toàn": Bạn chia sẻ những khoảnh khắc thân mật, tình cảm hoặc thể xác, nhưng bạn không cảm thấy an toàn về sự ổn định của mối quan hệ.
Nỗ lực một chiều: Mối quan hệ thường có cảm giác như một người đang đầu tư nhiều nỗ lực hoặc cảm xúc hơn người kia.
Cách chấm dứt mối quan hệ mập mờ:
Cắt liên lạc: Giống như khi chia tay, tạo khoảng cách là điều vô cùng quan trọng để chữa lành. Hãy cắt đứt hoặc giảm đáng kể liên lạc, bao gồm cả việc hủy theo dõi họ trên mạng xã hội.
Chấp nhận thực tế: Thừa nhận rằng mối quan hệ đó có thể là nguồn gốc của sự bối rối hơn là sự an toàn. Đừng tìm kiếm sự kết thúc từ người kia. Hãy tự tạo ra sự kết thúc của riêng bạn bằng cách chấp nhận rằng đây không phải mối quan hệ phù hợp.
Tôn trọng cảm xúc của bản thân: Cảm xúc tiêu cực về một mối quan hệ không chính thức là điều bình thường. Hãy cho phép bản thân cảm thấy buồn hoặc tức giận và trút bầu tâm sự với bạn bè hoặc viết nhật ký.
Ưu tiên bản thân: Hãy dồn năng lượng vào sở thích, bạn bè hoặc mục tiêu nghề nghiệp để xây dựng lại lòng tự trọng của bạn.
Nhiều người thắc mắc vì sao thịt nướng thơm bên ngoài nhưng nhạt bên trong dù tẩm ướp cầu kỳ. Theo chuyên gia ẩm thực Vũ Nhất Thông, nguyên nhân không nằm ở lượng gia vị, mà do thứ tự tẩm ướp.
Ông Thông cho biết, các loại gia vị tạo hương như tiêu đen, hương thảo (rosemary), cỏ xạ hương (thyme) chứa hợp chất chỉ tan trong dầu. Nếu thiếu dầu làm chất dẫn, gia vị chỉ bám trên bề mặt thịt, dễ cháy khi gặp nhiệt độ cao và bay hương nhanh.
Ngược lại, muối và đường hòa tan tốt trong môi trường nước. Chúng thấm vào thớ thịt thông qua lượng nước tự nhiên có sẵn trong thực phẩm.
Khi xoa dầu ăn lên thịt trước, dầu sẽ len lỏi vào khe hở giữa các sợi cơ. Các gia vị tạo hương được thêm vào sau sẽ hòa tan trong dầu và dẫn sâu vào lõi thịt. Lớp dầu đóng vai trò màng bảo vệ, trì hoãn sự bốc hơi của hợp chất tạo mùi khi lên vỉ nướng.
Việc xoa dầu không cản trở muối thấm vào thịt. Muối tiếp xúc với độ ẩm tự nhiên trên bề mặt thịt, hòa tan và đi vào bên trong mà không bị màng dầu ngăn chặn.
Người nấu cần tuân thủ thứ tự để tối ưu hóa việc tẩm ướp:
Đối với ướp nhanh (20-30 phút): Thứ tự là dầu ăn, gia vị hương, sau đó đến muối và đường.
Đối với ướp chuẩn nhà hàng: Rắc muối khan, để tủ lạnh 1-4 tiếng. Sau đó thấm khô bề mặt, xoa dầu ăn, rắc gia vị hương và đem nướng.
Đầu bếp Thông lưu ý, nên sử dụng 10-15 ml dầu ăn cho mỗi 300 gram nguyên liệu để tạo một lớp màng mỏng. Việc rắc muối sớm sẽ kéo nước trong thịt ra ngoài. Nếu nướng khi bề mặt còn ướt, phản ứng tạo màu nâu vàng sẽ không xảy ra, khiến thịt có màu sắc kém hấp dẫn.
Khoảng 1,3 tỉ người trên thế giới sống với khuyết tật, tức khoảng 16% dân số toàn cầu. Điều tra năm 2023 cho thấy Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật (khoảng 6,11% dân số).
Có thể nói số liệu trên đây là một bộ phận không nhỏ trong xã hội song vẫn đang gặp nhiều rào cản trong tiếp cận giáo dục, việc làm, giao thông, dịch vụ công… Rào cản lớn nhất không nằm ở bản thân khuyết tật mà ở môi trường chưa được thiết kế để mọi người cùng tham gia bình đẳng.
Một công trình không có lối đi phù hợp, một trang thông tin không thể truy cập bằng công nghệ hỗ trợ hay một doanh nghiệp từ chối tuyển dụng vì định kiến… tất cả đều là rào cản xã hội, tạo ra khuyết tật về cơ hội với người khuyết tật. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu chính sách mà là thiếu cơ chế thực thi hiệu quả và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Muốn xóa bỏ rào cản cần chuyển từ cách làm mang tính phong trào sang cách làm dựa trên chuẩn tiếp cận, có kiểm tra giám sát, có chế tài và có sự tham gia của chính người khuyết tật. Một trong những biểu hiện rõ nhất của rào cản xã hội là khoảng cách về việc làm. Tỉ lệ người khuyết tật trong độ tuổi lao động đang làm việc chỉ khoảng 23,5% (theo số liệu điều tra năm 2023).
Nhiều người khuyết tật không thiếu năng lực nhưng lại thiếu cơ hội tiếp cận. Họ không được đào tạo nghề phù hợp, không được hỗ trợ điều chỉnh môi trường làm việc và thường bị loại khỏi vòng tuyển dụng ngay từ đầu do định kiến.
Tăng cơ hội việc làm cho người khuyết tật không thể dựa vào thiện chí mà phải dựa trên hệ thống chính sách đồng bộ, từ chống phân biệt đối xử đến hỗ trợ doanh nghiệp và dịch vụ việc làm công.
Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm cho người khuyết tật song chính sách chưa thực sự tạo động lực. Chẳng hạn doanh nghiệp chỉ được hưởng ưu đãi thuế khi có từ 30% trở lên số lao động bình quân trong năm là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác). Đồng thời có quy mô từ 20 lao động trong năm trở lên.
Có những cơ sở đạt tỉ lệ lao động khuyết tật như quy định nhưng vẫn không được hưởng ưu đãi do không đáp ứng điều kiện về quy mô lao động tối thiểu.
Tương tự, doanh nghiệp phải bảo đảm tỉ lệ từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác) mới được hưởng chính sách ưu đãi vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động. Không ít doanh nghiệp không thể tiếp cận chính sách này do không đạt ngưỡng tỉ lệ lao động là người khuyết tật.
Do vậy yêu cầu đặt ra là điều chỉnh chính sách theo hướng bỏ hoặc linh hoạt hóa điều kiện về quy mô lao động, đặc biệt với cơ sở có tỉ lệ lao động là người khuyết tật cao.
Hoặc thiết kế cơ chế ưu đãi theo hướng lũy tiến hay đa ngưỡng thay vì áp dụng cứng tỉ lệ 30% nhằm ghi nhận cả những doanh nghiệp có đóng góp đáng kể nhưng chưa đạt ngưỡng.
Cần kết hợp đồng thời tiêu chí về tỉ lệ và số lượng tuyệt đối lao động là người khuyết tật, mở rộng hình thức hỗ trợ ngoài thuế như cải tạo nơi làm việc, công nghệ trợ giúp, đào tạo tại chỗ song song với tận dụng mua sắm công và chuỗi cung ứng.
Kinh nghiệm khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho thấy các quốc gia thành công thường kết hợp nhiều công cụ: ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật, cơ chế trách nhiệm và cả áp lực thị trường.