Trong buổi chia sẻ trực tuyến của Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS), cô Đỗ Minh Châu, Giám đốc Khối Dịch vụ Trường học & Tuyển sinh cho rằng đích đến không đơn thuần là tốt nghiệp lớp 12 và trúng tuyển đại học, mà là việc học sinh có đủ năng lực, bằng cấp và hồ sơ để vào đúng trường, đúng ngành phù hợp với bản thân.
Mỗi hệ thống đại học trên thế giới có một “gu” tuyển sinh riêng. Các trường tại Mỹ và Canada thường đánh giá cao hồ sơ toàn diện trong đó kết quả học tập chỉ chiếm khoảng 40-50%, còn lại là hoạt động ngoại khóa, kỹ năng lãnh đạo và bài luận cá nhân.
Trong khi đó, các trường tại Anh và Úc lại đặt trọng tâm vào năng lực học thuật xuất sắc, được khẳng định qua các chứng chỉ học thuật chuyên sâu như Cambridge IGCSE và A Level.
Tại Việt Nam, dù là các trường quốc tế hay các đại học công lập hàng đầu, yêu cầu tiên quyết vẫn là nền tảng học thuật vững chắc kết hợp với kỹ năng thế kỷ 21 đặc biệt là năng lực số, kỹ năng tự học và thích ứng để học sinh có thể thành công trong môi trường đại học đầy cạnh tranh.
Do đó, tùy vào quốc gia con muốn đến, bộ hồ sơ năng lực cần được “đo ni đóng giày” ngay từ sớm chứ không thể “làm đẹp cấp tốc” trong giai đoạn cuối cấp.
Tại VAS, hồ sơ này được nhà trường đồng hành cùng học sinh xây dựng ngay từ lớp 8 thông qua chương trình Tư vấn Hướng nghiệp và Chuẩn bị vào đại học (UCCC).
Trong đó, học sinh được tư vấn cá nhân hóa xuyên suốt đến lớp 12, giúp các em xác định “đích đến” phù hợp với bản thân, lập kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước đạt được mục tiêu.
Theo cô Kelcie Jean Lamont – Giám đốc Điều hành kiêm Trưởng chương trình Cambridge Mầm non và Tiểu học, cơ sở VAS Riverside: “Thành công ở năm lớp 12 không bao giờ là sự ngẫu nhiên. Đó là kết quả của một hành trình đã được bắt đầu từ nhiều năm trước đó.
Khi chúng ta nhìn thấy một học sinh đứng trên sân khấu với học bổng toàn phần hoặc điểm A tuyệt đối ở A Levels, chúng ta không chỉ đang nhìn vào một năm nỗ lực, đó thực chất là “trái ngọt” từ một nền tảng chiến lược được xây dựng bền bỉ suốt những năm Tiểu học và Trung học.
Theo các chuyên gia, để thành công trong môi trường toàn cầu, bên cạnh học thuật, học sinh cần được trang bị các kỹ năng cốt lõi cho tương lai như: Kỹ năng số & tư duy AI; bộ kỹ năng thế kỷ 2 (giao tiếp, phản biện, tự học) và quan trọng nhất đó là kỹ năng thích nghi thực tế, luôn giữ cho bản thân vững vàng cân bằng trước mọi biến động.
Đây cũng chính là những năng lực mà học sinh được nuôi dưỡng và phát triển trong suốt hành trình 15 năm từ bậc mầm non tới lớp 12 tại VAS.
Cô Nguyễn Thu Hà, Hiệu trưởng Hệ thống, cho biết: VAS hiện đang giảng dạy 3 lộ trình học song ngữ, tất cả đều có đầu ra là bằng cấp, chứng chỉ Cambridge có giá trị toàn cầu gồm: Lộ trình Tích hợp Quốc tế Toàn phần Cambridge (CAPI); Lộ trình Song ngữ Học thuật Cambridge (CAP); Lộ trình Tiếng Anh Cambridge Chuyên sâu (CEP); Cùng các chương trình giáo dục toàn diện như: giá trị cốt lõi, sức khỏe well-being, ngoại khoá, UCCC,…
Do đó, dù học sinh có nhu cầu và “đích đến” ở đâu cũng có thể tìm được lộ trình học phù hợp để được hỗ trợ tối ưu.
Hành trình 15 năm học tại VAS được thiết kế rõ ràng theo từng giai đoạn gồm:
– Mầm non – Gieo hạt: Trẻ làm quen với chương trình giáo dục mầm non Cambridge, phát triển toàn diện và hình thành sự tự tin, khả năng giao tiếp và tình yêu học tập.
– Tiểu học – Xây nền học thuật và tư duy: Học sinh phát triển tiếng Anh học thuật, tư duy logic và kỹ năng tự học; sử dụng tiếng Anh để học các môn học thuật Cambridge và thi lấy chứng chỉ Cambridge Checkpoint Tiểu học.
– THCS (Lớp 6 – 8) – Định hướng cá nhân: Học sinh khám phá bản thân, xác định thiên hướng; đồng thời rèn luyện các kỹ năng quan trọng như tư duy phản biện, nghiên cứu, thuyết trình, quản lý dự án và thi lấy chứng chỉ Cambridge Checkpoint Trung học.
– THPT (Lớp 9 – 12) – Tăng tốc: Học sinh xác định mục tiêu rõ ràng và lập kế hoạch chi tiết để từng bước “về đích”. Đầu ra chứng chỉ IGCSE và A Levels chính là “tấm vé thông hành” đến các trường đại học hàng đầu thế giới, tuyển thẳng vào nhiều đại học lớn ở Việt Nam, đồng thời giúp học sinh tăng lợi thế khi “săn” học bổng và có thể rút ngắn gần 1 năm học đại học nhờ được miễn tín chỉ khi quy đổi điểm A Level.
Đây chính là những yếu tố giúp học sinh không chỉ trúng tuyển vào đại học mà còn là bệ phóng để các em phát triển và vững bước thành công trong tương lai.
Ngày 14/4, cô Nguyễn Thị Bé Hiền, Hiệu trưởng trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, cho biết dự kiến tuyển 805 học sinh lớp 10, như mọi năm. Đây là trường chuyên có quy mô tuyển sinh lớn nhất thành phố.
Tương tự, trường chuyên Trần Đại Nghĩa cũng giữ nguyên chỉ tiêu, với 525 học sinh.
Trong khi đó, trường THPT chuyên Hùng Vương, khu vực Bình Dương, dự kiến mở lớp tiếng Nhật với 35 học sinh, nâng tổng chỉ tiêu lên 455 em. Còn THPT chuyên Lê Quý Đôn, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, tăng 70 suất học lớp 10 do mở lớp chuyên Sử, Địa. Tổng chỉ tiêu là 525 học sinh.
Chỉ tiêu lớp 10 của 4 trường chuyên ở TP HCM năm 2026 như sau:
Kỳ thi lớp 10 công lập của TP HCM sẽ diễn ra ngày 1-2/6. Thí sinh có nguyện vọng vào trường chuyên phải thi 4 môn: Toán, Văn, Ngoại ngữ (chủ yếu tiếng Anh) và bài thi môn chuyên. Điểm xét tuyển là tổng điểm ba bài thi đại trà, cộng môn chuyên hệ số 2.
Học sinh đăng ký nguyện vọng lớp 10 trực tuyến, từ 22 đến 28/4. Những thí sinh ở ngoài TP HCM nộp hồ sơ trực tiếp tại trường THPT chuyên Lê Hồng Phong.
Các em được đăng ký tối đa 8 nguyện vọng, bao gồm 3 nguyện vọng thường, 2 chuyên và 3 tích hợp. Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ công bố số lượng nguyện vọng 1 ở từng trường, chậm nhất ngày 4/5, học sinh có thể điều chỉnh trong khoảng 4-8/5.
Sự thay đổi này không chỉ giúp kết quả thi phản ánh đúng năng lực học sinh (HS) mà còn góp phần tạo nền tảng công bằng hơn cho tuyển sinh ĐH, đồng thời định hướng lại việc dạy và học nhằm phát triển nhân lực cân bằng giữa STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học) và khoa học xã hội.
Năm 2025, điểm trung bình giữa các môn có sự chênh lệch lớn. Các môn khoa học xã hội như giáo dục kinh tế và pháp luật (7,69 điểm), ngữ văn (7,00 điểm), địa lý (6,63 điểm), lịch sử (6,52 điểm) đều đạt điểm khá cao, trong khi toán chỉ đạt 4,78 điểm, sinh học 5,78 điểm và hóa học 6,06 điểm. Riêng công nghệ nông nghiệp đạt 7,72 điểm nhưng số lượng thí sinh (TS) lựa chọn rất ít.
Đến năm 2026, bức tranh đã thay đổi theo hướng cân bằng hơn. Một số môn STEM tăng điểm đáng kể, nổi bật là toán tăng từ 4,78 lên 5,65 điểm (18,2%) - mức tăng cao nhất trong các môn thi; công nghệ công nghiệp tăng 12,26%; hóa học tăng 3,63% và sinh học tăng nhẹ.
Ngược lại, nhiều môn khoa học xã hội giảm điểm rõ rệt. Giáo dục kinh tế và pháp luật giảm mạnh nhất, từ 7,69 xuống 5,02 điểm (34,72%); địa lý giảm 23,08%; ngữ văn giảm 7,14%; lịch sử giảm 5,06%; tiếng Anh giảm 5,76%. Một số môn STEM cũng giảm điểm như vật lý (20,46%), tin học (10,47%) và công nghệ nông nghiệp (9,84%).
Nhờ những biến động theo hai chiều này, khoảng cách giữa môn có điểm trung bình cao nhất và thấp nhất đã thu hẹp từ gần 3 điểm năm 2025 xuống còn khoảng 1,9 điểm năm 2026. Phần lớn các môn tập trung trong khoảng 5 - 6,5 điểm, cho thấy phổ điểm giữa các lĩnh vực kiến thức đã cân bằng hơn, nâng cao tính công bằng trong đánh giá và tuyển sinh.
Sự cân bằng không có nghĩa là các môn đều "dễ" hay đều "khó", mà quan trọng hơn là phổ điểm của từng môn phản ánh sát hơn năng lực thực tế của TS.
Một thay đổi đáng chú ý khác là phân bố điểm tuyệt đối. Năm 2025, các môn xã hội chiếm phần lớn số điểm 10. Riêng địa lý có tới 6.907 điểm 10; vật lý có 3.929; lịch sử 1.518; giáo dục kinh tế và pháp luật 1.451. Đến năm 2026, bức tranh hoàn toàn khác.
Toán vươn lên dẫn đầu với 4.208 điểm 10, cao gấp hơn 8 lần năm trước. Trong khi đó, địa lý chỉ còn 56 điểm 10; giáo dục kinh tế và pháp luật chỉ còn 2; vật lý giảm xuống còn 189; công nghệ công nghiệp tăng từ 4 lên 40 điểm 10. Tổng số điểm 10 của tất cả các môn giảm từ 15.331 xuống còn 7.881, tức giảm gần một nửa.
Điều này cho thấy đề thi năm 2026 đã hạn chế đáng kể tình trạng điểm cao quá nhiều ở một số môn, qua đó nâng cao giá trị của điểm 10 và tăng khả năng phân loại HS xuất sắc.
Trong nhiều năm, việc quá nhiều HS đạt điểm cao ở một số môn khiến các trường ĐH khó tuyển chọn. Khi hàng nghìn TS cùng đạt từ 9 đến 10 điểm sẽ mất dần khả năng phân loại.
Điều này đã được cải thiện ở phổ điểm năm 2026. Các môn từng có tỷ lệ điểm cao rất lớn nay đã trở về mức hợp lý hơn, trong khi các môn tự nhiên không còn phổ điểm quá thấp như trước. Điều đó giúp điểm số giữa các tổ hợp xét tuyển trở nên cân bằng hơn, giúp các trường ĐH dễ dàng xác định nhóm TS xuất sắc, khá, trung bình và yếu.
Mặc dù vẫn còn những khác biệt nhất định về đặc trưng từng môn học, nhưng nhìn tổng thể, phổ điểm đã tiến gần hơn tới sự cân bằng giữa các lĩnh vực khoa học xã hội và STEM.
Đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm tính công bằng trong tuyển sinh, bởi điểm số không còn phụ thuộc quá nhiều vào việc lựa chọn môn nào "dễ đạt điểm cao", mà phản ánh sát hơn năng lực học tập của TS. Dữ liệu tuyển sinh cũng trở nên đáng tin cậy hơn khi phổ điểm của các môn không còn quá chênh lệch.
Hội thảo Toán học Hà Nội - Singapore diễn ra ngày 4 và 5/4, do khoa Toán của Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) tổ chức.
Song song chuỗi bài giảng đại chúng, GS Han Fei, Phó khoa Toán NUS, khuyến khích sinh viên Việt Nam ứng tuyển vào chương trình cao học toán của trường, đặc biệt là chương trình tiến sĩ.
Ông cho hay khoa có 120 nghiên cứu sinh tiến sĩ nhưng lượng học viên Việt còn ít, chỉ 3-5 người. GS Fei cho rằng con số này chưa tương xứng với quy mô dân số và tiềm năng về nguồn học viên.
"Chúng tôi rất thích sinh viên Việt Nam. Các bạn có nền tảng giáo dục cao, thông minh, chăm chỉ, thái độ tốt", GS Fei nói, kỳ vọng số nghiên cứu sinh người Việt sẽ tăng lên.
Theo ông, họ sẽ được nâng cao kỹ năng nghiên cứu, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về đóng góp cho Việt Nam. Ở chiều ngược lại, họ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và môi trường đa văn hóa ở NUS.
Ông Fei khuyến khích sinh viên Việt Nam ứng tuyển vào chương trình tiến sĩ Toán, ba chương trình thạc sĩ Toán, Tài chính định lượng và Khoa học dữ liệu và học máy.
Trong đó, chương trình thạc sĩ Toán là bước chuyển tiếp cho những sinh viên muốn học lên tiến sĩ và trở thành nhà nghiên cứu. Hai chương trình thạc sĩ còn lại định hướng giúp sinh viên đáp ứng nhu cầu của thị trường việc làm trong thời kỳ AI bùng nổ.
Về hướng giảng dạy và nghiên cứu, ngoài các lĩnh vực toán thuần túy, khoa Toán NUS tập trung phát triển ứng dụng vào Khoa học dữ liệu, Tin sinh học, Khoa học tính toán và phân tích số, Tối ưu hóa và Xử lý ảnh.
GS Đinh Tiến Cường, thành viên Hội đồng khoa học của VIASM, nhận định Singapore đang phát triển nhanh hơn sức tưởng tượng của nhiều người về khoa học công nghệ. So với khi ông bắt đầu làm việc tại đây 11 năm trước, ngày càng nhiều sinh viên quốc tế từ châu Âu hay Mỹ tới học, thay vì chỉ sinh viên ở châu Á.
Anh Trần Chiêu Minh, giáo sư bậc một tại khoa Toán NUS, đánh giá sinh viên Việt có cơ hội cạnh tranh ngang ngửa với những sinh viên giỏi tại NUS. Anh bày tỏ hy vọng có thêm nhiều hoạt động cộng tác của khoa tại Việt Nam.
Theo thông tin, nghiên cứu sinh tiến sĩ được trả toàn bộ học phí, nhận trợ cấp 4.000 SGD (khoảng 82 triệu đồng) mỗi tháng và 10.000 SGD chi phí đi lại tới các hội nghị, trường hè quốc tế,... Họ có thể nhận thêm 4.100-4.300 SGD nếu đạt học bổng của trường.
Sinh viên thạc sĩ cần tự trả học phí. Riêng nhóm tới từ ba trường đối tác của NUS tại Việt Nam, gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM và Đại học Bách khoa Hà Nội, có thể đăng ký học bổng NUS ASEAN Master's để được miễn.
Năm nay, hạn cuối nộp hồ sơ cho kỳ tuyển sớm với chương trình thạc sĩ Toán tại NUS là 15/7. Với bậc tiến sĩ, ứng viên muốn bắt đầu kỳ học tháng 1 năm sau cần hoàn thành mọi giấy tờ trước 15/5. Sinh viên nộp đơn qua cổng tuyển sinh của trường.
Đại học Quốc gia Singapore hiện đứng thứ 8 thế giới theo xếp hạng năm 2026 của QS và thứ 17 theo THE. Trong đó, chất lượng đào tạo Toán trong top 8 toàn cầu, theo QS.