Tính đến ngày 14/4, hai bên đều sử dụng “lá bài Hormuz” như công cụ gây sức ép trong đàm phán và định hình cán cân khu vực.
Hormuz – “van năng lượng” biến thành chiến trường chiến lược
Trong nhiều thập niên, eo biển Hormuz luôn được coi là van điều tiết của thị trường năng lượng toàn cầu. Tuy nhiên, bước sang đầu năm 2026, tuyến hàng hải này đã chuyển hóa thành bàn cờ chiến lược nơi Mỹ và Iran tiến hành cuộc đấu trí phức tạp, vừa răn đe quân sự vừa mặc cả ngoại giao.
Căng thẳng leo thang sau khi xung đột khu vực Trung Đông bùng phát cuối tháng 2. Theo VZ, lưu thông hàng hải qua eo biển bắt đầu bị gián đoạn mạnh từ thời điểm đó, khi Iran sử dụng các biện pháp quân sự nhằm gây áp lực sau các cuộc không kích của Mỹ và đồng minh.
Đến đầu tháng 4, cuộc đối đầu bước sang giai đoạn mới. Sau khi vòng đàm phán Mỹ – Iran ngày 11/4 tại Pakistan không đạt kết quả, Washington quyết định chuyển từ cảnh báo sang hành động. Ngày 13/4, Tổng thống Mỹ Donald Trump ra lệnh phong tỏa hàng hải đối với tàu ra vào các cảng Iran, động thái được xem là nhằm “tăng áp lực lên Tehran”, đồng thời vẫn để ngỏ khả năng đàm phán tiếp. Quyết định này lập tức làm thay đổi cán cân trên biển. Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ thông báo lực lượng hải quân sẽ kiểm soát toàn bộ tàu thuyền liên quan đến Iran, bắt đầu từ sáng ngày 13/4 theo giờ Mỹ.
Iran đáp trả bằng những ngôn từ cứng rắn. Theo đó, Lực lượng hải quân của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) cảnh báo rằng mọi “động thái sai lầm” của đối phương có thể dẫn tới “vòng xoáy chết chóc” tại eo biển, kèm theo hình ảnh tàu quân sự trong tầm ngắm.
Sự đối đầu này khiến eo biển Hormuz không chỉ là điểm nóng quân sự, mà còn là “công cụ mặc cả chính trị”. Giới nhà quan sát phương Tây nhận định, cả Mỹ và Iran đều không muốn đóng hẳn tuyến vận tải này, bởi nó sẽ gây ra cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu, nhưng sẵn sàng tạo ra “mức độ bất ổn có kiểm soát” để gây sức ép chiến lược.
Chiến lược của Mỹ – kiểm soát tuyến hàng hải để tạo lợi thế đàm phán
Giới chuyên gia cho rằng, Mỹ đang lựa chọn chiến thuật “phong tỏa có chọn lọc”, nhằm làm suy yếu kinh tế Iran nhưng tránh gây tắc nghẽn toàn bộ dòng chảy thương mại quốc tế. Theo thông tin từ giới phân tích và dữ liệu thị trường, lệnh phong tỏa của Mỹ có thể khiến khoảng 2 triệu thùng dầu/ngày của Iran không thể tiếp cận thị trường, qua đó gia tăng áp lực lên Tehran.
Mỹ lập luận rằng động thái này là phản ứng trước việc Iran đe dọa tuyến vận tải toàn cầu. Các quan chức Mỹ cáo buộc Tehran “đe dọa bất kỳ con tàu nào di chuyển qua eo biển”, đồng thời khẳng định Mỹ sẽ áp dụng nguyên tắc “không cho tàu Iran đi qua” nếu căng thẳng tiếp diễn.
Đáng chú ý, chiến lược của Mỹ không chỉ là quân sự. Việc phong tỏa được triển khai song song với các tín hiệu ngoại giao. Một số nguồn tin cho biết Mỹ vẫn cân nhắc nối lại đàm phán trong tuần, bất chấp căng thẳng trên biển.
Điều này cho thấy Washington đang sử dụng eo biển Hormuz như một “đòn bẩy kép”: vừa tạo sức ép kinh tế lên Iran; đồng thời duy trì cánh cửa đàm phán và kiểm soát rủi ro leo thang quân sự.
Tuy nhiên, chiến thuật này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các nhà phân tích quốc tế cảnh báo rằng việc Mỹ phong tỏa eo Hormuz từ xa có thể mở rộng xung đột sang “chiến tranh trên biển”, làm tăng giá dầu và gây tổn thất kinh tế toàn cầu.
Một yếu tố khác khiến chiến lược của Mỹ phức tạp hơn là việc lệnh phong tỏa chưa hoàn toàn hiệu quả. Dữ liệu theo dõi tàu cho thấy nhiều tàu chở dầu vẫn vượt eo biển sau khi lệnh có hiệu lực, đặt ra câu hỏi về khả năng thực thi. Thậm chí, một tàu bị Mỹ trừng phạt vẫn đi qua eo biển, “thử thách” lệnh phong tỏa, theo dữ liệu vận tải được các hãng truyền thông phương Tây dẫn lại. Những diễn biến này cho thấy Mỹ đang kiểm soát chiến lược nhưng chưa nắm hoàn toàn thực địa – một đặc điểm điển hình của cuộc đấu trí “vùng xám”.
Chiến lược của Iran – răn đe bất đối xứng và “ngoại giao rủi ro”
Trong khi Mỹ tận dụng ưu thế hải quân, Iran lựa chọn chiến thuật bất đối xứng, tạo rủi ro mà không đối đầu trực diện. Tehran khẳng định mọi mối đe dọa đối với eo biển Hormuz sẽ “gây chấn động thương mại toàn cầu”, đồng thời nhấn mạnh eo biển là lợi ích sống còn của Iran.
Chiến lược của Iran gồm ba lớp: Thứ nhất, răn đe quân sự “vùng xám”. Iran sử dụng tàu nhỏ, UAV, thủy lôi và cảnh báo hải quân nhằm tạo tâm lý bất ổn, khiến chi phí bảo hiểm vận tải tăng và gây áp lực lên các nền kinh tế phụ thuộc dầu mỏ. Thứ hai, chiến thuật “đe dọa nhưng không đóng cửa”. Tehran hiểu rằng phong tỏa hoàn toàn eo Hormuz sẽ gây thiệt hại cho chính mình. Do đó, họ duy trì mức độ bất ổn vừa đủ để giữ đòn bẩy. Thứ ba, tận dụng kênh đàm phán. Các nguồn tin cho thấy hai bên vẫn cân nhắc vòng đàm phán mới tại Pakistan và eo biển Hormuz tiếp tục trở thành chủ đề mặc cả quan trọng.
Một điểm đáng chú ý là Iran không phản ứng bằng tấn công trực diện. Điều này cho thấy Tehran ưu tiên “ngoại giao rủi ro”: tạo áp lực nhưng tránh chiến tranh tổng lực. Chiến lược này từng được Iran áp dụng trong các cuộc khủng hoảng trước đây và tiếp tục phát huy hiệu quả trong bối cảnh 2026, khi Mỹ muốn tránh mở rộng xung đột.
Cuộc đấu trí giữa Mỹ và Iran tại eo biển Hormuz đang mang tính chất giằng co. Hai bên đều muốn thể hiện quyết tâm nhưng không vượt “lằn ranh đỏ”.
Một mặt, Mỹ kiểm soát các tàu liên quan đến Iran; mặt khác, nhiều tàu vẫn đi qua, cho thấy lệnh phong tỏa chưa hoàn toàn chặt chẽ. Trong khi đó, Iran tiếp tục cảnh báo mạnh mẽ nhưng chưa có hành động đóng eo biển hoàn toàn. Điều này phản ánh chiến lược kiềm chế của cả hai phía.
Hệ lụy lớn nhất của thực trạng trên là đối với thị trường năng lượng. Việc phong tỏa eo Hormuz có thể khiến hàng trăm tàu bị kẹt và làm gián đoạn chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, cuộc đấu trí còn kéo theo cạnh tranh giữa các cường quốc.
Các nước nhập khẩu dầu như Ấn Độ và châu Âu đều theo dõi sát tình hình, bởi bất kỳ gián đoạn nào cũng tác động đến kinh tế toàn cầu. Ngoài ra, eo Hormuz còn trở thành đòn bẩy chính trị trong đàm phán rộng hơn. Một số nguồn tin cho biết Mỹ yêu cầu Iran mở hoàn toàn eo biển như một phần của thỏa thuận hòa bình, trong khi Tehran coi đây là lợi ích chiến lược không thể nhượng bộ.
Cuộc đấu trí chưa có hồi kết
Giới chuyên gia nhận định, cuộc đấu trí giữa Mỹ và Iran tại eo Hormuz không đơn thuần là cuộc đối đầu quân sự truyền thống, mà là sự kết hợp phức hợp của nhiều công cụ quyền lực. Hai bên đồng thời sử dụng răn đe hải quân, thông qua triển khai lực lượng và kiểm soát tuyến hàng hải, gây áp lực kinh tế bằng các biện pháp phong tỏa hoặc đe dọa gián đoạn dòng chảy năng lượng, tiến hành chiến tranh tâm lý nhằm tác động tới thị trường và dư luận quốc tế, đồng thời duy trì các kênh mặc cả ngoại giao để giữ không gian đàm phán.
Chính sự đan xen giữa biện pháp “cứng” và “mềm” này khiến Hormuz trở thành điểm nóng mang tính chiến lược, nơi các động thái quân sự chỉ là một phần trong tổng thể cuộc cạnh tranh rộng hơn về ảnh hưởng và lợi ích.
Cả Mỹ và Iran đều nhận thức rõ rằng một cuộc chiến tranh toàn diện tại Vịnh Ba Tư sẽ kéo theo hệ quả nghiêm trọng không chỉ đối với hai nước, mà còn đối với kinh tế toàn cầu. Việc đóng hoàn toàn eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển 20% nguồn cung năng lượng thế giới, có thể làm gián đoạn thương mại, đẩy giá dầu tăng vọt và kéo theo phản ứng dây chuyền về kinh tế – chính trị.
Vì vậy, hai bên đều lựa chọn chiến lược “leo thang có kiểm soát”: duy trì sức ép đủ lớn để giành lợi thế, nhưng tránh vượt qua lằn ranh có thể dẫn tới xung đột trực diện. Kết quả là eo Hormuz luôn ở trạng thái căng thẳng cao độ, song vẫn chưa rơi vào khủng hoảng toàn diện.
Trong ngắn hạn, kịch bản nhiều khả năng vẫn là sự giằng co kéo dài. Mỹ có thể tiếp tục duy trì các biện pháp kiểm soát hàng hải và phong tỏa hạn chế nhằm gây sức ép kinh tế, trong khi Iran đẩy mạnh các biện pháp răn đe bất đối xứng như tuần tra dày đặc, cảnh báo quân sự hoặc các hoạt động “vùng xám”. Song song với đó, các kênh ngoại giao vẫn được duy trì, bởi cả hai bên đều coi eo Hormuz là một “đòn bẩy” quan trọng trong quá trình thương lượng. Điều này khiến cuộc đối đầu mang tính chất vừa cạnh tranh vừa kiềm chế, khó có khả năng kết thúc nhanh chóng.
Tuy nhiên, rủi ro leo thang vẫn luôn hiện hữu. Chỉ một sự cố ngoài ý muốn trên biển, chẳng hạn một tàu thương mại bị tấn công, va chạm giữa lực lượng hải quân, tính toán sai lầm trong quá trình áp sát, hoặc hành động đơn phương của một bên thứ ba, cũng có thể phá vỡ trạng thái cân bằng mong manh. Khi đó, cuộc đấu trí có thể nhanh chóng chuyển thành đối đầu trực diện, kéo theo nguy cơ mở rộng xung đột trong khu vực.
Trong bối cảnh đó, eo biển Hormuz đang trở thành tâm điểm của địa chính trị Trung Đông năm 2026. Đây không chỉ là tuyến vận tải năng lượng quan trọng, mà còn là “bàn cờ chiến lược” nơi hai đối thủ lâu năm thử thách giới hạn của nhau, đo lường quyết tâm và khả năng chịu đựng.
Mọi động thái tại khu vực đều được cộng đồng quốc tế theo dõi chặt chẽ, bởi diễn biến tại Hormuz không chỉ ảnh hưởng đến an ninh khu vực mà còn có thể tác động trực tiếp tới ổn định kinh tế toàn cầu. Thế giằng co vẫn tiếp diễn, cuộc đấu trí giữa Mỹ và Iran tại đây nhiều khả năng còn kéo dài trong thời gian tới, khi chưa bên nào sẵn sàng lùi bước nhưng cũng không muốn vượt qua ngưỡng xung đột toàn diện.
Tổng thống Nga Vladimir Putin khẳng định trong một cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Rossiya-1 hôm 28/6 rằng không có thỏa thuận nào đạt được tại Hội nghị thượng đỉnh Anchorage ở Alaska vào năm ngoái.
"Thực sự không có thỏa thuận nào ở Anchorage cả”, ông Putin xác nhận.
Dù vậy, ông nói, những thỏa hiệp mà Nga đã thảo luận và cuối cùng chấp nhận tại cuộc gặp là do phía Mỹ đề xuất. "Tinh thần Anchorage" đã không được "thể chế hóa bằng bất kỳ văn kiện chính thức nào", nhưng cả hai bên đã thảo luận về một số khả năng nhất định nhằm giải quyết cuộc xung đột Ukraine.
"Chúng tôi được yêu cầu chấp nhận các thỏa hiệp do các nhà đàm phán Mỹ đưa ra. Chúng tôi đã đồng ý”, ông cho biết.
Ông Putin nhấn mạnh rằng kể từ đó đến nay ông vẫn chưa nhận được bất kỳ lời đề nghị nào khác từ chính quyền Mỹ.
Hội nghị thượng đỉnh Anchorage đã đánh dấu cuộc tiếp xúc trực tiếp cấp cao nhất đầu tiên giữa Moscow và Washington sau nhiều năm kể từ khi xung đột Ukraine leo thang, và từng được hoan nghênh như một bước đột phá.
Những đồn đoán liên quan đến các thỏa thuận bí mật giữa Mỹ và Nga đã bị dập tắt cách đây vài ngày. Hôm 25/6, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio phát biểu với các phóng viên rằng cuộc gặp chỉ đưa ra được "một đề xuất" chứ không có thỏa thuận nào.
Đáp lại, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov nói: "Khi người đồng cấp của tôi nói rằng ở Alaska chỉ có các đề xuất chứ không có thỏa thuận, tôi tự hỏi chúng ta hiểu thế nào là một thỏa thuận.
Ông Lavrov cho biết Washington đã trình bày các đề xuất nhằm giải quyết cuộc chiến ở Ukraine trong các cuộc hội đàm và Moscow đã chấp thuận chúng. "Nếu một bên, trong trường hợp này là Mỹ, đặt các đề xuất lên bàn đàm phán, và bên còn lại bày tỏ sự đồng ý, thì việc nói rằng không có thỏa thuận nào nghe có vẻ không được lịch thiệp cho lắm", ông nói thêm.
Trong khi cả Moscow và Washington đều giữ kín tiếng về các điểm cụ thể được thảo luận tại Alaska, ông Trump sau đó ẩn ý Kiev có thể cần phải nhượng bộ lãnh thổ để đạt được một thỏa thuận hòa bình lâu dài. Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky, cùng các bên ủng hộ Ukraine ở châu Âu, đã kiên quyết bác bỏ bất kỳ sự nhượng bộ nào về mặt lãnh thổ.
Tổng thống Putin tuyên bố Moscow sẵn sàng tiếp tục thảo luận với Washington về tất cả các phương thức nhằm giải quyết cuộc xung đột ở Ukraine.
"Chúng tôi sẵn sàng tiếp tục các cuộc đàm phán và thảo luận về tất cả các chi tiết, tất cả các phương thức của chúng tôi, nếu không phải là những điểm hiểu biết chung, thì sẽ là các chủ đề đã được thảo luận tại Anchorage", Tổng thống Nga phát biểu.
Ông Putin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng để có một thỏa thuận hòa bình lâu dài, Kiev phải rút các lực lượng Ukraine khỏi phần lãnh thổ thuộc vùng Donbass mà họ vẫn đang kiểm soát. Moscow tuyên bố chừng nào Ukraine còn từ chối thỏa hiệp, Nga sẽ thúc đẩy các mục tiêu của mình bằng biện pháp quân sự.
Tại thủ đô New Delhi chiều 5/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Cố vấn An ninh Quốc gia Ajit Doval trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ. Hai bên đánh giá hợp tác an ninh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quan hệ song phương, nhấn mạnh việc làm sâu sắc hơn nữa phối hợp giữa các cơ quan an ninh, thực thi pháp luật và hoạch định chính sách, theo Bộ Ngoại giao.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Việt Nam và Ấn Độ cần tăng cường chia sẻ thông tin chiến lược, mở rộng hợp tác về an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng số, phòng chống tội phạm công nghệ cao và nâng cao năng lực ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.
Hai nước nhấn mạnh nhu cầu phối hợp trong đấu tranh chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, lừa đảo trực tuyến và các mối đe dọa mới nổi, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội của mỗi nước.
Hai bên cũng thống nhất thúc đẩy liên kết giữa an ninh và phát triển, mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, năng lượng và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, coi đây là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của mỗi quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gia tăng.
Việt - Ấn nhất trí duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).
Hai nước cũng nhất trí tiếp tục tăng cường tham vấn chiến lược, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, qua đó đóng góp tích cực vào định hình một cấu trúc khu vực ổn định, bao trùm và dựa trên luật lệ trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực đang chuyển biến nhanh chóng và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Cố vấn Ajit Doval cho biết "bất ổn và bất định" là hai từ khóa được nhắc tới nhiều nhất khi nói đến tình hình thế giới, nhưng trong môi trường đó, yếu tố chính làm ổn định tình hình là tin cậy và mong muốn cùng phát triển.
Ông khẳng định Ấn Độ luôn coi Việt Nam là đối tác quan trọng hàng đầu tại khu vực với những đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển chung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ ngày 5-7/5, theo lời mời của Thủ tướng Narendra Modi.
Việt Nam và Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1972, nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vào năm 2016. Kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và Ấn Độ đạt mức 16,46 tỷ USD trong năm 2025, tăng 10,5% so với năm 2024. Tính tháng 3/2026, các nhà đầu tư Ấn Độ có 503 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 1,117 tỷ USD, đứng thứ 26/154 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Hai nước đã nhất trí tăng kim ngạch thương mại, đầu tư hai chiều lên 30 tỷ USD vào năm 2030.
Theo nhiều quan chức Mỹ, trận tập kích của Iran hôm 17/7 khiến 2 binh sĩ Mỹ thiệt mạng và một quân nhân khác mất tích là vụ tấn công thứ tư nhằm vào lực lượng Mỹ tại Jordan chỉ trong vòng 5 ngày. Tổng cộng, các cuộc tấn công này đã khiến hàng chục quân nhân Mỹ bị thương và làm hư hại nhiều trực thăng.
Các quan chức Mỹ cho biết, hàng loạt cuộc tấn công cùng những thiệt hại gây ra cho thấy Iran không chỉ vẫn sở hữu kho tên lửa dồi dào mà còn ngày càng hiệu quả hơn trong việc vượt qua các hệ thống phòng không của Mỹ.
Jordan, nơi đặt nhiều căn cứ không quân quan trọng của Mỹ, ngày càng đóng vai trò chiến lược trước và trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, khi Lầu Năm Góc điều chuyển một số lượng binh sĩ từ Bahrain, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) và Qatar đến các địa điểm được đánh giá là an toàn hơn tại Jordan và Israel.
Theo các quan chức Mỹ, vai trò của Jordan trong các chiến dịch quân sự của Washington tiếp tục gia tăng khi một số đồng minh khác của Mỹ trong khu vực hạn chế việc Washington triển khai binh sĩ hoặc cho phép máy bay Mỹ hoạt động trên không phận của họ.
Đầu tháng 7, Iran đã mở rộng phạm vi các cuộc tấn công trong khu vực, trong đó có Jordan, lần đầu tiên kể từ khi Tehran và Washington ký thỏa thuận ngừng bắn vào tháng 6.
Các quan chức Mỹ đã thuật lại diễn biến các cuộc tấn công của Iran nhằm vào Jordan trong 5 ngày qua.
Theo đó, cuộc tấn công đầu tiên nhằm vào lực lượng Mỹ tại Jordan đã đánh trúng một khu nhà ở trong Căn cứ Không quân King Faisal, khiến khoảng 5 quân nhân Mỹ bị thương.
Cuộc tấn công thứ hai nhắm vào một căn cứ ở miền đông Jordan, nơi trực thăng Black Hawk của Mỹ đang hoạt động, gây hư hại đáng kể cho nhiều trực thăng.
Tiếp đó, hơn 48 giờ trước, tên lửa Iran đã tấn công Căn cứ Không quân Muwaffaq Salti tại Azraq của Jordan - căn cứ nơi 2 binh sĩ Mỹ thiệt mạng trong vụ tấn công hôm 17/7.
Đợt tấn công trước đó khiến khoảng 20 quân nhân Mỹ bị thương khi đang chạy vào hầm trú ẩn. Không có ai thiệt mạng trong đợt không kích này.
Tuy nhiên, khi Iran tiếp tục tấn công căn cứ này vào ngày 17/7, 2 binh sĩ Mỹ đã thiệt mạng và 4 quân nhân khác bị thương. Một số quân nhân khác bị thương nhẹ, được kiểm tra y tế và đã trở lại làm nhiệm vụ.
Cũng trong ngày 17/7, quân đội Iran tuyên bố đã tiến hành một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào các bồn chứa nhiên liệu tại căn cứ của Mỹ ở Azraq. Trong khi đó, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) cho biết đã sử dụng tên lửa và máy bay không người lái để tấn công các nhà chứa máy bay tại căn cứ này, theo hãng thông tấn bán chính thức Fars News, cơ quan truyền thông có liên hệ với IRGC.
Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) ngày 18/7 xác nhận thương vong xảy ra một ngày trước đó khi các binh sĩ Mỹ cùng lực lượng đồng minh "chống trả các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo và máy bay không người lái của Iran”.
Cuộc tấn công trả đũa của Iran
Ông David Deptula, cựu trung tướng Không quân Mỹ và là một trong những kiến trúc sư chính của chiến dịch không quân trong Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, cho biết vị trí của Jordan cho phép Mỹ tiến hành "các chiến dịch không quân hiệu quả hơn trên khắp Syria, Iraq và toàn khu vực”.
"Vì vậy, cuộc tấn công hôm 17/7 không chỉ nhằm vào một căn cứ quân sự. Đây còn là cuộc tấn công nhằm vào liên minh khu vực do Mỹ dẫn đầu và là nỗ lực khiến cái giá chính trị của việc cho phép lực lượng Mỹ đồn trú trở nên lớn hơn lợi ích an ninh mà điều đó mang lại”, ông nhận định.
Tối 18/7, quân đội Mỹ thông báo đã tiến hành các cuộc không kích trả đũa nhằm làm suy giảm mối đe dọa của Iran đối với hoạt động hàng hải tại eo biển Hormuz, đồng thời "trừng phạt nhanh chóng việc các lực lượng thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đã tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào quân nhân Mỹ tại Jordan”.
Ngay cả trước khi các cuộc không kích trả đũa được tiến hành, Tổng thống Donald Trump đã phát tín hiệu rằng ông dự định tăng cường các cuộc tấn công nhằm vào Iran trong tuần tới, đồng thời mở rộng mục tiêu sang nhiều cơ sở hạ tầng của nước này, bao gồm các cây cầu, nhà máy điện và các hệ thống phân phối điện.
Tổng thống Mỹ Donald Trump nói với NewsNation rằng việc 2 quân nhân Mỹ thiệt mạng tại Jordan là "một điều vô cùng đáng buồn”.
"Chúng tôi rất đau lòng khi điều đó xảy ra. Họ đã hy sinh để phục vụ đất nước của chúng ta", ông Trump cho biết.
Trong bài đăng trên mạng xã hội X, Bộ trưởng Chiến tranh (Bộ trưởng Quốc phòng) Mỹ Pete Hegseth xác nhận 2 quân nhân Mỹ đã thiệt mạng, đồng thời tuyên bố "sự hy sinh của họ càng củng cố quyết tâm của chúng ta”.
Vụ việc ở Jordan đánh dấu lần đầu tiên binh sĩ Mỹ thiệt mạng kể từ khi xung đột giữa Washington và Tehran bùng phát trở lại vào đầu tháng này, theo Axios. Theo đó, tổng số binh sĩ Mỹ thiệt mạng đã tăng lên 16 người kể từ khi Mỹ và Israel phát động chiến dịch quân sự nhằm vào Iran hồi tháng 2.
Thứ trưởng Ngoại giao Iran Kazem Gharibabadi ngày 18/7 tuyên bố Tehran đã đình chỉ các cam kết theo thỏa thuận ngừng bắn kéo dài 60 ngày với Washington. Trước đó, vào đầu tháng này, Tổng thống Trump cũng tuyên bố lệnh ngừng bắn tạm thời với Iran đã "chấm dứt".