Theo bác sĩ dinh dưỡng Nguyễn Thị Thảo, Bệnh viện Bạch Mai, phương pháp “Đĩa ăn lành mạnh” là một mô hình phân bổ các nhóm thực phẩm trong một bữa ăn dựa trên tỉ lệ cân đối về mặt dinh dưỡng.
Thay vì phải cân đo đong đếm từng gram, từng calo hay ghi nhớ những bảng chỉ số phức tạp, bạn chỉ cần nhìn vào chiếc đĩa ăn của mình và sắp xếp thực phẩm theo các phần tương ứng.
Phương pháp này được các chuyên gia dinh dưỡng tại Trường Y tế Công cộng Harvard phát triển và được các tổ chức y tế uy tín trên thế giới (WHO) cũng như Bộ Y tế Việt Nam ủng hộ.
Cơ sở của nó nằm ở việc tối ưu hóa sự đa dạng các thành phần thực phẩm trong bữa ăn giúp kiểm soát lượng đường huyết từ việc ưu tiên các loại ngũ cốc nguyên hạt, cung cấp vitamin và khoáng chất đảm bảo từ rau củ quả đa sắc màu. Đồng thời xây dựng cơ bắp và tế bào dựa vào nguồn đạm chất lượng cao, hỗ trợ tiêu hóa nhờ lượng chất xơ dồi dào.
Bác sĩ Thảo hướng dẫn cần chuẩn bị một chiếc đĩa ăn thông thường có đường kính khoảng 20 – 25cm và sau đó chia chiếc đĩa này thành các phần như sau:
1/2 đĩa – Rau củ và trái cây (ưu tiên rau nhiều hơn)
Đây là phần quan trọng nhất nhưng thường bị chúng ta bỏ quên trong một bữa ăn. Hãy chọn rau củ quả theo nguyên tắc càng đa dạng màu sắc càng tốt: màu xanh của rau cải, màu đỏ của cà chua, màu cam của cà rốt…
Càng đa dạng thực phẩm với nhiều màu sắc khác nhau, bạn càng nhận được nhiều nhóm vitamin, khoáng chất và các chất chống oxy hóa.
Phần rau củ và trái cây này là nguồn chất xơ khổng lồ, mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cơ thể.
Lưu ý: Các loại khoai củ, ngô, bí đỏ không được xếp vào phần rau củ mà thuộc nhóm tinh bột.
Bạn hãy ưu tiên lựa chọn các loại thực phẩm là nguồn tinh bột hấp thu chậm như gạo lứt, yến mạch, bánh mì nguyên cám, hạt quinoa, ngô, khoai lang luộc…
Những thực phẩm này giữ lại được lớp vỏ cám giàu vitamin nhóm B và chất xơ, giúp bạn no lâu hơn, kiểm soát đường huyết và hạn chế tích tụ chất béo.
1/4 đĩa – Chất đạm lành mạnh
Đạm là nguồn cung cấp nguyên liệu có vai trò vô cùng quan trọng trong cấu tạo nên các tế bào, tham gia vào các loại hormone, giúp xây dựng cơ thể. Khi lựa chọn nguồn đạm, bạn nên cân bằng giữa 2 nhóm đạm động vật – đạm thực vật và đa dạng nguồn thực phẩm.
Bạn nên ưu tiên các loại đạm từ cá, thịt gia cầm (bỏ da), trứng, sữa, các loại hạt (đậu đỗ, hạt vừng, lạc, óc chó, hạt điều, hạnh nhân…), các loại nấm…
Thịt đỏ (thịt bò, thịt heo) nên ăn ở mức vừa phải. Hạn chế tối đa các loại thịt chế biến sẵn như xúc xích, thịt xông khói, lạp xưởng vì chúng chứa nhiều muối và chất bảo quản.
Chất béo lành mạnh và đồ uống
Chất béo: Ưu tiên sử dụng dầu thực vật (dầu ô liu, dầu đậu nành, dầu hướng dương) để chế biến. Hạn chế các loại chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa (có trong đồ chiên rán nhiều lần, các loại đồ ăn nhanh).
Đồ uống: Nước lọc là ưu tiên số một. Bạn có thể dùng thêm trà hoặc cà phê (ít đường hoặc không đường). Hạn chế tối đa nước ngọt có gas và các loại nước trái cây đóng chai. Lượng nước uống mỗi ngày trung bình khoảng 35 – 40ml/kg với người trưởng thành.
Lượng nước có thể thay đổi tùy theo mùa, mức độ vận động, tình trạng sinh lý (ví dụ người có sốt, tiêu chảy… có thể cần bù lượng nước lớn hơn).
– Lắng nghe cơ thể: Hãy dừng ăn khi cảm thấy vừa đủ (khoảng 80% sức chứa của dạ dày), không ăn quá no, ăn chậm nhai kỹ, tránh vừa ăn vừa xem điện thoại, máy tính. Điều này giúp bạn kiểm soát lượng ăn vào, tránh ăn quá nhiều.
– Cắt giảm muối và đường: Thói quen ăn mặn và ăn nhiều đường, đồ ngọt dẫn đến nhiều mối nguy cho sức khỏe của bạn. Do đó hãy kiểm soát lượng gia vị bạn cho vào đồ ăn, cũng như hạn chế tối đa ăn các loại thực phẩm tinh chế, đồ ăn nhanh.
– Cách chế biến ưu tiên: Hãy ưu tiên các phương pháp nấu nướng đơn giản giúp giữ tối đa chất dinh dưỡng và vị ngon ngọt tự nhiên của thực phẩm như luộc, hấp, xào nhỏ lửa, áp chảo… Hạn chế các món chiên ngập dầu hoặc nướng ở nhiệt độ cao.
– Kết hợp vận động: Trong mô hình đĩa ăn lành mạnh cũng nhấn mạnh vai trò của lối sống năng động, vận động thường xuyên. Kết hợp với dinh dưỡng cân bằng sẽ giúp bạn duy trì được sức khỏe tốt, vóc dáng cân đối.
– Sự linh hoạt: Đừng quá khắt khe với bản thân. Nếu có ngày bạn lỡ ăn hơi quá đà ở một bữa tiệc, hãy cân bằng lại vào bữa ăn tiếp theo theo phương pháp này.
Khoảng 1/3 trẻ ở Việt Nam mang phế cầu khuẩn ở vùng hầu họng nhưng không có triệu chứng. Trẻ dưới 5 tuổi có nguy cơ lây bệnh nhiều nhất cho người thân tiếp xúc gần.
Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) hiện là một trong những tác nhân hàng đầu gây viêm phổi mắc phải trong cộng đồng và nhiều bệnh xâm lấn (IPD) có thể đe dọa tính mạng như nhiễm khuẩn huyết và viêm màng não.
Đó là thông tin được nêu ra tại buổi tọa đàm khoa học chia sẻ và cập nhật thông tin y khoa về bệnh do phế cầu khuẩn ở trẻ, do Hội Y học dự phòng Việt Nam phối hợp Pfizer Việt Nam tổ chức ngày 24.6, tại TP.HCM.
Theo Phó giáo sư - tiến sĩ - bác sĩ Phạm Quang Thái, Phó trưởng khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, phế cầu khuẩn rất phổ biến, nó có thể hiện diện trong cơ thể người lành mang trùng.
Khảo sát tại một bệnh viện nhi tuyến Trung ương cho thấy, tỷ lệ tử vong ở bệnh nhi mắc phế cầu khuẩn xâm lấn là 8,8% (bình quân 11 trẻ mắc bệnh có 1 ca tử vong); còn khảo sát tại 2 bệnh viện nhi ở TP.HCM cho thấy, phế cầu khuẩn là tác nhân phổ biến nhất gây viêm màng não vi khuẩn ở trẻ dưới 5 tuổi (hơn 86%).
Bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Minh Tiến, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng TP.HCM, cho biết bệnh viện này tiếp nhận nhiều bệnh nhi viêm phổi nặng, viêm tai giữa tái phát và viêm màng não do phế cầu khuẩn.
Thực trạng kháng thuốc kháng sinh (vi khuẩn lờn thuốc) cũng được các chuyên gia đề cập. Tình trạng này khiến việc điều trị bệnh do phế cầu khuẩn gặp nhiều thách thức.
Theo Phó giáo sư Phạm Quang Thái, bức tranh dịch tễ phế cầu khuẩn ở trẻ em Việt Nam tiếp tục thay đổi theo thời gian, với sự đa dạng của các tuýp huyết thanh lưu hành. Giám sát dịch tễ liên tục và cập nhật dữ liệu khoa học là cơ sở cho các quyết định chuyên môn về y tế dự phòng.
Còn Phó giáo sư - tiến sĩ - bác sĩ Cao Hữu Nghĩa, Trưởng bộ môn Khoa học y sinh, Viện Pasteur TP.HCM, cho biết hiện bệnh do phế cầu khuẩn không chỉ là mối nguy ở nhóm trẻ nhũ nhi và trẻ dưới 5 tuổi mà còn có thể gây bệnh nặng và biến chứng ở một số trẻ lớn hơn có bệnh nền. Do đó, việc nhận diện đúng nhóm nguy cơ ở từng độ tuổi là quan trọng, giúp định hướng các biện pháp phòng ngừa phù hợp để giảm gánh nặng bệnh tật cho trẻ.
Giáo sư - tiến sĩ - bác sĩ Phan Trọng Lân, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Chủ tịch Hội Y học dự phòng Việt Nam, cho rằng việc dự phòng rất quan trọng. Có những bệnh nếu chúng ta chờ đến khi vào viện mới quan tâm thì thường đã muộn, đôi khi là những hậu quả nặng nề đối với trẻ. Bệnh do phế cầu khuẩn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em. Hiện nay, với tác động của ô nhiễm môi trường, quá trình đô thị hóa và tình trạng tự ý sử dụng kháng sinh, khiến bức tranh bệnh tật do phế cầu khuẩn đang trở nên phức tạp hơn.
"Điều tôi muốn nhấn mạnh về vai trò của truyền thông báo chí trong bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Bởi vì kiến thức y khoa nếu chỉ nằm trong bệnh viện, trong hội nghị hay trong các bài báo khoa học thì chưa đủ. Chỉ khi những thông tin đó được chuyển tải ra cộng đồng bằng ngôn ngữ dễ hiểu, chính xác và có trách nhiệm thì kiến thức mới thực sự trở thành giá trị", Giáo sư Phan Trọng Lân nói.
Nam thanh niên 20 tuổi đến Bệnh viện Da liễu Trung ương trong tình trạng sẩn đỏ ở tay, chân có mụn nước, ngứa nhiều. Bệnh nhân tắm lá, đắp lá nhưng thương tổn không giảm, xuất hiện thêm thương tổn mới, một số thương tổn có bọng nước trên nền sẩn đỏ.
Trường hợp khác là bệnh nhân nữ, 50 tuổi xuất hiện các dát (một dạng vết trên da), sẩn đỏ, một số thương sẩn có mụn nước ở bề mặt, thương tổn tăng dần số lượng, ngứa nhiều ở cẳng tay, chân và rải rác vùng thắt lưng bụng suốt 2 tuần.
Bệnh nhân đã tự ra hiệu thuốc mua thuốc bôi không rõ loại, thương tổn không giảm, ngứa nhiều, thêm thương tổn da mới. Bà chia sẻ nhà có nuôi 2 con chó.
Tương tự, bệnh nhi 7 tuổi cũng đến viện với nhiều thương tổn sẩn đỏ, sẩn có mụn nước nhiều ở tay, chân, mông, rải rác ở thân mình. Gia đình tự bôi thuốc, thương tổn có giảm ngứa, song vẫn xuất hiện thương tổn mới. Nhà có nuôi chó, mèo.
TS Quách Thị Hà Giang, Trưởng khoa điều trị bệnh da nam giới, Bệnh viện Da liễu Trung ương, cho hay trường hợp bị phản ứng mạnh, vùng da quanh sẩn có thể viêm tấy đỏ lan tỏa, hình thành bọng nước.
Thương tổn thường gặp ở vùng da hở như tay, chân, lan rộng toàn thân nếu nặng. Người bệnh rất ngứa, châm chích, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và chất lượng cuộc sống.
Một số bệnh nhân cho biết phát hiện con bọ chét có kích thước rất nhỏ, màu đen hoặc hơi nâu đỏ, không có cánh, có khả năng nhảy rất nhanh ở trên da và môi trường như sàn nhà, ga giường, thảm, vật nuôi. Đây có thể là nguyên nhân gây kích ứng da.
"Điều trị bằng các loại thuốc không rõ nguồn gốc hoặc áp dụng phương pháp dân gian có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng da khu trú hoặc lan tỏa, khiến tình trạng bệnh trở nên phức tạp hơn", TS Giang nói.
TS Giang cho hay bọ chét đốt người, để hút máu gây bệnh sẩn ngứa, ở Việt Nam thường gặp bọ chét chó và bọ chét mèo. Thương tổn là các sẩn huyết thanh, kích thước 1-2mm, gờ cao hơn mặt da, đỉnh chóp sẩn có mụn nước nhỏ, rất ngứa.
Trường hợp phản ứng mạnh có thể bị viêm tấy đỏ lan tỏa xung quanh sẩn. Thương tổn thường gặp ở phần da hở hoặc vùng da tiếp xúc trực tiếp với con vật khi ôm, bế chúng như vùng cổ, mặt, tay, chân, quanh thắt lưng.
Ngoài ra bọ chét có thể là vật chủ trung gian truyền một số bệnh. Trong đó, bọ chét phương Đông (Xenopsylla cheopis) truyền một số bệnh dịch, bệnh sốt kéo dài từ chuột sang người. Bọ chét mèo và chó truyền bệnh sán dây từ vật chủ này sang vật chủ khác.
Bọ chét phát triển trong điều kiện nóng ẩm, thích hợp ở nhiệt độ 21-35 độ C và độ ẩm 70-85%. Ở môi trường trong nhà, bọ chét sinh sản quanh năm, còn ở ngoài trời chúng chỉ phát triển vào những tháng ấm. Ở miền Bắc, bọ chét phát triển nhiều vào tháng 2 - 3 khi thời tiết chuyển từ mùa đông sang mùa xuân hè.
Bác sĩ cũng khuyến cáo khi bị ngứa nhiều, nổi sẩn đỏ, sẩn có mụn nước, bọng nước, đặc biệt ở tay, chân, vùng da hở; bệnh có xu hướng kéo dài, xuất hiện thương tổn mới... nên đến cơ sở y tế khám, điều trị đúng cách. Không tự điều trị hoặc áp dụng mẹo dân gian như bôi thuốc không rõ nguồn gốc, dùng thuốc corticoid kéo dài, tắm lá, đắp lá.
Điều trị sai có thể làm bệnh kéo dài, lan rộng, tăng nguy cơ nhiễm trùng da, để lại sẹo hoặc thâm da. Đồng thời trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, cần chú ý hơn đến vệ sinh môi trường sống và chăm sóc vật nuôi.
Nhiều người e ngại "quan hệ nhiều sẽ hao sinh lực". Thực tế, cơ thể nam giới không có một "giới hạn chuẩn" áp cho tất cả. Có người hồi phục nhanh, có người cần lâu hơn. Điều quan trọng không nằm ở số lần mà ở cảm giác sau đó. Nếu vẫn khỏe, thoải mái, không đau, không kiệt sức thì thường không đáng lo. Ngược lại, nếu mệt rã rời, đau, khó cương ở lần sau hoặc hôm sau vẫn hụt sức rõ rệt thì nên chú ý.
Quan hệ nhiều lần trong một đêm không hẳn là bất thường. Sau xuất tinh có "thời kỳ trơ", là lúc cơ thể cần hồi phục trước khi cương và đạt cực khoái lại. Thời gian này khác nhau ở mỗi người và thường dài hơn theo tuổi. Nghiên cứu trên The Journal of Sexual Medicine cho thấy đây là hiện tượng bình thường, dao động lớn giữa các cá nhân, từ vài chục phút đến 3-4 giờ. Vì vậy, có người quan hệ nhiều lần trong một đêm, có người chỉ một lần.
Đến nay, chưa có bằng chứng cho thấy việc này, nếu trong khả năng chịu đựng, gây "yếu sinh lý" lâu dài. Điều dễ xảy ra là mệt tạm thời, giảm hưng phấn ở lần sau do cơ thể chưa hồi phục. Lần thứ hai hay ba khó hơn lần đầu là bình thường, không đồng nghĩa sinh lý suy giảm.
Vấn đề đáng lo không phải "nhiều lần" mà là "quá sức". Nếu có đau, rát, sưng, đau tinh hoàn, tiểu buốt, mất cương kéo dài hoặc mệt lả, nên khám nam khoa vì có thể liên quan chấn thương, viêm hoặc rối loạn cương. Người có bệnh tim mạch, tăng huyết áp chưa kiểm soát cũng cần thận trọng khi quan hệ lặp lại nhiều lần trong thời gian ngắn.
Xuất tinh nhiều lần không làm "hết tinh" hoặc giảm khả năng có con. Nghiên cứu trên Basic and Clinical Andrology, xuất tinh thường xuyên có thể làm một số chỉ số tinh dịch như tổng số tinh trùng giảm tạm thời trong ngắn hạn, nhưng không có nghĩa là làm mất khả năng sinh sản.
TS.BS.CK2 Trà Anh DuyTrung tâm Sức khỏe Nam giới Men's Health