Tại dự án luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân, luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và luật Thuế giá trị gia tăng, Bộ Tài chính đề xuất nhiều nội dung đáng chú ý về ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ.
Theo đó, sửa đổi quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ kinh doanh theo hướng không quy định cụ thể là 500 triệu đồng/năm tại luật mà giao Chính phủ quy định. Tinh thần theo hướng nâng ngưỡng này lên để tiếp tục hỗ trợ hộ kinh doanh quy mô nhỏ và trung bình thấp.
Ngoài ra, cần bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc xác định doanh thu làm căn cứ miễn thuế.
Những đề xuất trên nhận được sự đồng tình của nhiều chuyên gia. Nhìn từ góc độ so sánh tổng thể với một số quốc gia bên cạnh Việt Nam, có GDP bình quân đầu người và mức doanh thu miễn thuế tương ứng, theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh nên điều chỉnh lên tối thiểu 1 tỉ đồng/năm.
“So với Trung Quốc, ngưỡng doanh thu miễn thuế nên cân nhắc là 1,5 tỉ đồng/năm; so với Malaysia và Thái Lan, các ngưỡng nên cân nhắc lần lượt là 1 tỉ đồng/năm và 750 triệu đồng/năm”, ông Tuấn nói.
Về ngưỡng miễn thuế cho doanh nghiệp nhỏ, ông Tuấn cho rằng, nên bằng với ngưỡng của hộ kinh doanh.
Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cũng đề xuất nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh lên 1 tỉ đồng/năm và xây dựng ngưỡng miễn thuế với doanh nghiệp nhỏ tương tự.
Tuy nhiên, mấu chốt là sau khi nâng ngưỡng, cần áp dụng việc trừ ngưỡng này khi tính thuế thu nhập cá nhân với cả nhóm hộ kinh doanh có doanh thu năm từ trên 1 tỉ đồng đến 3 tỉ đồng tính thuế theo (doanh thu – chi phí) x thuế suất, thay vì chỉ áp dụng với nhóm hộ kinh doanh quy mô này nhưng tính thuế theo doanh thu (x) thuế suất.
Ông Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, lại đề xuất xác định ngưỡng miễn thuế đối với doanh nghiệp nhỏ trong khoảng 3 – 5 tỉ đồng doanh thu/năm.
Theo ông, vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở việc doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ hay các doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh có muốn thực hiện nghĩa vụ thuế hay không, mà là khả năng tuân thủ trong điều kiện năng lực quản trị còn hạn chế.
Đối với nhóm doanh nghiệp này, các chi phí liên quan đến kế toán, kê khai, hóa đơn… trong nhiều trường hợp đang trở thành gánh nặng đáng kể. Nếu ngưỡng miễn thuế được xác định ở mức quá thấp, chính sách sẽ khó đạt mục tiêu hỗ trợ thực chất.
Ở góc độ tiếp cận chính sách, ông Nam cho rằng, không nên nhìn thuế theo hướng “thu ngay từ đầu”. Cách tiếp cận này có thể tạo ra một phần nguồn thu trước mắt, nhưng lại làm suy giảm khả năng hình thành nguồn thu bền vững trong tương lai.
Một doanh nghiệp không vượt qua được giai đoạn đầu sẽ khó có cơ hội trở thành đối tượng nộp thuế ổn định. Do đó, việc xác định ngưỡng miễn thuế trong khoảng 3 – 5 tỉ đồng/năm không đơn thuần là ưu đãi, mà là lựa chọn chính sách mang tính nuôi dưỡng và đầu tư cho phát triển.
Về tương quan chính sách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, ông Nam nhấn mạnh, cần tránh tư duy cào bằng, mà phải thiết kế khoảng chênh lệch hợp lý để tạo động lực chuyển đổi.
Cụ thể, nếu ngưỡng miễn thuế của hộ kinh doanh ở mức 3 tỉ đồng/năm thì ngưỡng đối với doanh nghiệp nhỏ cần tối thiểu khoảng 5 tỉ đồng/năm. Tương tự, nếu hộ kinh doanh ở mức 5 tỉ đồng/năm thì doanh nghiệp nhỏ cần ở mức khoảng 7 – 8 tỉ đồng/năm.
Nếu không tạo ra sự khác biệt đủ lớn về nghĩa vụ thuế và chi phí tuân thủ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ không có động lực chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Khi đó, mục tiêu đưa khu vực kinh doanh phi chính thức vào khu vực chính thức sẽ khó đạt được trong thực tiễn.
Về khía cạnh để ngưỡng miễn thuế của hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ bằng nhau, ông Được bày tỏ, không lo hộ kinh doanh ngại “lớn”.
Vị này đề xuất, bên cạnh chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu như hiện hành, để tạo động lực cho hộ kinh doanh tự nguyện chuyển đổi, cần có thêm chính sách nhóm doanh nghiệp có doanh thu từ 3 tỉ đồng/năm trở xuống đang tính thuế theo (doanh thu – chi phí) x thuế suất cũng được áp dụng trừ đi ngưỡng doanh thu miễn thuế trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Mở đầu phát biểu, ông Nguyễn Ngọc Thắng chỉ rõ: Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục biến động, tiêu dùng nội địa ngày càng trở thành trụ cột quan trọng cho tăng trưởng của Việt Nam. Khi xuất khẩu, đầu tư và thị trường quốc tế chịu nhiều tác động khó lường, thị trường gần 100 triệu dân chính là nền tảng chủ đạo để duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế.
Ông Thắng dẫn số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính): Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 ước đạt 646.300 tỉ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 4 tháng đầu năm, quy mô thị trường đạt khoảng hơn 2,5 triệu tỉ đồng, tăng 11,1%. Nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng đạt 6,3%.
"Đây là mức tăng trưởng tích cực trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn chịu nhiều sức ép từ lạm phát, chi phí logistics và biến động địa chính trị. Những con số này cho thấy tiêu dùng nội địa tiếp tục giữ vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế" - đại diện Saigon Co.op khẳng định.
Trong khi đó, Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa để phát triển bán lẻ nhờ quy mô dân số lớn, tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh, tốc độ đô thị hóa cao và xu hướng tiêu dùng hiện đại ngày càng rõ nét.
Thực tế, bán lẻ hàng hóa đang tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ đạo với doanh thu gần 1,94 triệu tỉ đồng, tương đương hơn 76% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều nhóm hàng thiết yếu ghi nhận mức tăng trưởng khả quan như xăng dầu tăng 17,4%, lương thực - thực phẩm tăng 11,6%, may mặc tăng gần 10%, vật phẩm văn hóa và giáo dục tăng hơn 9%.
Những tín hiệu này phản ánh sức mua của người dân đang từng bước phục hồi theo hướng tích cực và lan tỏa rộng hơn sang nhiều lĩnh vực tiêu dùng khác nhau.
"Khi sức mua nội địa được khơi dậy hiệu quả, tác động sẽ không chỉ dừng ở lĩnh vực bán lẻ mà còn lan tỏa mạnh tới sản xuất, logistics, nông nghiệp, du lịch và nhiều ngành liên quan khác. Do đó, cần phát huy vai trò của thị trường trong nước như một "bệ đỡ" then chốt cho tăng trưởng kinh tế bền vững" - ông Nguyễn Ngọc Thắng nói.
Từ góc nhìn của một doanh nghiệp bán lẻ phục vụ hàng chục triệu lượt khách mỗi năm, đại diện Saigon Co.op nhận thấy xuất hiện xu hướng hiện nay là người tiêu dùng không giảm mua hoàn toàn mà lựa chọn cẩn trọng hơn, ưu tiên giá trị thực và chất lượng, chi tiêu có chọn lọc. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết cho doanh nghiệp bán lẻ: Ngoài việc cung ứng hàng hóa, doanh nghiệp cần xây dựng và củng cố niềm tin tiêu dùng, khơi dậy động lực mua sắm và góp phần ổn định tâm lý thị trường.
"Để kích cầu tiêu dùng hiệu quả và bền vững, yếu tố then chốt là khơi thông niềm tin của người tiêu dùng. Người dân giờ họ khác xưa nhiều, phải tin thì mới mua. Họ sẵn sàng chi tiêu khi cảm thấy giá cả hợp lý, hàng hóa đảm bảo chất lượng, nguồn gốc xuất xứ minh bạch, có nhiều chương trình ưu đãi thiết thực và đặc biệt là an tâm khi mua sắm. Vì vậy, doanh nghiệp bán lẻ không chỉ dừng ở vai trò cung ứng hàng hóa mà còn phải xây dựng niềm tin, duy trì ổn định thị trường và khơi dậy động lực mua sắm" - ông Nguyễn Ngọc Thắng nhận định.
Để khơi thông sức mua nội địa, ông Nguyễn Ngọc Thắng cho rằng cần kết hợp: Củng cố niềm tin tiêu dùng, phát triển hàng Việt chất lượng, tổ chức các chương trình kích cầu thiết thực, ứng dụng chuyển đổi số để cá nhân hóa và đẩy mạnh tiêu dùng xanh. Đồng thời, hệ thống bán lẻ hiện đại cần làm cầu nối hiệu quả giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa địa phương và thị trường, nhằm kích hoạt toàn diện chuỗi cung ứng và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững.
Trong mối liên kết này, đại diện Saigon Co.op đề xuất phía nhà nước duy trì chính sách kích cầu thiết thực, tiếp tục áp dụng các công cụ đã cho hiệu quả như giảm thuế VAT có mục tiêu, các tháng khuyến mãi tập trung, chương trình kết nối cung - cầu và xúc tiến thương mại nội địa, điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thị trường. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã cải tiến chất lượng, đạt tiêu chuẩn xanh, thực hiện truy xuất nguồn gốc và nâng cấp bao bì để đáp ứng xu hướng tiêu dùng hiện đại.
Mối liên kết địa phương - sản xuất - phân phối cũng cần tăng cường để rút ngắn kênh phân phối, giảm chi phí trung gian và mở rộng đầu ra cho nông sản, giúp người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm chất lượng với giá hợp lý.
Cùng với đó, đẩy mạnh chuyển đổi số trong bán lẻ; kích hoạt "cảm xúc" trong tiêu dùng nội địa: Không chỉ bán sản phẩm, doanh nghiệp cần tạo ra trải nghiệm và giá trị tinh thần cho người tiêu dùng thông qua các chiến dịch gắn với gia đình, văn hóa Việt, lòng tự hào hàng Việt và lối sống tích cực. Khi người dân "muốn mua" chứ không chỉ "cần mua", sức tiêu dùng sẽ được thúc đẩy bền vững hơn.
Đặc biệt, phía doanh nghiệp bán lẻ mong muốn xây dựng hệ sinh thái tiêu dùng Việt theo mô hình "mỗi đồng chi tiêu - nhiều giá trị cộng hưởng": Kết nối bán lẻ với du lịch, ẩm thực, giải trí, tài chính số và dịch vụ cộng đồng để mỗi hành vi mua sắm không chỉ phục vụ nhu cầu cá nhân mà tạo thêm lợi ích cho doanh nghiệp Việt, nông dân Việt và nền kinh tế trong nước.
Ngoài ra, tạo các "mùa tiêu dùng quốc gia" mang dấu ấn Việt Nam: Hình thành những chiến dịch tiêu dùng quy mô lớn gắn với ngày hội hàng Việt, lễ hội vùng miền, văn hóa ẩm thực hoặc các cột mốc quốc gia để kích thích nhu cầu mua sắm theo mùa, tương tự các lễ hội mua sắm quốc tế...
Dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định đóng tài khoản thanh toán (TKTT) khi không phát sinh giao dịch từ 3 năm trở lên (tính từ thời điểm phát sinh giao dịch cuối cùng của chủ tài khoản thanh toán), trừ trường hợp có thỏa thuận trước với chủ TKTT về việc đóng tài khoản thanh toán. Theo ban soạn thảo, đề xuất này nhằm xử lý các trường hợp TKTT "rác", tài khoản không hoạt động trong thời gian dài.
Thực tế phát sinh các trường hợp tài khoản thanh toán "rác", "không hoạt động" trong thời gian dài, đòi hỏi phải có hành lang pháp lý để xử lý. TKTT hợp pháp nhưng khách hàng bỏ quên, không phát sinh giao dịch trong thời gian dài hoặc không còn nhu cầu sử dụng (tài khoản ngủ đông). TKTT nặc danh, mạo danh do các đối tượng tội phạm sử dụng giấy tờ cũ của khách hàng để mở TKTT hoặc sử dụng giấy tờ giả để mở TKTT.
Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài khoản "rác", tài khoản "không hoạt động" trong thời gian dài và xử lý số dư được quy định tại Nghị định 52/2024, Thông tư 17/2024 theo hướng ngân hàng được thỏa thuận với khách hàng. Tuy nhiên, đối với trường hợp không thỏa thuận được với chủ TKTT (TKTT mở trước thời điểm Nghị định 52/2024 và Thông tư 17/2024 có hiệu lực) thì chưa có cơ chế để xử lý. Trên cơ sở ý kiến của các ngân hàng và tham khảo kinh nghiệm của một số nước, tại dự thảo Nghị định bổ sung quy định này, nhằm bổ sung cơ chế cho phép TCTD đóng các TKTT không hoạt động trong thời gian dài mà chưa có thỏa thuận trước với khách hàng, góp phần hạn chế rủi ro gian lận, lừa đảo qua các TKTT này. Kinh nghiệm quốc tế, các nước thường giao quyền cho các ngân hàng thỏa thuận với khách hàng về việc xử lý TKTT trong trường hợp không phát sinh giao dịch trong thời gian dài đối với các trường hợp TKTT "ngủ đông" hay các tài khoản hợp pháp nhưng không có giao dịch do khách hàng chủ động thực hiện trong một thời gian dài.
Mỹ quy định TKTT không hoạt động từ 3-5 năm, số dư tài khoản được chuyển giao cho Chính quyền tiểu bang quản lý và lưu giữ như tài sản vô chủ. Khách hàng có thể yêu cầu lấy lại số tiền thông qua cơ quan quản lý tài sản vô chủ của tiểu bang. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) quy định tài khoản từ 3 năm không phát sinh giao dịch chủ động hay liên lạc từ khách hàng, bị đưa vào danh sách "tài khoản ngủ đông" và được quản lý, theo dõi riêng trong "Sổ cái tài khoản ngủ đông". Sau 5 năm "ngủ đông", ngân hàng sẽ xem xét đóng tài khoản. Toàn bộ số dư chưa có người nhận sẽ được chuyển về Ngân hàng Trung ương UAE. Khách hàng làm thủ tục chứng minh danh tính để nhận lại tiền.
Do vậy, dự thảo đưa ra quy định ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo dõi số dư còn lại sau khi đóng tài khoản thanh toán để trả lại cho người thụ hưởng hợp pháp khi người thụ hưởng hợp pháp có yêu cầu hoặc xử lý theo quy định của pháp luật
Tại buổi tọa đàm "The Japanese Way of Living and The Art of Caring at Nobu", các chuyên gia đã cùng giải mã "mật mã" tạo nên sức hút mãnh liệt của đế chế Nobu trên bản đồ phong cách sống toàn cầu. TS. Vũ Kỳ - Chuyên gia văn hóa và Lịch sử Nhật Bản cho biết: "Kokoro là kim chỉ nam trong cách người Nhật sống và làm việc. Vì vậy, trong dịch vụ, họ không chỉ "phục vụ", mà trao đi sự tận tâm - một cách tự nhiên, chân thành và xuất phát từ chính nội tâm."
Tại Nobu, Kokoro chưa bao giờ là một khẩu hiệu xa vời, mà chính là dòng chảy DNA xuyên suốt hệ thống có mặt ở toàn cầu. Đó là một sự tỉ mỉ thầm lặng, nơi người đầu bếp có thể ghi nhớ vẹn nguyên khẩu vị riêng biệt của một vị khách dù họ chỉ mới ghé thăm một lần từ nhiều tháng trước, biến những tương tác vô hình thành mối gắn kết hữu hình đầy xúc cảm.
Hay tại các khách sạn Nobu, sự nhất quán trong dịch vụ không chỉ nằm ở trải nghiệm cảm xúc của khách hàng mà còn ở việc luôn chú tâm vào tạo nên ký ức đặc biệt - từ đó xây dựng sự gắn kết lâu dài với khách hàng và khiến họ quay trở lại.
Ông Morgan Ulaganathan - Chuyên gia BĐS Hospitality chia sẻ: "Trong khi nhiều thương hiệu khách sạn xây dựng sự sang trọng dựa trên các chuẩn mực dịch vụ, Nobu lại chọn một hướng đi khác - không có khuôn mẫu cố định. Sự nhất quán của Nobu nằm ở cảm xúc mà khách hàng nhận được, ở bất cứ đâu trên thế giới - điều mà rất ít nơi có thể làm được."
Không bắt đầu từ không gian lưu trú, Nobu lựa chọn khởi nguồn hành trình trải nghiệm bằng ẩm thực. Nobu chọn kiến tạo sự gắn kết ngay trên bàn ăn - nơi vị giác trở thành "ngôn ngữ" đầu tiên dẫn lối thẳng đến trái tim.
Mê đắm mỹ vị tại các nhà hàng Nobu, những vị khách tinh hoa bắt đầu tìm kiếm cảm giác gắn kết với Nobu không chỉ trong 2 giờ đồng hồ của một bữa ăn. Mong muốn của những người hâm mộ nhiệt thành thôi thúc thương hiệu chuyển mình. Đến năm 2013, Nobu Hospitality đặt dấu ấn đầu tiên với Nobu Hotel Caesars Palace ở Las Vegas, chính thức đưa tinh thần của Nobu vào không gian lưu trú xa xỉ. Giờ đây, Nobu là một hiện tượng toàn cầu với hệ sinh thái 81 nhà hàng, 44 khách sạn và 16 tòa căn hộ khắp các châu lục cùng hơn 4 triệu "Nobu Enthusiasts - Tín đồ Nobu" bao gồm các siêu sao, chính khách và tỉ phú.
Ngày nay, thương hiệu Nobu được nhắc đến như một hành trình kết tinh hoàn hảo giữa mọi giác quan. Hành trình ấy khởi đầu từ những đặc quyền thưởng thức thực đơn trứ danh tại nhà hàng Nobu, nơi những món ăn là một biểu tượng sáng tạo trong ẩm thực. Sự thỏa mãn về vị giác ấy nhanh chóng được tiếp nối bởi sự thăng hoa của thị giác, khi cư dân được đắm chìm trong những đường nét kiến trúc tinh tế dưới bàn tay tài hoa của những kiến trúc sư ngôi sao. Không dừng lại ở đó, tâm hồn mỗi chủ nhân còn được vỗ về bởi những bản giao hưởng êm dịu của không gian sống "Quiet Luxury" đúng nghĩa.
Để dấu ấn cá nhân thêm phần sâu đậm, mỗi bước chân tại đây đều được dẫn dắt bởi mùi hương độc quyền của thương hiệu, tạo nên một định danh không gian riêng biệt và đầy tinh tế. Và cuối cùng, mọi trải nghiệm được kết tinh trọn vẹn ở cảm xúc thăng hoa thông qua những dịch vụ tận tâm theo triết lý Kokoro.
Tại Nobu Danang Residences, việc sở hữu một căn hộ không dừng lại ở một giao dịch bất động sản đơn thuần, mà được xem như "tấm vé đặc quyền" để bước chân vào cộng đồng thượng khách Nobu toàn cầu.
Ông Forest Lâm - Giám đốc Kinh doanh VCRE - nhấn mạnh rằng, Nobu Danang không xây dựng dựa trên tiêu chí hào nhoáng và phô trương, mà hướng đến những cá nhân trân trọng giá trị chiều sâu và sự tinh tế kín đáo. Đó là những doanh nhân thành đạt, các nhà hoạt động sáng tạo hay những trí thức tinh hoa - những người tìm thấy sự đồng điệu trong một môi trường sống phản chiếu đúng tư duy và hệ giá trị nhân văn của chính mình.
Sự gắn kết này được minh chứng qua một hành trình trải nghiệm khép kín: từ thượng khách trở thành người bạn thân thiết của thương hiệu, sau đó lựa chọn lưu trú tại hệ thống khách sạn Nobu và cuối cùng là khát khao sở hữu một không gian sống vĩnh cửu trong hệ sinh thái này để tận hưởng những đặc quyền cá nhân hóa cao nhất.
Tại Nobu Danang, mỗi khoảnh khắc trôi qua đều được chăm chút bằng tất cả sự chân thành, để ngôi nhà không chỉ là nơi trở về, mà là nơi mỗi cá nhân tìm thấy sự kết nối sâu sắc nhất với chính mình và cộng đồng cùng đẳng cấp trên toàn cầu.