Theo PhoneArena, điểm mấu chốt ở công nghệ pin mới chính là không có cực dương. Mặc dù công nghệ này vẫn đang trong giai đoạn nguyên mẫu và chưa thể sản xuất hàng loạt, tuy nhiên nó hứa hẹn mang lại nhiều tiềm năng cho smartphone tương lai.
Vậy công nghệ pin không có cực dương là gì? Liệu chúng có thể xuất hiện trong smartphone ra mắt trong tương lai hay không?
Trước khi đi sâu vào công nghệ pin mới, chúng ta cần hiểu rõ pin là thiết bị lưu trữ năng lượng thông qua quá trình điện hóa, bao gồm ba thành phần chính: cực dương, cực âm và chất điện giải. Khi sạc, nguồn điện di chuyển các hạt mang điện từ cực âm qua chất điện giải đến cực dương, nơi năng lượng được lưu trữ. Khi sử dụng, các hạt này di chuyển ngược lại để cung cấp năng lượng cho thiết bị.
Đối với công nghệ pin không có cực dương, đây là công nghệ được phát triển bởi tập đoàn ô tô Volkswagen, sử dụng một bộ thu dòng điện thay vì cực dương truyền thống. Lá kim loại mỏng này hoạt động như cực dương trong quá trình sạc và “biến mất” khi xả.
Còn được gọi là pin “anode tạm thời”, công nghệ pin này mang đến nhiều ưu điểm. Đầu tiên, dung lượng pin được tăng cường cho phép tích lũy nhiều hạt mang điện hơn, với mật độ năng lượng đạt khoảng 1.270 Wh/L, gần gấp đôi so với pin lithium-ion hiện tại. Thứ hai, quy trình sản xuất đơn giản hơn giúp giảm chi phí và làm cho pin nhẹ hơn.
Tuy nhiên, công nghệ pin này vẫn gặp phải một số thách thức. Quá trình tạo ra và phân hủy cực dương không hiệu quả dẫn đến cặn lithium tích tụ trên bộ thu dòng điện và làm giảm dung lượng hiệu dụng và có thể gây hư hại cho pin.
Theo các chuyên gia, công nghệ pin không có cực dương hiện vẫn còn ở giai đoạn sơ khai và có thể mất ít nhất 5 năm nữa mới có thể sản xuất hàng loạt. Trong thời gian chờ đợi công nghệ pin mới xuất hiện, nhiều giải pháp thay thế cho pin lithium-ion đang được nghiên cứu nhằm hướng đến tương lai smartphone có thể hoạt động cả tuần mới phải sạc lại.
Tin Gốc: Thanh Niên

"Việt Nam không nên cố xây thêm một mô hình AI nền tảng khổng lồ giống các tập đoàn lớn. Thay vào đó, nên tận dụng những gì Google, Meta hay OpenAI đã xây dựng, rồi phát triển ứng dụng phù hợp riêng với Việt Nam", ông Curtis S. Chin, Giám đốc phụ trách thị trường toàn cầu của Viện Milken (Mỹ), nói tại sự kiện GStar 2026, diễn ra tại TP HCM ngày 29/5.
Ông Jay Kim, Chủ tịch kiêm CEO hãng dược Boryung, kiêm thành viên hội đồng quản trị công ty chăm sóc sức khỏe và vũ trụ Axiom Space, đồng tình và cho rằng vấn đề không chỉ đúng với AI mà còn với mọi ngành công nghệ mới. Lấy công nghiệp vũ trụ làm ví dụ, ông nói trước đây nhiều quốc gia châu Á, gồm cả Hàn Quốc quê hương ông, cố gắng theo đuổi chiến lược "đi sau để bắt kịp" Mỹ, châu Âu hay Nhật Bản.
"Nhưng với công nghệ mới hiện nay, các nước cần chọn con đường riêng có ý nghĩa cho nhân loại, thay vì chỉ cố bắt kịp người khác", ông Kim nói. "Việt Nam không nên đi theo chiến lược 'fast-follower', mà nên theo đuổi những hướng đi thật sự có giá trị cho thế giới".
Chiến lược fast-follower (bắt chước nhanh) là thuật ngữ chỉ doanh nghiệp không đi tiên phong tạo ra thị trường, mà chờ đối thủ đi đầu (first-mover) thử nghiệm trước, sau đó nhanh chóng tiếp cận, cải tiến sản phẩm và dùng lợi thế quy mô để chiếm lĩnh thị trường.
TS Bùi Hải Hưng, Phó chủ tịch phụ trách công nghệ Qualcomm AI Research, cựu CEO VinAI và từng làm tại Google DeepMind, lấy công việc tại công ty ông làm ví dụ. Ông cho biết, khi chưa được Qualcomm mua lại, VinAI chú trọng nhiều đến mô hình AI mạnh như GAN-VAE (kết hợp khả năng tạo ra dữ liệu siêu chân thực của công nghệ GAN với hiểu biết cấu trúc dữ liệu của VAE nhằm tạo ra hình ảnh, âm thanh hoặc dữ liệu mới chất lượng cao và có kiểm soát), thậm chí công bố nghiên cứu đều đặn tại các hội nghị AI lớn.
"Nhưng rất nhanh, chúng tôi nhận ra Việt Nam không thể cạnh tranh trực tiếp với các tổ chức sở hữu lượng GPU khổng lồ. Vì thế, chúng tôi chuyển sang tập trung vào bài toán giới hạn tài nguyên, giải pháp chạy trên GPU nhỏ hoặc thậm chí điện thoại", ông nói. "Chúng tôi tối ưu mô hình nhỏ hơn nhưng vẫn giữ được phần lớn năng lực, đồng thời nhận ra điều này rất quan trọng vì nhiều tác vụ AI xử lý dữ liệu riêng tư, nên tốt nhất thực hiện ngay trên thiết bị. AI trên thiết bị vừa tiết kiệm tài nguyên, vừa bảo vệ riêng tư và giảm độ trễ".
Sau khi về Qualcomm AI Research, ông cho biết mục tiêu đó vẫn không thay đổi, với các ứng dụng tiềm năng vô cùng lớn, như hệ thống cần độ trễ thấp, thiết bị đeo thông minh, robot, kính thông minh...
Yi Tay, nhà nghiên cứu cấp cao của Google DeepMind, đánh giá AI đang bước vào giai đoạn mới sau nhiều năm chỉ tập trung mở rộng mô hình. Theo ông, cộng đồng nghiên cứu từng tin chỉ cần tăng kích thước mô hình, lượng dữ liệu và năng lực tính toán thì trí thông minh sẽ tiếp tục tăng lên, nhưng tác nhân AI (AI agent) cho thấy điều đó chưa đủ. Ông cho rằng thay vì xây dựng các mô hình từ đầu, doanh nghiệp có thể tận dụng mã nguồn mở và tinh chỉnh cho tác vụ riêng, hoặc xây dựng các lớp kết nối nhiều thành phần AI khác nhau. "Tác động lớn hơn sẽ đến từ khả năng ứng dụng AI vào bài toán thực tế", ông nói.
Trong khi đó, theo TS Lương Minh Thắng, Giám đốc nghiên cứu Google DeepMind kiêm nhà đồng sáng lập tổ chức phi lợi nhuận về phát triển AI New Turing Institute (NTI), thế giới đang chuyển từ "kỷ nguyên dữ liệu" sang "kỷ nguyên trải nghiệm", do đó doanh nghiệp Việt nên hướng đến trải nghiệm người dùng hơn là tập trung cho vấn đề khác. "Bước tiếp theo là xây dựng môi trường mô phỏng để AI tích lũy trải nghiệm, chẳng hạn mô phỏng thế giới thực để AI điều hướng ngoài đời, hay mô phỏng tế bào ảo để thử nghiệm thuốc", ông nói.
Đồng quan điểm, bà Wendy Nguyễn, nhà đồng sáng lập Pacific Gateway Partners, cho rằng Việt Nam có ưu thế lớn về con người và đây mới là yếu tố cần được chú trọng nhiều nhất trong kỷ nguyên AI thay vì tập trung cho công nghệ. "Người Việt có sự bền bỉ, khát vọng và không dễ bỏ cuộc. Đó là tài sản quý cần được giữ gìn", bà nói.
Bà kể trong chuyến đi này, một lãnh đạo cấp cao đã nói rằng ở nhiều nơi, khi mọi người giàu lên hoặc có cuộc sống tốt hơn, họ sẽ giảm phấn đấu. Tuy nhiên, cuộc sống của người Việt cũng đang ngày một tốt hơn nhưng vẫn giữ tinh thần muốn vươn lên. "Chính tinh thần ấy mới là động lực quan trọng nhất giúp Việt Nam tiến lên ở bất cứ lĩnh vực nào", bà nói.
Dù vậy, bà cảm thấy môi trường startup AI toàn cầu hiện phát triển thiếu lành mạnh. Trước đây, các nhà sáng lập rất vất vả để gọi vốn, còn bây giờ chỉ cần một ý tưởng và cái tên là có thể huy động hàng tỷ USD. Theo bà, nhà đầu tư tại Việt Nam nói riêng cần thận trọng hơn và nhìn lại xem hệ sinh thái AI có đang phát triển "quá nóng" hay không.
Còn theo TS Ed H. Chi, Phó chủ tịch nghiên cứu Google DeepMind, để phát triển con người, Việt Nam cần xây dựng kỹ năng ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, đặc biệt kỹ năng ra lệnh cho AI.
"Kỹ năng quan trọng nhất trong tương lai có thể không phải là trả lời câu hỏi, mà là biết đặt câu hỏi", ông nói. "Các mô hình rất giỏi trả lời, nhưng kém trong việc đặt câu hỏi hay. Trong tương lai, khả năng đặt đúng câu hỏi sẽ trở thành kỹ năng cực kỳ quan trọng".
Theo ông, điều này đúng không chỉ trong giáo dục mà cả kinh doanh, khi giá trị lớn nhất nằm ở việc tìm đúng câu hỏi cần giải quyết. "Chúng ta đang xây dựng 'động cơ trí tuệ'. Giờ là lúc nghĩ xem sẽ dùng động cơ đó như thế nào để phục vụ nhân loại, đặc biệt trong giáo dục và chuẩn bị cho thế hệ tiếp theo sống cùng AI", ông nói thêm.
Diễn đàn GStar 2026 là sự tiếp nối loạt sự kiện AI thường niên được NTI, tiền thân là VietAI, tổ chức từ năm 2018 với mục tiêu kết nối cộng đồng AI Việt với chuyên gia toàn cầu. Các sự kiện trước đó có sự xuất hiện của một số chuyên gia và người nổi tiếng về trí tuệ nhân tạo, như CEO OpenAI Sam Altman và Giám đốc phòng thí nghiệm AI của Đại học Stanford Christopher Manning tại AI Day 2023, hay nhà khoa học trưởng của Google Jeff Dean tại GenAI 2024.
Tin Gốc: Vnexpress
Khoa Học Công Nghệ
'Việt Nam đang chuyển từ gia công phần mềm sang tạo ra công nghệ'

Khi công bố trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Hà Nội năm ngoái, Qualcomm chủ yếu nhắc đến AI. Nhưng sau một năm, kế hoạch hiện mở rộng sang bán dẫn, IoT và điện toán biên. Chia sẻ với VnExpress, ông Thiều Phương Nam, Tổng giám đốc Qualcomm Việt Nam, Lào và Campuchia, cho rằng Việt Nam không còn chỉ là thị trường tiêu thụ công nghệ hay nơi gia công phần mềm, mà dần tham gia sâu hơn vào cuộc chơi công nghệ.
- Qualcomm từng nói trung tâm R&D tại Việt Nam sẽ tập trung vào AI, điều gì thúc đẩy hãng mở rộng kế hoạch sang nhiều lĩnh vực khác?
- Từ lần công bố gần nhất năm ngoái, chúng tôi nhanh chóng nhận ra cơ hội phát triển tại Việt Nam không chỉ nằm ở AI. Việt Nam còn có tiềm năng lớn trong các lĩnh vực như bán dẫn, phần mềm, kết nối và kỹ thuật hệ thống - những lĩnh vực ngày càng gắn chặt với AI.
Tốc độ phát triển của hệ sinh thái công nghệ Việt Nam cũng vượt xa kỳ vọng ban đầu. Chúng tôi nhìn thấy nhiều yếu tố tích cực ở Việt Nam như chất lượng nguồn nhân lực, sự trưởng thành của hệ sinh thái công nghệ cũng như mong muốn của Việt Nam trong việc tham gia sâu vào phát triển các công nghệ tiên tiến.
Một điểm khác là khả năng thích ứng của kỹ sư Việt Nam. Vì vậy, trung tâm R&D của Qualcomm tại Hà Nội không chỉ tập trung vào AI, mà còn mở rộng sang bán dẫn, công nghệ ôtô, Internet vạn vật (IoT) và điện toán biên.
- Kỹ sư Việt Nam có những phẩn chất gì khiến Qualcomm tự tin giao thêm mảng nghiên cứu?
- Điều khiến chúng tôi ấn tượng nhất là khả năng thích ứng và tinh thần học hỏi của kỹ sư Việt. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi rất nhanh, khả năng cập nhật kiến thức liên tục và làm việc linh hoạt giữa nhiều lĩnh vực quan trọng không kém nền tảng chuyên môn kỹ thuật.
Chúng tôi chứng kiến nhiều kỹ sư Việt Nam hòa nhập nhanh với môi trường R&D toàn cầu, tham gia vào các dự án ngày càng phức tạp liên quan đến AI, phần mềm, bán dẫn và kỹ thuật hệ thống. Một điểm mạnh của kỹ sư Việt là nền tảng toán học và kỹ thuật tốt, giúp họ nhanh chóng thích ứng và làm chủ các công nghệ phức tạp.
- Ông đánh giá khoảng cách và sự khác biệt giữa Việt Nam và các trung tâm công nghệ hàng đầu thế giới ra sao?
- Việt Nam đang dần khẳng định vị thế là một trung tâm công nghệ và đổi mới sáng tạo ở khu vực Đông Nam Á. Điều chúng tôi nhìn thấy không chỉ là tiềm năng của hệ sinh thái, mà còn là chất lượng kỹ sư, năng lực phát triển phần mềm và khả năng tham gia sâu vào các hoạt động thiết kế kỹ thuật.
Việt Nam cũng có nhiều ưu tiên phát triển trùng với xu hướng công nghệ thế giới như AI, bán dẫn, kết nối tiên tiến và hạ tầng số. Tuy nhiên, để tiến xa hơn, Việt Nam cần nâng cao năng lực R&D, phát triển công nghệ lõi và tạo ra tài sản trí tuệ. Với tốc độ hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích chiến lược trong hệ sinh thái công nghệ.
- Đâu là mảng công nghệ Việt Nam có thể tạo ra sức ảnh hưởng tầm thế giới?
- Lĩnh vực chúng tôi đặc biệt tin tưởng ở Việt Nam là điện toán biên (edge computing), nơi AI được xử lý trực tiếp trên thiết bị và hệ thống, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào điện toán đám mây. Đây là xu hướng thiết yếu với smartphone, ôtô, IoT công nghiệp, robot và hạ tầng số.
Bán dẫn và kết nối tiên tiến đang phát triển rất nhanh. Đây là những công nghệ nền tảng cho các hệ thống thông minh thế hệ mới. Khi AI ngày càng tích hợp sâu vào sản phẩm và hạ tầng, khả năng tối ưu đồng thời phần cứng, phần mềm và kết nối sẽ trở nên đặc biệt quan trọng.
Trong tương lai, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành mắt xích chiến lược trong hệ sinh thái điện toán thông minh, đặc biệt ở các lĩnh vực liên quan đến AI, bán dẫn và công nghệ kết nối.
- Việt Nam lâu nay được biết đến với vai trò gia công phần mềm, việc chuyển sang làm công nghệ lõi liệu có khả thi?
- Tôi tin mọi hệ sinh thái công nghệ đều trải qua quá trình phát triển như vậy. Trên thực tế, rất ít quốc gia có thể sáng tạo ra công nghệ lõi ngay từ đầu.
Điều khiến chúng tôi tin tưởng vào Việt Nam là chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật và tốc độ phát triển nhanh của hệ sinh thái công nghệ. Chúng tôi đã thấy các kỹ sư Việt Nam tham gia trực tiếp vào những dự án tiên tiến về AI, bán dẫn, thiết kế vi mạch và kỹ thuật hệ thống.
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện có nhiều doanh nghiệp công nghệ đủ tiềm lực và tham vọng để phát triển các công nghệ có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Quan hệ hợp tác của chúng tôi với Viettel, VNPT và VinFast cho thấy doanh nghiệp Việt ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ.
Tuy nhiên, để phát triển công nghệ lõi cần sự kết nối chặt chẽ giữa trường học, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và hệ sinh thái công nghệ thực tế. Đó là lý do chúng tôi đang hợp tác với các trường đại học Việt Nam, tham gia vào việc kết nối các kỹ sư với đội ngũ R&D.
- Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ 10 công nghệ chiến lược. Theo ông cần làm gì để hiện thực hóa mục tiêu này?
- Đây là định hướng phù hợp với xu hướng công nghệ cũng như thế mạnh hiện nay của Việt Nam, trong bối cảnh các lĩnh vực như AI, 6G, bán dẫn và Open RAN đang ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Việt Nam hiện có nhiều doanh nghiệp công nghệ và đội ngũ kỹ sư giỏi. Minh chứng là trong dự án hợp tác giữa Qualcomm và Viettel về 5G Open RAN, họ là một trong những đối tác đầu tiên trên thế giới thương mại hóa và triển khai giải pháp ở quy mô lớn. Tương tự, VNPT cũng là một trong những đối tác đầu tiên đưa các sản phẩm tích hợp Wi-Fi 7 ra thị trường. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt có năng lực làm chủ và vận hành các công nghệ tiên tiến ở cấp độ cao.
Công nghệ là cuộc chơi toàn cầu. Vì vậy chỉ thành công trong nước chưa đủ. Các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam cần xây dựng tư duy mở và kết nối sâu hơn với các hệ sinh thái công nghệ quốc tế.
- Trong 5-10 năm tới, ông hình dung trung tâm R&D của Qualcomm tại Việt Nam đóng vai trò thế nào trong mạng lưới của tập đoàn?
- Chúng tôi kỳ vọng trung tâm R&D tại Việt Nam sẽ kết nối sâu hơn vào mạng lưới của Qualcomm. Mục tiêu không chỉ mở rộng quy mô nhân sự, mà còn xây dựng năng lực kỹ thuật đạt chuẩn thế giới ngay tại đây, đóng góp trực tiếp vào các thế hệ công nghệ tiếp theo.
Mỗi trung tâm kỹ thuật đều đóng góp những góc nhìn và bài toán thực tế khác nhau để định hình cách công nghệ phát triển và triển khai. Chúng tôi tin Việt Nam có thể đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình đó, đặc biệt ở các lĩnh vực như điện toán biên, AI trên thiết bị (on-device AI) và hệ thống kết nối.
Tôi mong sẽ nhìn thấy Việt Nam không chỉ trở thành thị trường công nghệ tiềm năng, mà còn là nơi tạo ra công nghệ và sở hữu năng lực kỹ thuật có ảnh hưởng toàn cầu.
Tin Gốc: Vnexpress

Sứ mệnh Artemis II hiện bước sang ngày thứ ba trên vũ trụ. Bốn phi hành gia gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA) đang tích cực thực hiện một loạt nhiệm vụ được giao. Trong thời gian 10 ngày trên quỹ đạo, họ cũng ăn uống theo cách riêng.
Theo NASA, thực phẩm trên tàu Artemis II dựa trên tiêu chí hỗ trợ sức khỏe và hiệu suất làm việc tối đa của phi hành đoàn trong suốt sứ mệnh bay quanh Mặt Trăng. Do không có khả năng tiếp tế, làm lạnh hoặc nạp đồ muộn, tất cả bữa ăn phải được lựa chọn cẩn thận để đảm bảo an toàn, bảo quản được lâu và dễ chế biến.
"Việc lựa chọn đồ ăn được phát triển, phối hợp với các chuyên gia về thực phẩm vũ trụ và phi hành đoàn để cân bằng nhu cầu calo, lượng nước và chất dinh dưỡng, đồng thời đáp ứng sở thích cá nhân của từng thành viên phi hành đoàn, cũng như khả năng tương thích với khối lượng, thể tích và yêu cầu năng lượng của tàu Orion", NASA giải thích trên website.
Cũng theo NASA, thực phẩm trên tàu Orion và các tàu vũ trụ có người lái nói chung phải dễ chế biến và tiêu thụ trong môi trường không trọng lực, hạn chế tối đa vụn thức ăn, đồng thời phải đảm bảo an toàn và ổn định trong suốt sứ mệnh. Phi hành đoàn đã đóng góp ý kiến từ rất sớm trước khi các bữa ăn được đóng gói cho chuyến bay thử nghiệm.
Với một ngày làm nhiệm vụ điển hình, ngoại trừ lúc phóng và quay trở lại Trái Đất, các phi hành gia có lịch trình ăn sáng, ăn trưa và ăn tối cùng nhau. Mỗi phi hành gia được phân bổ hai loại đồ uống có hương vị mỗi ngày, có thể gồm cà phê. Thực phẩm tươi sống sẽ không được vận chuyển trên tàu Artemis II vì tàu Orion không có hệ thống làm lạnh hay rã đông.
Các sứ mệnh Apollo trước đây dựa trên công nghệ thực phẩm sơ khai với ít sự đa dạng, trong khi các sứ mệnh tàu con thoi mở rộng hơn. Tuy nhiên, thực đơn của Artemis II đa dạng nhất từ trước đến nay, phản ánh sự tiến bộ qua nhiều thập kỷ trong hệ thống thực phẩm vũ trụ.
Phi hành đoàn Artemis II có quyền trực tiếp tham gia vào việc lựa chọn thực đơn. Trước khi phóng, các thành viên sẽ dùng thử, đánh giá và xếp hạng tất cả các món ăn. Lượng thức ăn sẽ đóng gói đủ dùng cho một người trong 2-3 ngày, sau đó đổi món, tạo sự linh hoạt trong việc lựa chọn bữa ăn trong suốt nhiệm vụ. Do là đồ chế biến sẵn, phi hành đoàn sử dụng thiết bị nhỏ gọn dạng vali để làm nóng bữa ăn.
Artemis II đánh dấu sứ mệnh có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn có 10 ngày bay quanh Mặt Trăng, thực hiện các thí nghiệm nghiên cứu khoa học, thử nghiệm khả năng điều khiển tàu vũ trụ, kiểm tra y tế, huấn luyện sinh tồn và nhiều công việc khác.
Bảo Lâm (theo NASA)
Ảnh cận cảnh Mặt Trăng đầu tiên chụp từ Artemis II
Tranh luận về ảnh chụp Trái Đất cách đây 54 năm 'sáng đẹp' hơn 2026
Toàn cảnh Trái Đất nhìn từ Artemis II
Phi hành đoàn Artemis II vượt mốc 'nửa đường tới Mặt Trăng'
Nguồn: https://vnexpress.net/phi-hanh-gia-artemis-ii-an-gi-tren-tau-vu-tru-5058711.html

