Ngày 15.4 tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, một bé trai chào đời với cân nặng 2,4 kg bằng phương pháp sinh mổ khi thai nhi được 38 tuần tuổi. Trước đó 13 tuần, chị gái song sinh của bé trai này đã chào đời non tháng khi được 25 tuần tuổi, với cân nặng 650 gr.
32 tuổi, ở Bắc Ninh, mang thai nhờ IVF, nhập viện tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội khi song thai được 20 tuần tuổi do nguy cơ sinh non, cổ tử cung bắt đầu mở 2 – 3 cm, một thai sa thấp. Khi thai được 25 tuần tuổi, sản phụ chuyển dạ sinh thường bé gái đầu lòng. Do là trường hợp sinh cực non, bé gái được hồi sức sơ sinh và chuyển đến chăm sóc đặc biệt tại Bệnh viện Nhi T.Ư.
Thai nhi thứ hai của song thai này tiếp tục được bác sĩ của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội giữ lại trong bụng mẹ với sự hỗ trợ sát sao về y tế. Trong 13 tuần “nuôi dưỡng” thai nhi trong bụng mẹ, các bác sĩ đã phối hợp rất chặt chẽ các chuyên khoa: sản, nhi, gây mê – chống nhiễm khuẩn; theo dõi chặt chẽ diễn biến sức khỏe sản phụ, các chỉ số bạch cầu, thân nhiệt để có các chỉ định phù hợp, đảm bảo an toàn cho mẹ và thai. Quá trình điều trị, chăm sóc, các bác sĩ phải khống chế nhiễm trùng, giảm cơn co ở người mẹ, chống phù não thai nhi…
TS Mai Trọng Hưng, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, chia sẻ: Thai nhi được phát triển trong bụng mẹ có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển, hoàn thiện của thai nhi và sức khỏe của em bé sau khi chào đời, đặc biệt cần thiết cho sự phát triển của phổi, tim mạch.
Để giữ lại được thai nhi trong bụng mẹ suốt 13 tuần là thử thách rất lớn về chuyên môn, trước thực tế người mẹ vẫn có nguy cơ sinh non do cơn co “đẩy” thai; thai có nguy cơ nhiễm trùng rất cao, đồng thời cũng lo ngại về sự phát triển thai nhi do được giữ lại trong điều kiện không hoàn toàn bình thường, vì mẹ đã vỡ ối sinh non bé gái trước đó.
Bé trai nêu trên – trường hợp có nguy cơ sinh cực non (khi 25 tuần tuổi) được kéo dài đến khi trưởng thành về tuổi thai, về sự phát triển, và chào đời khi được 38 tuần tuổi – là ca đầu tiên tại VN. Sức khỏe của mẹ và bé trai hiện hoàn toàn bình thường. Trước đây đã có các trường hợp trẻ có nguy cơ sinh non khi thai 25 – 26 tuần được kéo dài đến 30 – 31 tuần.
Theo TS Mai Trọng Hưng, thành công trong việc nuôi dưỡng thêm 13 tuần tuổi, tránh sinh cực non không chỉ giúp bé chào đời, phát triển tốt mà góp phần cho khởi đầu xây dựng các phác đồ điều trị mới, nhằm kéo dài thai kỳ trong những trường hợp bệnh lý phức tạp, thai kỳ nguy cơ cao. Vì các bé được sinh ra khi thai ngoài 30 tuần tuổi thì khả năng hoàn thiện về sự phát triển (tim, phổi…) cao. Nếu sinh non và cực non (dưới 27 tuần tuổi) thì sự phát triển của em bé sẽ rất khó khăn.
Đây là một trong những ca kéo dài thai kỳ lâu nhất sau khi đã sinh một thai, tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Thai kỳ thứ hai được duy trì thêm 13 tuần, từ tuần 26 – 38, là trường hợp thành công hiếm gặp tại VN và thế giới.
Khế là loại trái cây quen thuộc ở nhiều vùng nhiệt đới, nổi bật với vị chua ngọt đặc trưng và hình dáng ngôi sao khi được cắt thành từng lát. Không chỉ được dùng trong các món ăn dân dã, khế còn cung cấp nhiều lợi ích cho sức khỏe.
Giá trị dinh dưỡng cao
Hàm lượng dinh dưỡng có trong một quả khế cỡ trung bình (khoảng 91 g) gồm:
Giàu vitamin C, ít calo
Khế cung cấp vitamin C và chất xơ dồi dào. Nó thuộc nhóm trái cây có hàm lượng calo thấp nhưng giàu vitamin và khoáng chất. Một quả khế cỡ trung bình (khoảng 90 g) chỉ chứa khoảng 28 calo nhưng cung cấp hơn một nửa nhu cầu vitamin C hàng ngày của cơ thể. Với hàm lượng calo thấp và giàu dưỡng chất, khế là lựa chọn thích hợp cho người đang giảm cân hoặc duy trì vóc dáng.
Ngoài vitamin C, khế còn chứa chất xơ, folate, kali, magie và một lượng nhỏ vitamin nhóm B. Hàm lượng chất xơ giúp hỗ trợ tiêu hóa, trong khi vitamin C góp phần tăng cường miễn dịch, bảo vệ tế bào khỏi tổn thương do gốc tự do.
Chứa nhiều chất chống oxy hóa
Khế cũng chứa các hợp chất thực vật có hoạt tính sinh học như quercetin, epicatechin và axit gallic. Đây đều là những chất chống oxy hóa có khả năng trung hòa gốc tự do, từ đó giúp giảm tổn thương tế bào. Các hợp chất này có thể góp phần giảm gan nhiễm mỡ, cải thiện cholesterol trong cơ thể và hỗ trợ kiểm soát tình trạng viêm.
Hỗ trợ hệ tiêu hóa
Hàm lượng chất xơ tương đối cao trong khế mang lại nhiều lợi ích. Bổ sung trái cây giàu chất xơ trong chế độ ăn cũng có lợi cho hệ vi sinh đường ruột cũng như sức khỏe tiêu hóa nói chung. Chất xơ giúp tăng khối lượng phân, hỗ trợ nhu động ruột và giảm nguy cơ táo bón.
Một số lưu ý
Loại quả này chứa hàm lượng oxalate khá cao. Ở người mắc suy thận hoặc mắc các bệnh lý thận mạn tính, oxalate có thể tích tụ trong cơ thể, làm tăng nguy cơ tổn thương thận và gây ra các triệu chứng thần kinh như nấc kéo dài, lú lẫn, co giật. Vì vậy, người mắc bệnh thận nên tránh ăn khế hoặc uống nước ép khế nếu chưa có chỉ định của bác sĩ.
Khế có thể ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa một số loại thuốc trong cơ thể, tương tự như bưởi. Điều này làm thay đổi nồng độ thuốc trong máu, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị hoặc làm tăng nguy cơ tác dụng phụ. Người đang sử dụng thuốc điều trị dài ngày nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bổ sung khế thường xuyên vào chế độ ăn.
Khế chín thường có màu vàng, vị ngọt thanh xen lẫn chút chua nhẹ. Sau khi rửa sạch, có thể cắt bỏ hai đầu quả rồi thái ngang thành các lát hình ngôi sao để ăn trực tiếp.
Loại trái cây này cũng thường được dùng trong salad, gỏi, nộm, món cá, hải sản, các món canh chua hoặc chế biến thành mứt, thạch và nước ép. Ăn khế với lượng vừa phải trong chế độ ăn cân bằng có thể giúp đa dạng nguồn dinh dưỡng và bổ sung thêm các hợp chất có lợi cho sức khỏe.
Lá ổi chứa flavonoid, tannin và các chất chống ô xy hóa, mang lại một số lợi ích tiềm năng:
Các hợp chất trong thảo dược như lá ổi có hoạt tính sinh học đáng chú ý, nhưng cần thêm nghiên cứu để khẳng định hiệu quả khi dùng lâu dài, theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ.
Có thể có lợi nếu dùng hợp lý:
Tuy nhiên, không nên lạm dụng lâu dài, vì có thể gây:
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), việc sử dụng thảo dược cần thận trọng, đặc biệt khi dùng thường xuyên hoặc kết hợp với thuốc điều trị.
Chuyên gia dinh dưỡng Joe Leech (Úc) cho biết chiết xuất lá ổi có thể hỗ trợ kiểm soát đường huyết và tiêu hóa, nhưng không nên xem là giải pháp thay thế điều trị y khoa, theo Healthline.
Chuyên gia dinh dưỡng Katherine Marengo (Mỹ) lưu ý rằng các loại trà thảo dược nếu dùng quá mức có thể gây tác dụng phụ, đặc biệt với người có bệnh nền, theo WebMD.
Ngoài ra, việc sử dụng các sản phẩm thảo dược hằng ngày cần được cân nhắc về liều lượng và tương tác thuốc, bởi “tự nhiên” không đồng nghĩa với hoàn toàn an toàn, theo Mayo Clinic.
Uống nước lá ổi có thể mang lại lợi ích nhất định, nhưng không nên uống mỗi ngày trong thời gian dài. Dùng đúng cách mới giúp tận dụng lợi ích mà không gây hại cho sức khỏe, theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ.
Dữ liệu khám sức khỏe sẽ được liên thông lên VNeID
Bộ Y tế vừa ban hành Quyết định số 1551/QĐ-BYT kèm hướng dẫn thu thập, cập nhật và liên thông dữ liệu khám sức khỏe, đồng thời tạo lập, cập nhật Sổ sức khỏe điện tử trên ứng dụng VNeID.
Quyết định có hiệu lực từ ngày 31/5, được xem là bước quan trọng nhằm hoàn thiện Cơ sở dữ liệu sức khỏe cá nhân của người dân trên phạm vi toàn quốc.
Theo hướng dẫn, dữ liệu sức khỏe cá nhân sẽ được hình thành từ hai nguồn chính. Thứ nhất là kết quả khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc do các cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện. Thứ hai là dữ liệu khám, chữa bệnh được Bảo hiểm xã hội Việt Nam chia sẻ.
Việc chia sẻ dữ liệu giữa Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ sở dữ liệu sức khỏe cá nhân của Bộ Y tế sẽ được thực hiện thông qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu của Trung tâm Dữ liệu quốc gia, theo yêu cầu của Bộ Y tế.
Để bảo đảm thông tin chính xác, an toàn và có giá trị sử dụng lâu dài, Bộ Y tế yêu cầu dữ liệu khi kết nối, liên thông phải đầy đủ, chính xác và được ký số. Việc ký số nhằm xác thực nguồn dữ liệu, đồng thời bảo đảm tính toàn vẹn trong quá trình cập nhật và khai thác.
Các cơ sở khám, chữa bệnh có trách nhiệm cập nhật dữ liệu khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc lên hệ thống trong vòng 24 giờ sau khi kết thúc đợt khám. Với những dữ liệu phát sinh trước thời điểm hướng dẫn có hiệu lực, việc đồng bộ lên hệ thống phải hoàn thành trước ngày 15/7/2026.
Giảm thủ tục, tăng tiện ích nhờ hồ sơ sức khỏe điện tử
Từ nguồn dữ liệu được liên thông, Bộ Y tế sẽ chia sẻ thông tin với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để tạo lập và cập nhật Sổ sức khỏe điện tử trên ứng dụng VNeID.
Thông qua ứng dụng này, người dân có thể dễ dàng tra cứu thông tin sức khỏe cá nhân, lịch sử khám chữa bệnh, đồng thời sử dụng dữ liệu thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế.
Theo Bộ Y tế, việc xây dựng hồ sơ sức khỏe điện tử thống nhất không chỉ giúp người dân giảm bớt giấy tờ khi đi khám chữa bệnh mà còn tạo điều kiện để các cơ sở y tế khai thác hiệu quả thông tin sức khỏe đã được lưu trữ. Nhờ đó, bác sĩ có thể nhanh chóng tiếp cận tiền sử bệnh tật, kết quả khám và quá trình điều trị của người bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị.
Về lâu dài, dữ liệu sức khỏe được số hóa và cập nhật liên tục sẽ hỗ trợ theo dõi sức khỏe cá nhân một cách toàn diện, giúp phát hiện sớm các nguy cơ bệnh tật, đồng thời giảm tình trạng thực hiện trùng lặp các xét nghiệm, chẩn đoán tại nhiều cơ sở y tế khác nhau.
Hạ tầng phục vụ chuyển đổi số y tế hiện cũng đang được đẩy mạnh. Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đến nay 100% cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế trên cả nước đã sử dụng căn cước công dân gắn chip trong quy trình tiếp nhận và làm thủ tục khám chữa bệnh.
Hệ thống đã ghi nhận gần 400 triệu lượt tra cứu thông tin thẻ bảo hiểm y tế thành công và tiếp nhận hơn 647 triệu lượt dữ liệu khám chữa bệnh. Trong đó, hơn 254 triệu lượt tra cứu hồ sơ sức khỏe điện tử, giấy chuyển tuyến và giấy hẹn khám lại đã được liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Theo cơ quan chức năng, việc kết nối và chia sẻ dữ liệu không chỉ giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian làm thủ tục khám chữa bệnh mà còn tạo nền tảng cho việc theo dõi, quản lý và chăm sóc sức khỏe người dân một cách liên tục trên môi trường số.