Khi còn đi học phổ thông, tôi gặp rất nhiều khó khăn với môn Vật Lý. Mọi chuyện bắt đầu với quy tắc bàn tay phải, khi tôi thấy thầy vẽ hình lên bảng để giảng mà chẳng hiểu gì.
Để tiếp tục minh họa, thầy lại lấy cái hình mở nút chai rượu vang ra giảng. Tới lúc này thì tôi thật sự là muốn phát khóc, bởi vì tôi có thấy cái chai rượu vang bao giờ.
Khi quả lắc, lò xo, chuyển động thẳng đều, gia tốc, dòng điện xoay chiều, tiêu cự, thấu kính, bước sóng đi vào đời tôi thì tôi đã khổ lại càng khó. Xin nói thẳng luôn là tôi giỏi Toán, ít nhất thì theo lời cô giáo dạy Toán thì tôi “chỉ thua các bạn học sinh giỏi toàn quốc môn Toán”.
Nhưng Vật lý, dù được biểu trưng bằng các phương trình toán học, vẫn ám ảnh tôi suốt mấy năm cấp ba.
Mọi sự chỉ khá lên một chút khi tôi nghe nói về một cô giáo được xem là rất giỏi Vật lý đã mở lớp dạy thêm. Tôi theo học thì quả nhiên là bắt đầu hiểu được chút đỉnh, nhưng vẫn khổ sở vô cùng. Tới mức năm thi tốt nghiệp lớp 12, tôi thi sáu môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tiếng Anh và Ngữ văn mà tôi phải dành gần một nửa thời gian để ôn môn Vật lý, thật khủng khiếp.
Sau này thì tôi vào đại học ngành kỹ sư Hóa. Lúc thi vào tôi cứ đinh ninh là mình sẽ học nhiều về Hóa học, nhưng sau khi đi du học thì tôi mới biết là ngành kỹ sư hóa chủ yếu là thiết kế máy móc cho các quá trình sản xuất Hóa học.
Tức là, tôi được học rất nhiều về Vật lý. Nhiệt động học, thủy động học, cơ học là các ngành khoa học cơ bản của kỹ sư hóa, tới mức ngành học của tôi được dịch ra là ngành “kỹ sư cơ khí hóa học”.
Vậy mà những cơn ác mộng về Vật lý lại không trở về với tôi. Sau năm nhất, tôi về Việt Nam thăm thầy dạy Vật lý ngày trước. Thầy hỏi tôi em học mấy môn nhiệt học, thủy động học thế nào, hồi trước thầy thấy em dở môn Lý lắm mà.
Tôi nhún vai khoe rằng tôi được điểm HD, cao nhất trong thang điểm ở Australia. Thầy chỉ lắc đầu khó tin, còn tôi thì hậm hực nghĩ rằng thầy hồi trước dạy dở quá nên em mới te tua ấy chứ.
Thật ra thì thầy tôi dạy không dở. Chỉ là ở Australia thì chúng tôi học mô men lực xong rồi phải thiết kế mô hình cầu bằng giấy, tự lấy giấy làm ra rồi giáo sư đặt mô hình xe chạy qua coi có sập không.
Học điện thì phải vào phòng lab tự hàn các mối hàn điện tử, nối các bộ phận lại rồi bật công tắc, nếu làm đúng thì đèn cắm trên bảng hàn mới sáng. Học về dòng xoáy của chất lỏng thì chúng tôi phải xem mô hình chân vịt quay trong nước, xem quá trình đẩy khí vào bột để biến thành chất lỏng…
Nói tóm lại là học đi đôi với hành, nên mới hiểu nổi là mình đang học cái gì.
Ở Việt Nam, các môn khoa học tự nhiên dường như vẫn được dạy như cũ, càng lúc càng nâng cao tầm kiến thức và vẫn chẳng có một chút thực hành. Các em học sinh vẫn khổ sở với các phương trình điện xoay chiều, phản ứng oxy hóa khử trong khi cha mẹ các em thì cãi nhau xem học mấy cái đó làm gì, khi học xong rồi lại vứt vào thùng rác.
Việc học rồi lại “vứt vào thùng rác” là có thật. Các bạn có thể đi tìm hiểu những người đã tốt nghiệp đại học các ngành công nghiệp nặng ở Việt Nam xem họ đang làm cái gì. Ngay cả những người “làm đúng ngành” như kỹ sư điện làm cho ngành điện lực, thì cái mà họ làm thường là lắp đặt và sửa chữa máy móc. Hầu như chẳng có kỹ sư nào thiết kế được vật gì từ không thành có (from scratch).
Các bản thiết kế để sản xuất hầu như được làm ở nước ngoài, đưa về tới Việt Nam thì chỉ còn công đoạn lắp đặt rồi đưa vào khai thác. Các kỹ sư nhiều lắm thì chỉ biết sửa chửa chút đỉnh khi có vấn đề, vì vậy mấy chục năm rồi mà mối tâm tình với Toán Lý Hóa của những người là kỹ sư cũng vẫn cứ như vậy thôi.
Các em học sinh cần phải biết rằng, xà bông được tạo ra từ một phản ứng giữa chất béo và kiềm, và bản chất của xà bông là một loại muối, và tốt nhất là các em ấy được đi “nấu xà bông” để hiểu được.
Còn bán dẫn thì nguyên tắc vật lý nền tảng là dòng điện tạo ra do các lổ hổng trên vật liệu (như silicon, germanium) hoạt động như các positron. Chừng nào các em chưa được nhìn thấy silicon hay germanium thì cha mẹ của các em sẽ vẫn còn bài trừ từ Toán học, Vật lý tới Hóa học.
Nhưng hễ con em của họ không vào đựơc cấp ba, không được học những thứ “vứt đi đó”, thì họ lại kêu khóc khắp nơi, đăng đàn than thở, kêu gọi xây thêm trường, tự hỏi tương lai các em sẽ đi về đâu…
Con tôi đang học tiểu học ở một trường tư chất lượng cao tại Hà Nội. Suốt mấy năm qua, tôi hầu như chưa từng nghe phụ huynh trong lớp bàn chuyện tìm thầy cô để con học thêm. Các giáo viên ở trường cũng rất hiếm khi mở lớp ngoài giờ. Theo những gì tôi quan sát và trao đổi, họ dành gần như toàn bộ thời gian và sức lực cho việc dạy học sinh ngay tại trường. Hết giờ lên lớp là chấm bài, chuẩn bị giáo án, tổ chức hoạt động, trao đổi với phụ huynh... Công việc đã kín lịch nên cũng chẳng còn thời gian để dạy thêm.
Trong bối cảnh đó, các học sinh vẫn học rất tốt. Con tôi vẫn theo kịp chương trình, không hề bị hổng kiến thức. Thậm chí, năm nào con cũng tham gia và đạt giải ở các kỳ thi Olympic quốc tế Toán và Tiếng Anh. Tôi không dám khẳng định con mình xuất sắc hơn ai, nhưng rõ ràng việc không học thêm không đồng nghĩa với việc học kém.
Trong khi đó, con một người bạn thân của tôi học tại một trường tiểu học công lập. Lịch học của cháu khiến tôi thấy thương. Hết giờ học chính khóa, cháu phải đến lớp học thêm Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh. Có những ngày 8-9 giờ tối hai mẹ con mới về đến nhà, ăn vội bữa cơm rồi lại làm bài tập. Cuối tuần, lịch học thêm của cháu cũng gần như kín mít.
Tôi từng hỏi bạn sao không cho con nghỉ bớt? Bạn chỉ cười: "Cả lớp đều học thêm, nếu con mình không học thì sợ không theo kịp". Nếu việc học thêm là để bồi dưỡng học sinh có nhu cầu đặc biệt hoặc phát triển năng khiếu thì tôi hoàn toàn ủng hộ. Nhưng khi học thêm trở thành điều gần như bắt buộc chỉ vì "ai cũng học", thì có lẽ chúng ta cần xem lại.
>> Con học thêm bây giờ khác xa tôi ngày trước
Điều tôi chưa hiểu là vì sao cùng học chương trình tiểu học nhưng học sinh ở nhiều trường tư có thể chỉ học trên lớp vẫn đáp ứng được yêu cầu, còn không ít học sinh trường công lại phải học thêm gần như tất cả các môn? Có phải chương trình hiện nay quá nặng, thời lượng trên lớp không đủ để giáo viên truyền đạt hết kiến thức? Hay sĩ số lớp đông khiến giáo viên khó quan tâm từng học sinh? Hay áp lực thành tích và thi cử khiến phụ huynh luôn cảm thấy con cần học nhiều hơn? Hoặc cũng có thể cách tổ chức dạy học giữa các trường đang có sự khác biệt rất lớn.
Tôi biết rất nhiều thầy cô ở trường công phải dạy số lượng học sinh đông hơn nhiều so với trường tư, áp lực công việc cũng lớn hơn. Trong điều kiện đó, việc cá thể hóa việc học cho từng em là vô cùng khó. Nhưng nếu một đứa trẻ chỉ có thể học tốt khi dành gần như toàn bộ thời gian ngoài giờ để học thêm, thì rõ ràng đó không phải là trạng thái giáo dục lý tưởng.
Điều tôi mong nhất là học sinh có thể tiếp thu toàn bộ kiến thức ngay trong giờ học chính khóa. Sau giờ học, các con nên có thời gian vui chơi, đọc sách, vận động, trò chuyện với gia đình và lớn lên đúng với tuổi thơ của mình. Nếu có những trường làm được việc học hiệu quả ngay trên lớp như trường của con tôi, thì vì sao điều đó vẫn chưa trở thành điều bình thường ở nhiều nơi khác?
"Tôi hiện sở hữu cả căn hộ chung cư và nhà mặt đất trong hẻm Sài Gòn. Nhiều người nghĩ có điều kiện như vậy thì chắc tôi sẽ chọn ở chung cư vì hiện đại, tiện nghi và văn minh hơn. Nhưng thực tế, sau khi trải nghiệm cả hai, tôi lại quyết định quay về sống trong căn nhà mặt đất nằm ở cuối một con hẻm nhỏ.
Nhà tôi không nằm ngoài mặt tiền. Từ hẻm chính, nơi hai xe máy có thể tránh nhau, phải đi thêm một đoạn ngách dài khoảng chục mét, chỉ đủ một xe máy lưu thông, mới tới cửa nhà. Với nhiều người, đó là nhược điểm. Nhưng với tôi, đó lại là điều khiến mình yêu thích nơi ở này.
Ở cuối ngách nên nhà tôi gần như không có người qua lại, không tiếng xe cộ, không cảnh người lạ thường xuyên nhìn vào nhà. Không gian yên tĩnh, kín đáo nên tôi có cảm giác an toàn hơn. Sau một ngày làm việc, tôi thích được trở về một nơi ít bị làm phiền hơn là sống giữa dòng người ra vào liên tục.
Trước đây, tôi cũng từng chuyển đến ở chung cư một thời gian. Không thể phủ nhận những ưu điểm của mô hình nhà ở này như hệ thống quản lý chuyên nghiệp, tiện ích đồng bộ, không gian sạch sẽ và hiện đại. Tuy nhiên, điều khiến tôi không thoải mái nhất là sự phụ thuộc vào các quy trình chung.
Mỗi lần muốn ra ngoài, tôi phải xuống thang máy, đi lấy xe ở tầng hầm rồi mới bắt đầu công việc. Khi lặp lại hàng ngày, tôi mất khá nhiều thời gian cho những thao tác đó. Có những lúc cần đi mua một món đồ, giải quyết một việc gấp hoặc đơn giản là ra ngoài vài phút, tôi cảm thấy bất tiện hơn rất nhiều so với nhà mặt đất.
>> Tôi bán nhà đất 5 tỷ để mua chung cư 6,5 tỷ Sài Gòn
Trong khi đó, tại căn nhà trong hẻm đang ở, tôi chỉ cần mở cửa, lấy xe và ra ngoài. Trong cùng một khoảng thời gian, nếu ở chung cư có khi tôi mới vừa lấy được xe thì ở nhà mặt đất tôi đã xong việc và quay về. Với người coi trọng sự chủ động như tôi, đó là một khác biệt đáng kể.
Căn nhà của tôi cũng không quá rộng, chỉ hơn 100 m2, nhưng có sân để xe, có ban công trồng hoa và có khoảng không riêng để tôi làm những điều mình thích. Cảm giác được tự do sửa sang, bố trí không gian sống theo ý mình là điều mà tôi chưa tìm thấy khi ở chung cư.
Tôi cũng không đồng tình với quan điểm cho rằng 'chung cư luôn tốt hơn nhà mặt đất' hoặc ngược lại. Mỗi loại hình nhà ở đều có ưu điểm và hạn chế riêng. Thậm chí, việc đem so sánh một chung cư mới xây với một căn nhà cũ kỹ trong hẻm sâu cũng là khập khiễng. Ngay cả hai dự án chung cư cách nhau 10 năm xây dựng đã có rất nhiều khác biệt về chất lượng và tiện ích.
Tương tự, nhiều người cho rằng nhà trong hẻm luôn tiềm ẩn rủi ro về an toàn. Nhưng ở góc nhìn của tôi, nguy cơ cháy nổ không chỉ tồn tại ở nhà mặt đất. Một đám cháy xảy ra ở tầng dưới của chung cư cao tầng cũng có thể khiến việc thoát hiểm trở nên vô cùng khó khăn.
Sau cùng, nơi ở tốt nhất không phải là chung cư hay nhà mặt đất, mà là nơi phù hợp với nhu cầu, thói quen và khả năng tài chính của mỗi người. Người này thấy bất tiện nhưng người khác lại thấy thoải mái. Với tôi, hợp nơi nào thì cứ ở nơi đó. Còn chuyện mua bán, theo tôi, bất động sản nào nếu được định giá hợp lý cũng sẽ có người mua. Chỉ khi chủ nhà hoặc chủ căn hộ kỳ vọng quá xa giá trị thực thì mới khó bán. Nhà mặt đất hay chung cư, xét cho cùng, đều tuân theo quy luật đó".
Đó là quan điểm của độc giả Annhien xung quanh những tranh luận về việc "nên lựa chọn ở chung cư hay nhà mặt đất?". Theo báo cáo thị trường bất động sản những năm gần đây, căn hộ chung cư đang chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nguồn cung nhà ở tại Hà Nội và TP HCM, trong khi quỹ đất dành cho nhà ở thấp tầng ngày càng khan hiếm. Tại nhiều khu vực trung tâm, giá nhà mặt đất đã tăng lên mức vượt quá khả năng tiếp cận của phần lớn người dân, khiến chung cư trở thành lựa chọn phổ biến của các gia đình trẻ.
Tuy nhiên, cùng với xu hướng dịch chuyển lên các tòa nhà cao tầng, những tranh luận về chất lượng sống giữa chung cư và nhà mặt đất vẫn diễn ra sôi nổi. Người đề cao tiện ích, an ninh và môi trường sống hiện đại của chung cư, trong khi nhiều người khác vẫn ưu tiên sự riêng tư, chủ động và cảm giác tự do của nhà mặt đất.
Mỗi năm, khi tiếng trống bế giảng trường con vang lên cũng là lúc vợ chồng tôi bước vào một cuộc tranh luận quen thuộc: ai sẽ trông con suốt ba tháng hè? Người ngoài thường nghĩ nghỉ hè là khoảng thời gian đẹp nhất của tuổi thơ sau một năm học căng thẳng. Nhưng với nhiều gia đình trẻ ở thành phố như tôi, mùa hè đôi khi lại là áp lực âm thầm kéo theo mệt mỏi, tranh cãi và cảm giác bất lực.
Gia đình tôi có hai con, một bé 12 tuổi và một bé 7 tuổi. Vợ chồng đều làm giờ hành chính, không thể nghỉ dài ngày. Để con ở nhà một mình thì không yên tâm, mà thuê người trông trẻ cả ngày là khoản chi quá lớn. Còn để con suốt ngày ôm điện thoại, TV thì càng đáng lo hơn. Cuối cùng, như rất nhiều gia đình khác, chúng tôi thường chọn cách đưa con về quê cho ông bà chăm sóc trong dịp hè.
Nhiều năm liền, tôi từng nghĩ đó là giải pháp hợp lý. Ông bà ở quê có cháu cũng đỡ cô đơn. Mỗi lần nghe tin các cháu sắp về nghỉ hè, mẹ tôi lại tất bật dọn phòng, đi chợ mua đồ ăn ngon rồi khoe với hàng xóm rằng nhà sắp đông vui. Nhưng niềm vui ấy không kéo dài được lâu như tôi tưởng.
Hè năm ngoái, chỉ sau vài tuần đầu hào hứng, tôi nhận ra bố mẹ bắt đầu mệt mỏi. Hai đứa trẻ nhà tôi vốn quen sống trong căn hộ thành phố với điều hòa, wifi và điện thoại, gần như không thích nghi nổi với nhịp sống ở quê. Chúng thức khuya, ngủ nướng, cãi nhau suốt ngày. Phần lớn thời gian, chúng cắm mặt vào điện thoại để xem video, chơi game hoặc lướt web.
>> Gánh nặng chăm cháu nghỉ hè của ông bà ở quê
Tôi nhiều lần gọi điện nhắc con phải giúp quét sân, nhặt rau, rửa bát hay ít nhất là ngồi nói chuyện với ông bà vài phút. Nhưng những lời dặn dò từ xa nhanh chóng biến mất sau khi cuộc gọi kết thúc. Chỉ khi ông bà nghiêm khắc nhắc nhở, các con mới miễn cưỡng làm. Lúc đó tôi mới nhận ra, không phải cứ đưa con về quê là trẻ sẽ tự động sống tình cảm hơn hay hiểu giá trị gia đình hơn.
Nhiều phụ huynh đang lãng mạn hóa tuổi thơ ở quê như một "liều thuốc chữa lành" cho trẻ em thành phố. Nhưng khoảng cách thế hệ và lối sống hiện đại khiến điều đó ngày càng khó xảy ra. Ông bà bây giờ cũng không còn đủ sức khỏe để trở thành "bảo mẫu miễn phí" cho con cháu suốt ba tháng hè. Nhiều người đã ngoài 70 tuổi, đau lưng, mất ngủ, huyết áp cao nhưng vẫn phải dậy sớm nấu ăn, dọn dẹp và chạy theo những đứa trẻ hiếu động. Có người thương con cháu nên không than phiền, nhưng sự mệt mỏi hiện rõ trong giọng nói và dáng đi của họ.
Trong khi đó, nhiều phụ huynh thành phố đôi khi vô tình xem việc gửi con về quê như một cách "giải phóng trách nhiệm" mùa hè. Chúng ta tự an ủi rằng trẻ được gần gũi thiên nhiên, tránh xa áp lực học hành, nhưng thực tế nhiều đứa trẻ chỉ đổi từ chiếc sofa ở thành phố sang chiếc võng ở quê để tiếp tục dán mắt vào màn hình điện thoại.
Thực tế, mùa hè của trẻ em Việt Nam đang thiếu định hướng. Một số người bắt con học thêm triền miên vì sợ bị tụt lại, số khác để con trải qua ba tháng hè buông thả với điện thoại và Internet. Dường như, chúng ta chưa thật sự tạo ra được một mùa hè đúng nghĩa cho trẻ: vừa nghỉ ngơi, vừa trưởng thành.
Nhiều gia đình như tôi rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan: không cho con về quê thì không ai trông. Còn cho về quê lại sợ ông bà quá tải và con sống thiếu kỷ luật. Điều đó phản ánh khoảng trống trong việc chăm sóc trẻ ngoài thời gian học chính khóa ở đô thị hiện nay.
Năm nay, sau nhiều suy nghĩ, tôi quyết định không gửi hai con về quê suốt ba tháng hè như trước nữa. Thay vào đó, tôi đăng ký cho các con tham gia một khóa trại hè ngắn ngày và cố gắng sắp xếp thời gian ở bên con nhiều hơn. Tình yêu gia đình không thể được xây dựng bằng sự phó mặc. Tôi không muốn ông bà kiệt sức trong vai trò giữ trẻ, cũng không muốn tuổi thơ của các con trôi qua chỉ với những ngày vô định.
Ở nhiều nước, trẻ em có rất nhiều lựa chọn mùa hè: thư viện cộng đồng, trại kỹ năng, hoạt động thể thao, lớp nghệ thuật hay các chương trình thiện nguyện. Tuy nhiên, tại Việt Nam, không phải gia đình nào cũng đủ điều kiện cho con tham gia các khóa hè đắt đỏ ấy. Với tầng lớp lao động và công chức bình thường, mùa hè của con đôi khi chỉ được giải quyết bằng hai chữ "xoay xở".
Một mùa hè ý nghĩa là khi con trẻ biết tự lập hơn, biết quan tâm người khác hơn và hiểu rằng nghỉ hè không đồng nghĩa với sống vô trách nhiệm. Vì thế, trẻ em không chỉ cần một nơi để được "giữ hộ" trong ba tháng nghỉ hè. Chúng cần sự hiện diện thật sự của gia đình và những trải nghiệm giúp chúng trưởng thành thay vì chỉ lớn thêm một tuổi sau mỗi mùa hè đi qua.