Tại Trường tiểu học Đống Đa (P.Tân Hòa, TP.HCM), cụm chuyên môn 3 tổ chức tiết dạy minh họa môn khoa học lớp 5 và báo cáo chuyên đề “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong dạy học”.
Được biết, sau sáp nhập, vận hành chính quyền 2 cấp, không còn phòng GD-ĐT các quận, huyện, ngành giáo dục thành phố phân chia các trường ở các cấp học thành 16 cụm quản lý chuyên môn. Trong đó, cụm chuyên môn 3 bao gồm các trường học tại các phường như Tây Thạnh, Tân Sơn Nhì, Phú Thọ Hòa, Tân Phú, Phú Thạnh (quận Tân Phú cũ); phường Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhất, Tân Hòa, Bảy Hiền, Tân Bình, Tân Sơn (quận Tân Bình cũ).
Tại hoạt động chuyên môn của cụm chuyên 3 tổ chức sáng nay, thực hiện tiết dạy minh họa môn khoa học lớp 5 với nội dung các giai đoạn phát triển của con người, cô Nguyễn Thị Hòa, giáo viên lớp 5/4, Trường tiểu học Đống Đa, đã khởi động học sinh bằng trò chơi “mảnh ghép bí ẩn”.
Lớp học chia thành nhiều nhóm, lần lượt các nhóm lật các mảnh ghép trên màn hình để trả lời các câu hỏi đuổi hình bắt chữ, nghe nhạc đoán tên bài hát… Sau khi hoàn thành các mảnh ghép, màn hình hiện ra bức tranh hoàn chỉnh về các giai đoạn phát triển của con người.
Bên cạnh đó, học sinh còn tham gia nhiều hoạt động như quét mã QR chơi game để tìm hiểu kiến thức, thực hiện phiếu bài tập cá nhân, thuyết trình sản phẩm học tập cá nhân… Học sinh lần lượt trải nghiệm các góc học tập gồm: Góc đọc (đọc văn bản giấy hoặc sách điện tử), Góc quan sát (xem phim ngắn), Góc trải nghiệm (chơi trò chơi trực tuyến) và Góc chuyên gia (hỏi trợ lý ảo về nội dung bài học).
Tại “Góc chuyên gia”, một học sinh lớp 5/4, cho biết: “Em đã sử dụng ChatGPT từ cuối năm học lớp 4 để tìm kiếm thông tin và đối chiếu đáp án khi làm bài tập. Ngoài ra, em cũng sử dụng công cụ Gemini, trợ lý ảo của Google, để làm sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức bài học”.
Sau tiết dạy minh họa, cán bộ quản lý và giáo viên các trường tiểu học của cụm chuyên môn 3 đã chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học.
Chia sẻ kinh nghiệm sau tiết dạy, cô Nguyễn Thị Hòa cho biết để học sinh sử dụng “mượt mà” các công cụ AI và thiết bị công nghệ (như máy tính, ipad), giáo viên và học sinh cần được nhà trường tạo điều kiện tiếp cận từ trang thiết bị, đường truyền internet, năng lực chuyên môn. Ngoài ra, còn thêm các hoạt động lồng ghép khác như học tập trên thư viện số, đưa nội dung giáo dục AI vào dạy học cho học sinh phổ thông, dạy học tin học theo chuẩn quốc tế…
Tham luận chuyên đề “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học”, giáo viên Bùi Thị Thu Hà, Trường tiểu học Đống Đa chia sẻ công cụ AI giúp giáo viên tiết kiệm nhiều thời gian thông qua việc hỗ trợ thiết kế bài dạy, tạo hệ thống câu hỏi kiểm tra, thiết kế hình ảnh và học liệu. Ngoài ra, ứng dụng AI còn giúp phân bổ bài tập phù hợp với khả năng tiếp nhận kiến thức của từng nhóm đối tượng học sinh; tạo môi trường học tập tương tác sôi nổi thông qua trò chơi; đánh giá sát năng lực thực tế của học sinh.
Tuy nhiên, các giáo viên cũng cho rằng cần sử dụng AI đúng mục đích. Giáo viên phải là người tổ chức, dẫn dắt lớp học, dành thời gian quan tâm, tương tác với học sinh. Đặc biệt, các thầy cô phải kiểm soát nội dung, đảm bảo tính chính xác, kiến thức phù hợp lứa tuổi học sinh bởi AI có thể cung cấp thông tin sai lệch.
Tham dự tại buổi báo cáo của cụm chuyên môn 3, ông Lưu Phương Thanh Bình, chuyên viên Phòng Giáo dục phổ thông Sở GD-ĐT TP.HCM, nhận định, ứng dụng AI vào dạy học là một trong những nội dung triển khai của mô hình trường học chất lượng cao, tiên tiến, hội nhập.
Tuy nhiên, việc ứng dụng AI cần phù hợp điều kiện thực tế của từng trường về cơ sở vật chất, năng lực giáo viên, khả năng tiếp nhận của học sinh; phù hợp nội dung bài học, môn học, đảm bảo thời lượng chương trình; sử dụng đồng thời nhiều phương pháp đổi mới dạy học, không nên lạm dụng AI, không để AI làm thay vai trò của giáo viên.
Ngày 19-4, Trường THCS-THPT Trí Đức tổ chức hội thảo "Định hướng lộ trình học tập bậc THPT và đại học trong bối cảnh kỷ nguyên số", nhằm giúp phụ huynh có con đang học THCS có thêm thông tin để đồng hành cùng con khi bước vào cấp 3.
ThS Thái Doãn Nguyên - Phó hiệu trưởng Trường đại học Hoa Sen - cho rằng trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, lựa chọn tổ hợp môn từ lớp 10 có tác động lớn đến ba năm phổ thông. Học sinh cần chọn dựa trên năng lực, mức độ hứng thú và khả năng theo đuổi lâu dài.
Theo ông, yếu tố cốt lõi vẫn là năng lực tổng thể của học sinh, bao gồm khả năng học tập, thích nghi và môi trường rèn luyện. Trong đó, ba nhóm năng lực cần được chú trọng là tư duy phản biện, năng lực ngoại ngữ và năng lực số.
Đặc biệt trong môi trường THPT, ông cho rằng học sinh nên tận dụng tối đa để rèn luyện các kỹ năng nền tảng như khả năng "vượt khó", bao gồm sự năng động, kỹ năng lập kế hoạch và kiểm soát cảm xúc…
Nhờ đó, học sinh có thể duy trì được sự ổn định và tiến bộ trong nhiều môi trường học tập và làm việc sau này.
"Phụ huynh nên tạo điều kiện rèn luyện ở nhà cho con để có thể đi song song với môi trường trong nhà trường. Chẳng hạn nếu muốn con rèn luyện tư duy phản biện, ở nhà không thể bắt con nói gì nghe đó. Hãy thử cho con biết đưa ra ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình.
Tương tự với kỹ năng số. Thay vì cấm con dùng điện thoại, nên khuyến khích con dùng điện thoại để học những kỹ năng số một cách hữu ích chứ không chỉ lướt mạng hay chơi game", ông nói.
PGS.TS Nguyễn Đình Tuyên - Phó trưởng phòng đào tạo Trường đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP.HCM) - lưu ý với những học sinh có định hướng theo các lĩnh vực công nghệ - kỹ thuật, học sinh nên đầu tư vào môn toán.
Toán hiện giữ vai trò nền tảng trong việc rèn luyện tư duy logic và khả năng giải quyết vấn đề, đồng thời là cơ sở để tiếp cận các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu hay kỹ thuật.
"Toán cũng là môn chiếm phần quan trọng trong hầu hết các kỳ thi, từ kỳ thi tốt nghiệp THPT, kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia TP.HCM đến các bài thi chuẩn hóa quốc tế như SAT, vì vậy cần được đầu tư rất nghiêm túc", ông Tuyên nói.
Ngoài toán, ông Tuyên cho rằng những học sinh có định hướng học ngành công nghệ - kỹ thuật nên trang bị kiến thức tin học cơ bản ngay từ bậc THPT.
TS Lê Thị Phương - Phó trưởng phòng truyền thông và thương hiệu Trường đại học Khoa học sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM - cho rằng ba năm THPT cần được xem là giai đoạn để học sinh nhận diện nghề nghiệp một cách nghiêm túc và có hệ thống.
Theo bà, lựa chọn ngành nghề cần đặt trong sự kết hợp giữa sở thích, năng lực cá nhân và nhu cầu của xã hội.
Học sinh nên chủ động quan sát bản thân, đồng thời tìm hiểu ngành nghề qua nhiều kênh như tham quan thực tế, đọc sách báo, tiếp cận thông tin chính thống hoặc lắng nghe chia sẻ từ những người đi trước.
"Phụ huynh nên đồng hành, tạo điều kiện để con có đủ thông tin và trải nghiệm nghề nghiệp trong nhiều môi trường, gặp gỡ tham khảo ý kiến nhiều người… trước khi cùng con đưa ra quyết định", bà Phương nói.
ThS Phạm Xuân Trường - Trưởng phòng tư vấn tuyển sinh RMIT University Vietnam - cho rằng với những học sinh có kế hoạch du học và "săn" học bổng, quá trình chuẩn bị nên bắt đầu từ sớm, ngay khi bước vào THPT.
Theo ông, các trường đại học quốc tế đánh giá cao một hồ sơ có "câu chuyện" rõ ràng, thể hiện hành trình phát triển của học sinh qua thời gian. Hồ sơ cần cho thấy học sinh đã học được gì, tham gia những hoạt động nào và có đóng góp ra sao cho cộng đồng.
Vì vậy, học sinh nên tận dụng ba năm cấp 3 để xây dựng hành trình này một cách có định hướng, thông qua việc tham gia các hoạt động học thuật, dự án cộng đồng hoặc trải nghiệm thực tế phù hợp với sở thích và mục tiêu.
"Một hành trình được đầu tư liên tục sẽ giúp hồ sơ trở nên thuyết phục hơn trong mắt các trường đại học quốc tế", ông Trường nói.
Câu trả lời không đến từ may mắn hay xuất phát điểm thuận lợi, mà từ 5 hành trang mà bất kỳ bạn trẻ nào cũng có thể tự trang bị cho mình.
Không phải ngành "hot", không có sẵn học bổng, không có mạng lưới quan hệ quốc tế, nhưng câu chuyện của một trong những cựu thủ khoa của Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho thấy con đường du học tự thân vẫn rộng mở với những ai biết chuẩn bị đúng cách.
Hành trình ấy bắt đầu từ chính những gì ở bên trong mỗi người: từ ý chí, từ những hành động nhỏ tích lũy hằng ngày, từ chiến lược dài hạn đến bản lĩnh vượt qua thất bại.
Hành trang đầu tiên - và thường bị bỏ qua nhất - là ý thức du học đủ mạnh. Đó không phải là cảm giác thích thú nhất thời, mà là khát vọng âm ỉ không bị dập tắt dù gặp bất kỳ tác động nào từ bên ngoài: một cơ hội việc làm hấp dẫn trong nước, hoàn cảnh gia đình hay thậm chí một tình yêu mới chớm nở. Khi khát vọng ấy đủ lớn, những lựa chọn khác tự nhiên trở nên nhỏ lại.
Song song với ý chí, hành trang thứ hai là những hành động nhỏ được tích lũy đều đặn. Từ thời phổ thông đến đại học, các hoạt động lãnh đạo, nghiên cứu khoa học và kết nối cộng đồng chính là nơi rèn giũa năng lực tổ chức, tư duy chủ động và bản lĩnh thích nghi - những yếu tố quyết định khả năng tồn tại trong môi trường quốc tế sau này.
Bản thân tôi từng đảm nhiệm vai trò lớp trưởng năm đó với gần 100 bạn cùng khóa, điều hành câu lạc bộ nghiên cứu khoa học, đồng thời tự đề xuất và vận hành câu lạc bộ tiếng Anh cho khoa - vào những năm đầu 2000, khi khái niệm networking hay dự án sinh viên còn rất mới mẻ.
Ngoài ra, tôi còn tham gia gần như mọi cuộc thi nghiên cứu khoa học cấp trường và cấp bộ trong suốt 4 năm đại học. Không phải để làm đẹp hồ sơ, mà vì chính quá trình đó xây dựng nền tảng năng lực thật sự.
Khi ý chí và năng lực đã đủ vững, hành trang thứ ba là chiến lược du học gắn với con đường nghề nghiệp dài hạn. Nhiều bạn trẻ nghĩ rào cản lớn nhất là tài chính, nhưng thực tế điều khó hơn là xác định đúng hướng chuyên môn và vị trí nghề nghiệp muốn hướng tới trong 10 năm tới: mình muốn trở thành ai, làm việc trong lĩnh vực nào, cần năng lực cốt lõi gì và môi trường nào phù hợp nhất. Từ đó mới chọn chương trình học, quốc gia và nguồn tài trợ tương ứng.
Ngày nay, khi nhiều ngành nghề có thể nhanh chóng bị thay thế bởi trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ mới, việc xác định định hướng dài hạn trước khi "săn học bổng" càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Ngay cả khi đã có chiến lược, bước vào môi trường quốc tế đòi hỏi hành trang thứ tư: khả năng trình diễn tiềm năng bản thân.
Giáo sư hướng dẫn tiến sĩ từng chia sẻ điều tôi gây ấn tượng nhất với ông khi ấy không phải bảng điểm hay thành tích cũ, mà là "ngọn lửa khát vọng rất mạnh" thể hiện qua khả năng thích ứng cực kỳ nhanh - chỉ một tuần để bắt nhịp môi trường mới và hoàn thiện phong cách làm việc theo chuẩn chuyên nghiệp.
Mỗi quốc gia có tiêu chí đánh giá khác nhau, nhưng điểm chung là: tư duy độc lập, khả năng hợp tác và hình ảnh chuyên nghiệp luôn tạo ra sự khác biệt.
Hành trang cuối cùng - và có lẽ là quyết định nhất - là kiên trì và nội lực. Có những giai đoạn, mỗi ngày tôi gửi 2 - 3 bộ hồ sơ đến các trường, giáo sư và chương trình học bổng khác nhau. Phần lớn nhận lại là email từ chối hoặc sự im lặng.
Nội lực ở đây không phải là cố tỏ ra mạnh mẽ, mà là học cách chấp nhận thất bại như một phần tự nhiên của hành trình, đủ bình tĩnh để phân tích nguyên nhân và tiếp tục điều chỉnh. Đôi khi, chỉ một người đồng hành với góc nhìn đúng cũng có thể giúp một người trẻ đi tiếp thay vì bỏ cuộc quá sớm.
Hôm nay 23.5, Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng đã công bố đề tham khảo bài thi đánh giá năng lực phục vụ tuyển sinh đại học, cao đẳng khối trường quân đội (QDA) năm 2026. Đề bài thi QDA được xây dựng theo hướng đánh giá các năng lực cốt lõi của học sinh THPT đạt được theo chương trình giáo dục phổ thông ban hành năm 2018 của Bộ GD-ĐT.
Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng cho biết, thông qua nội dung chương trình giáo dục phổ thông, bài thi đánh giá các năng lực thuộc 3 nhóm năng lực cốt lõi: giải quyết vấn đề và sáng tạo; giao tiếp và hợp tác; tự chủ và tự học, tìm hiểu, khám phá, vận dụng kiến thức khoa học tự nhiên và/hoặc khoa học xã hội và một số năng lực đặc thù.
Bài thi gồm 3 phần, tổng điểm 150, tổng thời gian làm bài 159 phút (không tính thời gian hướng dẫn và chuyển đổi giữa các phần thi, trường hợp có câu hỏi thử nghiệm, bài thi sẽ được cộng thêm thời gian tương ứng nhưng không kéo dài quá 5 phút).
Điểm bài thi được xác định dựa trên tổng số câu trả lời đúng, độ khó, độ phân biệt của mỗi câu hỏi. Câu trả lời sai hoặc không trả lời không được tính điểm. Bảng điểm bao gồm điểm tổng và điểm của 3 phần thi. Thí sinh làm bài thi trực tiếp trên máy tính tại các phòng thi tiêu chuẩn. Điểm của bài thi được chấm tự động bằng phần mềm tổ chức thi.
Phần 1 là toán học và xử lý số liệu/tư duy định lượng, thời gian 80 phút, gồm 50 câu hỏi (chưa bao gồm câu hỏi thử nghiệm không tính điểm), thang điểm 50. Trong đó, 35 câu hỏi trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn và 15 câu hỏi điền đáp án, có tối thiểu 1 chùm câu hỏi gồm 1 ngữ cảnh đi kèm 3 câu hỏi.
Phần 2 là văn học - ngôn ngữ/tư duy định tính, thời gian làm bài 55 phút, gồm 50 câu hỏi (chưa bao gồm câu hỏi thử nghiệm không tính điểm), thang điểm 50. Dạng thức câu hỏi là trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn, trong đó có 25 câu hỏi đơn và 5 chùm câu hỏi gồm 1 ngữ cảnh đi kèm 5 câu hỏi.
Phần 3 là tự chọn giữa khoa học hoặc tiếng Anh (trong phần khoa học cũng được chọn trong 4 mã bài thi), thời gian làm bài 60 phút, gồm 50 câu hỏi (chưa bao gồm câu hỏi thử nghiệm không tính điểm), tổng điểm 50. Câu hỏi là dạng trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn và điền đáp án.
Thí sinh lựa chọn thi một trong các mã bài thi trong bảng dưới đây:
Đối với lựa chọn khoa học ở phần thi thứ 3, thí sinh chọn 1 trong 4 mã bài thi: QĐ01, QĐ02, QĐ03 và QĐ04. Mỗi môn thi trong 4 mã này có 25 câu hỏi. Trong đó, có các câu hỏi đơn và từ 1 đến 3 chùm câu hỏi gồm 1 ngữ cảnh đi kèm 3 câu hỏi. Các môn khoa học tự nhiên đều có tối thiểu 1 câu hỏi điền đáp án/môn.
Đối với lựa chọn tiếng Anh ở phần thi thứ 3, thí sinh làm mã bài thi QĐ05 gồm 50 câu hỏi trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn, trong đó có 35 câu hỏi đơn và 3 chùm câu hỏi gồm 1 ngữ cảnh đi kèm 5 câu hỏi về từ vựng, ngữ pháp, diễn đạt trong văn bản viết, đọc hiểu văn bản, tình huống…
Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng cũng cho biết, độ khó của các phần thi toán học và xử lý số liệu, văn học - ngôn ngữ, khoa học tăng dần từ cấp độ 1 đến cấp độ 3 và được phân định theo tỷ lệ: cấp độ 1 là 20%, cấp độ 2 là 60% và cấp độ 3 là 20%.
Còn độ khó của phần thi tiếng Anh gồm 4 cấp độ (bậc 2, bậc 3, bậc 4, bậc 5) theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam, tương đương bậc A2, B1, B2 và C1 theo khung tham chiếu chung châu Âu. Tỷ lệ các bậc này cụ thể như sau: bậc 2 là 25%, bậc 3 là 35%, bậc 4 là 35%, bậc 5 là 5%.
Nhìn chung, nội dung bài thi được phân bổ như sau theo chương trình THPT: lớp 10 khoảng 10%, lớp 11 khoảng 30%, lớp 12 khoảng 60%. Các môn thi vật lý, sinh học có thể thay đổi trong khoảng 5% theo phân bố chương trình giữa các lớp.
Phần thi tiếng Anh kiến thức trong chương trình lớp 12 chiếm khoảng 45%; kiến thức tổng hợp, vận dụng bậc cao trong chương trình khoảng 15%.
Hàng năm, số câu hỏi được rà soát, bổ sung, thay thế mới tối thiểu 15%.
Xem đề cương chi tiết đề thi của bài thi QDA ở đây.